Hoa Thịnh Đồn.- Đảng CSVN vừa diễn xong màn chót của Vở kịch bầu bán
3 Chức danh Lãnh đạo cáo nhất: Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Nước và Thủ
tướng Chính phủ.
Truớc
ngày bỏ phiếu (27-6-06), một số Đại biểu Quốc hội đưa ý kiến: Nên có
hơn Một ứng viên cho mỗi Chức danh để Quốc hội lựa chọn; Người được đề
cử phải trình bành Chương trình, kế hoạch làm việc của mình để Quốc hội
so sánh. Ứng viên phải kê khai Tài sản và trả lời chất vấn trước Quốc
hội trước khi bỏ phiếu v.v…
Tất cả, ngoại trừ việc “nói” là có
khai Tài sản nhưng không công bố cho ai biết, đã không xẩy ra như yêu
cầu và được dư luận ở Việt Nam hưởng ứng.
Ngoài ba Ủy viên Bộ
Chính trị được Trung ương Đảng đề nghị, không có ai “dám” ra ứng cử, kể
cả những Đại biểu Quốc hội nói hăng nhất về quyền bầu cử và ứng cử !
Tất cả đều im phăng phắc và nghiêm chỉnh thi hành “quyền được bỏ phiếu”.
Kết
qủa Nguyễn Phú Trọng, 62 tuổi, quê Hà Nội được 417/477 phiếu tán thành
làm Chủ tịch Quốc hội (đạt tỷ lệ 84,58%); Nguyễn Minh Tríết, 64 tuổi,
quê quán Xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương được 464 phiếu đồng
ý (chiếm tỉ lệ 94,12%) , giữ chức Chủ tịch nước; Nguyễn Tấn Dũng, 57
tuổi, sinh tại Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được bầu làm Thủ tướng với
số phiếu 454 ( đạt 92,08%).
QUÁ KHỨ VÀ HIỆN TẠI
Trọng
hứa với Quốc hội: “Tôi sẽ cố gắng hết sức mình, khắc phục khó khăn, ra
sức học tập và rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, kế tục xứng đáng
nhiệm vụ của các đồng chí đi trước, góp phần cùng các vị đại biểu Quốc
hội và các cơ quan của Quốc hội tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng
hoạt động của Quốc hội, cả trên lĩnh vực lập pháp, giám sát tối cao và
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, để Quốc hội ngày càng
xứng đáng là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới.”
Trọng
nói vậy thì người ta cũng chỉ biết nghe bởi vì Quốc hội của Nhà nước
Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay đã “muôn năm” chứng minh là một Cơ
chế làm cảnh của Chế độ. Ngay cả cái quyền làm Luật cũng do Đảng lèo
lái từ đầu đến cuối. Và Quyền Giám sát việc làm của Nhà nước đã được
Hiến pháp công nhận (Điều 83: Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao
đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Điều 84: “Thực hiện quyền giám
sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;
xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) mà
Quốc hội cũng không làm được thì dù, không khí thảo luận tại Nghị
trường trong vài năm gần đây có cởi mở hơn trước, cũng chỉ để “nghe
xong rồi bỏ ”.
Thậm chí đã có một số vụ Tham nhũng tầy trời đã
bị Quốc hội ta thán, đòi người có trách nhiệm trả lời hay đòi “bãi
nhiệm” (cách chức) mà có ai nghe đâu, dù Hiến pháp đã thừa nhận Quốc
hội là Cơ quan quyền lực cao nhất của chế độ ! (Điều 83 : Quốc hội là
cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.)
Trọng nhìn
nhận yếu kém này với Báo chí sau khi được bầu: “Hoạt động giám sát tối
cao thời gian qua đã được đẩy mạnh một bước dưới các hình thức giám sát
chuyên đề, giám sát dự án, giám sát tại các kỳ họp của QH... Nhưng rõ
ràng hoạt động này thời gian tới cần được đẩy mạnh hơn nữa.”
Nhưng Nguyễn Phú Trọng là người như thế nào?
