Kỳ 4 (tiếp theo và hết)
Ngày 30/9/1950, Trung Tá Lepage được lệnh đưa Binh Ðoàn Bayard rời Thất Khê tiến lên Ðông Khê. trong khuôn khổ chiến dịch Thérèse. Vì hai phần ba chủ lực của Ðại Ðoàn 308 có trách nhiệm đả viện dài theo lộ 4 bỏ đi thủy khẩu tải gạo, cánh quân Lepage tới gần Ðông Khê thật bất ngờ. (Giáp ÐTÐBP, 2001:54)
30/9/1950: Tiểu Ðoàn 1 Dù tới gần Ðông Khê đồng thời, rút bỏ Nà Cạn. Bị chận đánh. Tiểu Ðoàn 1/8 RTM ở phía sau cũng bị tấn công nặng. 1/10/1950: Chiến Ðoàn Lepage bị chặn lại ở phía nam Ðông Khê. Tối ngày 1/10/1950, đơn vị tiền tiêu của Lepage đã chạm súng với Trung Ðoàn 209 Việt Minh. Lepage cho lệnh các đơn vị còn lại tản ra chiếm các cao địa phía nam Ðông Khê. Sáng ngày 2/10, Lepage dùng 2 tiểu đoàn đánh Ðông Khê. TÐ 11 Tabor chiếm được phía tây và cứ điểm bảo vệ phi trường. TÐ Dù bị chặn đứng tại các dãy núi vôi phía nam. 14G30, Ðại Tá Consatns, tư lệnh Khu Biên giới, cho lệnh Lepage dồn lực lượng về phía Quang Liệt - Nậm Nàng, bắc Ðông Khê 15 cây số, để đón cánh quân di tản của Trung Tá Charton, sẽ từ Cao Bằng rút về. Ngày hẹn là 3/10/1950. Sau đó, toàn bộ rút về Thất Khê. Lepage cho lệnh ngưng tấn công Ðông Khê. Ðể lại phía Nam 1 tiểu đoàn Dù và TÐ 11 Tabor làm chốt cản đường triệt thoái về Lạng Sơn. Lepage cho Tiểu Ðoàn 1 Tabor bọc về hướng tây cánh quân Dù, chiếm được một đồn cũ (Cốc Xá). Hai Tiểu Ðoàn 1/8 RTM và 2 Tabor làm trừ bị ở Na Pa và Na Kéo gần Quốc Lộ 4. Cũng sáng ngày 2/10 này, đích thân Lepage dẫn Tiểu Ðoàn 8 Tabor đi vòng sang phía tây Ðông Khê, tiến về hướng Quốc Lộ 4, hy vọng bắt tay cánh quân Cao Bằng của Charton tại Quảng Liệt trước 12 giờ trưa ngày 3/10/1950. TÐ 1 Tabor cũng nhận lệnh triệt thoái khỏi khu vực phi trường đi theo Lepage. Lúc này, các đơn vị của Ðại Ðoàn 308 đã lấy gạo trở về. Bắt đầu tấn công hai Tiểu Ðoàn 1 Dù và 11 Tabor. 15G00: một số đơn vị của Ðại Ðoàn 308 bắt đầu tấn công các đơn vị Pháp tại các cao điểm phía nam Ðông Khê. Vị trí Na Kéo bị pháo và tấn công ba đợt trong đêm ngày 2 rạng 3/10. Lepage có ý định đưa quân về phía tây, hợp sức cùng Tiểu Ðoàn 1 Tabor. Thiếu Tá Delcros phải xin Lepage cho rút về Lũng Phầy trước khi quá muộn. Lepage không dám tự quyết định, xin lệnh Cosntans. Constans chẳng có lựa chọn nào khác hơn là đồng ý. Nhưng bị VM tấn công dữ dội, lực lượng này phải rút về điểm cao 765, nơi Lepage đang trú quân.
Ngày 3/10, cánh quân do Lepage chỉ huy bị dồn về phía Cốc Xá (đỉnh cao 649). Quân VM vẫn vây đánh không ngừng. Trưa ngày 4/10, Lepage quyết định không tiến lên phía bắc nữa mà chỉ nhích dần tới Cốc Xá, gần cao điểm 477. Bị Ðại Ðoàn 308 và Trung Ðoàn 209 VM vây đánh liên miên tại vùng núi đá vôi Cốc Xá. Ðêm 4/10, Lepage tới Cốc Xá, nhưng TÐ 1 Dù chỉ tới được vị trí vào trưa ngày 5/10. Ngày 6/10/1950, Ðại Ðoàn 308 tiến sát Cốc Xá, Lepage xin phi cơ yểm trợ.