Trước
khi lên chức Chủ tịch Quốc hội, Trọng là Bí Thư Thành ủy Thành phố Hà
Nội từ năm 2000, kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
(HĐLLTƯ) của Đảng. Cơ quan này tuy có vài, ba chục người, làm việc dưới
quyền chỉ huy của Trọng nhưng lại có quyền lớn, phụ trách viết các Đề
án Chính trị cho Đảng, kể cả Cương lĩnh và các Báo cáo Chính trị tại
mỗi kỳ Đại hội Đảng.
Vì vậy muốn biết đảng CSVN còn kiên trì bao
lâu nữa với chủ trương độc tài, độc đảng thì ta chỉ cần đọc các bài
viết hay phát biểu của Trọng trong các sinh hoạt đảng. Sau Nguyễn Đức
Bình (Cựu Chủ tịch HĐLLTƯ), Đỗ Mười (Cựu Tổng Bí thư đảng), Lê Đức Anh
(Cựu Chủ tịch Nước) thì Trọng là đại biểu của lớp Lãnh đạo mới cực kỳ
bảo thủ, giáo điều, đệ tử trung thành của Chủ nghĩa phá sản, ngoại lai
Mác-Lênin ở Việt Nam.
Ta hãy nghe Hội đồng Lý luận Trung ương
nói về thái độ chính trị của họ trong Tài liệu “Công tác Xây dựng Đảng”
đã được trình bày tại tại Đại hội đảng X (18-25/4/2006): “Trước những
khó khăn, thử thách lớn ở trong nước, những biến động bất lợi trong
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước sự chống phá của các
thế lực thù địch, Đảng ta đã giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp
công nhân, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên trì đường lối đổi mới;
tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.”
Rồi
họ hô hào toàn Đảng phải: “Phải kiên trì đường lối đổi mới, đổi mới
toàn diện, có nguyên tắc và sáng tạo; trong quá trình đổi mới, phải
luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên định chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không đa nguyên, đa đảng.”
Trước
Đại hội X, Trọng viết trong Tạp chí Cộng sản số 76-2005: “Đảng kiên
định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh; kiên định nguyên tắc tổ chức của Đảng là nguyên tắc tập
trung dân chủ, kết hợp chặt chẽ việc phát huy dân chủ trong Đảng với
giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng; chỉ có một Đảng lãnh đạo là Đảng
Cộng sản, không chấp nhận "đa nguyên, đa đảng".
Vào năm 2002,
Trọng viết bài “Tổng kết thực tiễn – một nhiệm vụ trọng yếu của Công
tác Lý luận hiện nay” (Tạp chí Cộng sản số 14 năm 2002), trong đó, có
đoạn nói rằng: “Cho đến Đại hội lần thứ IX, nhận thức của chúng ta về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo
tinh thần đổi mới đã từng bước được xác lập và không ngừng hoàn thiện.
Đó là kết quả của công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận,
xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống của xã hội Việt Nam, dưới ánh sáng
của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể nói, sự đổi
mới tư duy, đi sâu vào tổng kết thực tiễn là khâu đột phá của Đảng ta
trong công tác lý luận.”
Tuy nhiên, cái sự được gọi là “đột phá”
của đảng vào thời kỳ 2002 đã khai sáng Lãnh đạo đảng đến đâu mà Trọng
vẫn còn cảnh giác: “Không ít tổ chức đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở,
không làm tròn vai trò hạt nhân chính trị và nền tảng của Đảng, không
đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở, thậm chí có
những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu.”
“Một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp,
yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần
bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít có biểu hiện bất
mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng,
vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của
Nhà nước.”
“ Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận
cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng "chạy
chức", "chạy quyền", "chạy tội", "chạy bằng cấp". Thoái hóa, biến chất
về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng,
lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên
diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là
trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất
đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng
tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự
sống còn của Đảng, của chế độ.”
Khi viết bài này thì Trọng đã
giữ Chức vụ Bí Thư Thành ủy Hà Nội được 2 năm mà sao xung quanh Trọng
vẫn còn nhiều rác rưởi đến thế ? Chẳng nhẽ những việc tiêu cực này
không xẩy ra ở Hà Nội ? Trọng thử kiểm điểm lại xem.
Nhưng có
điều là những tệ nạn và chứng hư tật xấu của cán bộ, đảng viên đã được
Trọng cảnh báo từ 2002 mà bốn năm sau nó không chỉ vẫn còn nguyên mà đã
gia tăng gấp bội thì không biết, ở cương vị Chủ tịch Quốc hội, Trọng sẽ
làm gì để giảm bớt gánh nặng cho dân, cho đảng?
Như vậy thì người dân ở Việt Nam trông đợi gì ở Chủ tịch mới của Quốc hội?
Nếu
lấy quá khứ để nhìn vào tương lai thì tôi không nghĩ Trọng sẽ làm được
gì cho dân cho nước, ngoài việc quyết tâm bảo vệ Quốc hội đi đúng đướng
lối kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tường Hồ Chí Minh.
NGUYỄN MINH TRIẾT
Tân
Chủ tịch Nước từng được nói đến là người có đấu óc tiến bộ, cởi mở và
đã có công thay đổi bộ mặt Sài Gòn từ khi giữ chức Bí thư Thành ủy
thành phố trù phú nhất nước từ năm 2000.
Triết hứa sẽ xúc đẩy 3 nhiệm vụ chính: Cải cách tư pháp, cải cách hành chính và tăng cường đường lối đối ngoại của Nhà nước.
Những
người tiền nhiệm của Triết cũng đã nói tương tự, nhưng ngoài lĩnh vực
ngoại giao là việc làm cần thiết cho đảng, hai lĩnh vực cải cách Tư
pháp và Hành chính vẫn dậm chân tại chỗ. Cán bộ, đảng viên phục vụ
trong hai ngành này đã gây ra muôn vàn phiền toái cho dân mỗi khi dân
có việc cần đến pháp luật và giấy tờ hành chính. Nhà nước thì hô hào
“chính sách một cửa” nhằm giảm thiểu gánh nặng cho dân, nhưng cán bộ
lãnh đạo lại bày ra trăm mưu ngàn kế để moi tiền, hành dân đến nỗi dân
phải kéo nhau đi biểu tình, nằm chờ giải oan trước nhà Lãnh đạo cấp
Trung ương ở Hà Nội.
Trong thời gian lãnh đạo đảng ở Sài Gòn,
Triết đã viết hai bài báo gần như giống nhau để nói về “công trạng” của
đảng sau ngày 30-4-1975, nhưng lại không giấu được tính ba hoa đến độ
trơ trẽn thay trắng đổi đen tình hình thời bấy giờ.
Trong Tạp
chí Cộng sản số 81/2005, Triết viết: “Chúng ta đều biết, Sài Gòn - Gia
Định là điểm quyết chiến chiến lược cuối cùng của 21 năm kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Sau khi chiến trường ngưng tiếng súng, quá khứ đã
để lại nơi đây những hậu quả nặng nề về nhiều mặt. Thành phố trước kia
vốn là nơi ăn chơi xa xỉ, chủ yếu sống bằng nguồn ngoại viện, điển hình
của sự phụ thuộc vào nước ngoài. Nền kinh tế ở trong trạng thái bị què
quặt, mất cân đối, bởi nó nhằm phục vụ nhu cầu của cuộc chiến tranh xâm
lược.”
Sự thật thì dù có “què quặt, mất cân đối” đến đâu chăng
nữa, đem so với Hà Nội, cũng là “Thiên đàng hạ giới” của đám bộ đội tai
mèo chiếm đóng thành phố vào thời gian ấy.
Sài Gòn chỉ tán gia
bại sản sau khi bị chính quyền Cộng sản mở chiến dịch đổi tiền và đánh
tư sản mại bản, đuổi dân khỏi thành phố để cướp của nhân dân.
Hàng
trăm ngàn người dân miền Nam, thuộc mọi thành phần, đã quyết đổi mạng
sống lấy tự do trên các chiếc thuyền mong manh vượt Đại dương sau thời
gian “càn quét” này của chế độ mới.
Triết còn nói những điều
đãi môi không hề có đối với trên 3 triệu dân thành phố Sài Gòn vào lúc
ấy: “Ngay sau ngày thành phố Sài Gòn - Gia Định được giải phóng, quán
triệt tư tưởng "đại đoàn kết" của Bác Hồ, chúng ta đã thi hành chính
sách hòa hợp dân tộc, làm cho mọi công dân thành phố nâng cao lòng tự
hào trước thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Việc tổ chức các đại hội quần
chúng ở cơ sở tham gia đợt báo công với quy mô lớn hồi mùa thu 1975,
cuộc bầu cử Quốc hội thống nhất năm 1976, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân
3 cấp (thành phố, quận, huyện, phường, xã) đầu năm 1977.., là những đợt
vận động dân chủ sâu rộng chưa từng có.”
Một khi người Cộng sản
chỉ nói “hoà hợp dân tộc” mà không nói đến ‘hòa giải” thì có nghĩa họ
chỉ muốn người khác “hợp” vào với họ và làm theo ý muốn của họ, thay vì
xoá bỏ hận thù, quá khứ chính trị đề cùng nhau hợp tác xây dựng đất
nước.
Triết nói lúc bấy giờ cấp Lãnh đạo đã biết “quán triệt tư
tưởng “đại đoàn kết” của Bác Hồ”, nhưng lại chia rẽ nhân dân nghiêm
trọng khi đánh lừa bắt cả trăm ngàn binh lính, viên chính Chính quyền
cũ tập trung lao động khổ sai trong các điều kiện sống nghiệt ngả nơi
rừng thiêng nước độc tự Nam ra Bắc làm cho nhiều người chết không được
nhìn mặt người thân !
Sự tương phản giữa lời nói và hành động
của Chính quyền Cộng sản ở trong Nam sau 30-4-1975 đã chứng minh cho
chính sách trả thù những người không cùng hàng ngũ Cộng sản với Chính
quyền mới. Dù Triết có ngụy ngôn cách mấy cũng không xoá được vết nhơ
ấy trong lịch sử.
Sau đó trong bài viết để chào mừng Đại hội
đảng X (18-25/4/2006) trên Tạp chí Cộng sản số 104/2006 (Điện tử),
Triết lập lại luận điệu lòe bịp trắng trợn: “Tám năm sau ngày thành phố
Sài Gòn - Gia Định được giải phóng, tại Đại hội đại biểu lần thứ III
của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh - tháng 11-1983, thay mặt Ban Chấp
hành Trung ương Đảng ta, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã tuyên dương
Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trong sự nhận xét sâu sắc: “Sài Gòn - Gia
Định từ một thành phố xa xỉ, phục vụ bọn thống trị, bọn bóc lột, đã
được cải tạo, xây dựng thành thành phố của người lao động”. Mới đây,
Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII cũng đã
khẳng định: “Mười năm đầu sau giải phóng là thời kỳ đặc biệt trong quá
trình ổn định, khôi phục, xây dựng và bảo vệ thành phố Hồ Chí Minh. Đó
là thời kỳ Đảng bộ và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã có những đóng
góp rất quan trọng vào đường lối chung của Đảng…”.
“ …Cố
nhiên, trong 10 năm đó, có lúc thành phố đã trải qua những bước thăng
trầm trong phát triển kinh tế, còn tiềm ẩn nhân tố bất ổn trong xã hội,
gặp phải va vấp, khuyết điểm, yếu kém trong chỉ đạo, quản lý và tổ chức
thực hiện. Song thành tựu đạt được là cơ bản và có ý nghĩa lịch sử.
Điều quan trọng là những sự va vấp, yếu kém, thậm chí sai lầm của chúng
ta đã được ra sức khắc phục trên cơ sở nhận thức sự đổi mới là yêu cầu
bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn.”
VÕ VĂN KIỆT PHẢN BÁC
Viết
lại tình hình Sài Gòn trong giai đoạn 1975 – 1985 khi Triết không giữ
chức vụ gì quan trọng ở Sài Gòn thì những điều Triết viết ra, nếu không
là nói mò, vu khống thì cũng chẳng có giá trị gì.
Theo Tiểu sử
phổ biến bởi đảng Cộng sản thì từ 1974 đến 8-1979, Triết là Phó Văn
phòng Trung ương Đoàn thanh niên các cơ quan Trung ương cục miền Nam.
Từ 9-1979 đến 7-1981: Học trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. 7-1981
đến 12-1987: Trưởng Ban thanh niên xung phong Trung ương Đoàn; Trưởng
Ban mặt trận Trung ương Đoàn; Bí thư Đảng ủy cơ quan Trung ương Đoàn
tại TP. Hồ Chí Minh; Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đoàn; Bí thư
Trung ương Đoàn TNCS (Thanh niên Cộng sản) Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch,
Tổng Thư ký Trung ương Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam.
Với
các chức vụ “vòng ngoài” như thế liệu Triết có đủ tư cách và thẩm quyền
đề viết về giai đoạn 1975-1985 là thời gian 10 năm Sài Gòn bị “bách
hoại”, bị người Cộng sản “bật rễ” triệt tiêu toàn diện đời sống kinh
tế, xã hội của người dân.
Tôi khuyên Triết cần phải đọc để học
những lời tâm sự của Võ Văn Kiệt, Cựu Thủ tướng ngày 15-4-2005, khi ông
nói với Tạp chí Quốc tế của Bộ Ngoại giao, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Sài
Gòn có chủ mới: “Đôi khi phải nhìn kết quả thay vì nhìn những gì mà
chúng ta nghĩ là nỗ lực. Theo cách mà chúng ta đang làm để kỷ niệm
những ngày lịch sử hiện nay, tôi e rằng chúng ta lại đang lặp lại những
gì mà chúng ta đã làm trước đó. Lịch sử cũng như cuộc sống, cái đúng,
cái sai nói một lần người ta hiểu, nói hai ba lần người ta im lặng,
nhắc lại quá mức cần thiết thì có thể gây ra sự phản cảm. Trong khi đó
theo tôi, chúng ta vẫn còn biết bao nhiêu điều cần nói, biết bao việc
cần làm.”
“Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta
cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và nhiều sự mất
mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miền Nam rơi vào hoàn cảnh
có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng
tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi
nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó
là vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục
làm cho nó thêm rỉ máu.”
“Nhưng về đối nội, theo tôi đã đến lúc
ta phải nhìn nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp người
Việt yêu nước từng sống trong lòng chế độ cũ, hiện ở trong nước, hay ở
bên ngoài. Bản thân tôi, cùng với anh em được giao tiếp quản Sài Gòn
năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh như vậy, tôi
nghĩ, không thể không nói đến vai trò của nội các Dương Văn Minh và các
lực lượng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu có quan hệ với chính phủ
Dương Văn Minh lúc bấy giờ.”
“…Chúng ta đều có thể vui mừng khi
có một Việt Nam thống nhất, quyết tâm vượt qua nghèo đói và quyết tâm
hội nhập như ngày hôm nay. Nhưng, nhìn lại quá trình kể từ khi kết thúc
chiến tranh thì tôi thấy tiếc. Giá như đổi mới sớm hơn thì chúng ta có
thể đã không phải trải qua những năm trả giá đắt như giai đoạn
1975-1985”
“Phải tiếp tục đổi mới nữa và tránh xa sự tự mãn, tránh xa bệnh say sưa thành tích!”
Bài báo thứ hai mà Triết cũng cần phải đọc đề học hỏi nơi người đi
trước là bài viết “Đại đoàn kết dân tộc - cội nguồn sức mạnh của chúng
ta” của ông Kiệt đăng trên báo Báo TuổI Trẻ ngày 31/08/2005.
Kiệt nói: “Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, rất nhiều vận hội đã mở ra cho cả nước:
- Đất nước đã được hòa bình, thống nhất. Giang sơn đã trở về một mối. Lòng người cũng qui về một mối.
-
Toàn dân vui mừng được yên ổn làm ăn, kiến tạo lại đất nước, góp phần
vào sự nghiệp xây dựng và phát triển chung của cả dân tộc.
-
Một đội ngũ đông đảo công thương gia và trí thức miền Nam, có những khả
năng và kinh nghiệm trên nhiều lĩnh vực khác nhau, là một vốn quí, có
thể đóng góp vào việc xây dựng một nước VN hòa bình, giàu mạnh.
-
Hầu hết quân đội, sĩ quan và những viên chức trong chính quyền cũ cũng
đều mong mỏi được sống trong hòa bình, hòa hợp, có cơ hội làm lại một
cuộc sống yên ổn.”
“Rất tiếc là ý thức đoàn kết dân tộc lại một
lần nữa bị phần nào xao nhãng bởi bệnh chủ quan và say sưa vì chiến
thắng, bởi những cách nhìn hẹp hòi, biệt phái, bởi chuyện phân biệt
thắng - thua, bởi những kỳ thị ta - ngụy...”
“Tiếp đó, cuộc cải
tạo công thương nghiệp tư nhân ở miền Nam và việc hợp tác hóa nông
nghiệp một cách rập khuôn, mà sau này Đại hội Đảng lần thứ VI đã rút
kinh nghiệm, là vừa đụng chạm tới cả những người đã từng có công đóng
góp cho cách mạng, vừa triệt tiêu đi một nguồn lực kinh tế rất quan
trọng.”
“Kinh tế khó khăn, đời sống bế tắc, cộng với những
phương thức quản lý xã hội quá cứng nhắc và tình trạng kỳ thị thành
phần... đã làm cho cả một số người yêu nước, muốn đóng góp cho đất nước
cũng đành dứt áo ra đi.”“Những tổn thất kể trên ít nhiều đã trực tiếp
liên quan đến nhiệm vụ của tôi, một người lãnh đạo thành phố mang tên
Bác. Tôi đã chứng kiến nhiều nhà trí thức, nhà công thương trước khi
rời quê hương vẫn trăn trở cân nhắc, rồi cũng phải “liều mình nhắm mắt
đưa chân”. Mặc dầu trong phạm vi khả năng và quyền hạn của mình, Thành
ủy chúng tôi cũng đã chân tình giúp đỡ và động viên nhiều anh chị em,
nhưng tôi vẫn thấy lúc bấy giờ Thành ủy vẫn có nhiều bất lực và có phần
trách nhiệm về tình hình đó.”
“- Đất nước VN, giang sơn VN cùng
mọi thành quả của nền văn hóa VN không phải là của riêng ai, của một
giai cấp hay đảng phái nào, mà là tài sản chung của mọi người VN, của
cả dân tộc VN.
- Đã thế thì mọi người VN đều có trách nhiệm và
có quyền được đóng góp vào việc tô điểm cho giang sơn đó, làm giàu thêm
và đẹp thêm cho nền văn hóa đó.
- Lại vì thế nên phải làm sao để
cho mọi người VN đều được sống với giang sơn gấm vóc này, được hưởng
mọi giá trị vật chất và tinh thần của nền văn hóa này.”
Liệu
Triết, bây giờ ở cương vị Chủ tịch Nước, có còn can đảm và bình tâm đọc
lại những lời nói hồ hởi của một thời năng nổ hay có biết xấu hổ trước
những lời tâm tình của Võ Văn Kiệt về những việc đã xẩy ra ở Sài Gòn từ
1975 đến 1985?
Lãnh đạo mà cũng dám xuyên tạc lịch sử thì nhân dân còn coi mình ra gì nữa?
Phạm Trần (06/06)