Cánh quân triệt thoái Cao Bằng:
Tại
hướng bắc, lúc 5G30 sáng ngày 3/10, Charton bắt đầu rút quân khỏi Cao
Bằng theo Quốc Lộ 4. Gồm Tiểu Ðoàn 3/3 REI Lê Dương, Tiểu Ðoàn 3 Tabor,
và 1 Tiểu Ðoàn Nùng. Ngoài ra, còn có pháo binh, công binh và chuyên
môn. Mang theo 500 viên chức hành chính tỉnh, quận. Vì phải sửa đường,
chỉ đi được 10 cây số trong ngày đầu tiên. Sáng ngày 4/10, Charton nhận
lệnh bỏ Quốc Lộ 4, rẽ qua hướng tây vào đường rừng ở Quảng Liệt (cây số
21). Pháo binh, xe cộ đều bị bỏ lại. Ðoàn di tản kéo dài tới 5 cây số,
trọn ngày 4/10 chỉ di chuyển được thêm 7 cây số. Tuy nhiên, mãi tới
trưa ngày 4/10, Võ Nguyên Giáp mới nhận được báo cáo về cuộc triệt
thoái của Charton. Giáp bèn cử Trung Ðoàn 209 (của Lê Trọng Tấn) lên
chặn đường. Các đơn vị của Ðại Ðoàn 308 tiếp tục tấn công Lepage ở Cao
Xá. (Giáp, ÐTÐBP, 2001:61-79)
Ðược tin Lepage bị vây đánh ở Cốc Xá, từ điểm hẹn Nậm Nàng, Charton phá hủy xe, cho lệnh rời Quốc Ðộ 4, rẽ sang hướng tây để tránh phục binh tại vùng Ðông Khê, tìm đường mòn về Thất Khê Ngày 5/10, Trung Ðoàn 209 VM bắt gặp cánh quân tiền tiêu của Charton ở Khâu Né, phía tây QL 4. Charton phải bỏ đường mòn, tìm đường đỉnh đi về Tân Bể. Bị các đơn vị VM chận đánh. Ngày này, cánh quân Charton di tản thêm được 6 cây số. Ngày 6/10, TÐ 3 Tabor tới được cao điểm 477. Nhưng cánh quân cuối còn cách khoảng 5 cây số. Tính ra chỉ di chuyển được thêm 4 cây số. 17G00, Charton, mới tới Lan Hai, và Lepage, đang bị vây hãm tại Cốc Xá, bắt được liên lạc vô tuyến. Hẹn bắt tay nhau tại đồi 477, giữa Lan Hai và Cốc Xá. Nhưng hai Tiểu Ðoàn 130 và 166 của Trung Ðoàn 209 (Sông Lô) đã đuổi kịp đại bộ phận Lữ Ðoàn Charton, khoảng 2,000 người. Quyết chặn không cho hai cánh quân Charton và Lepage bắt tay nhau như dự tính. Phần Binh Ðoàn Bayard của Lepage không tới được điểm hẹn mà bị vây bọc ở thung lũng Cốc Xá. Mưa và sương mù hạn chế tầm hoạt động của không quân. Ðêm 5 rạng 6/10, cánh quân Lepage mở đường máu tiến sang 477. Trưa ngày 6/10, khoảng 650 trên tổng số 2,500 binh sĩ của Lepage về tới cao điểm 477. Từ 6 giờ sáng ngày 6/10, tất cả các vị trí của cánh quân Charton ở 477 cũng bị đồng loạt tấn công. Charton xin tăng viện, nhưng Constans chỉ có thể điều động được 4 đại đội, lập thành Binh Ðoàn De Labaume, gồm Lê Dương và Tabor, từ Thất Khê lên cứu viện. Bị chặn đánh ở phía nam Lũng Phầy (phía nam Nà Kéo). (Tấn 1994:135; Giáp, ÐTÐBP, 2001:77-79).
- Theo tài liệu Trung Quốc, ngày 6/10/1950, sau khi đọc điện văn của Mao gửi cho Chen Ghen, Hồ quyết định đánh lớn ở Cao Bằng.
Ngày
7/10, Tiểu Ðoàn 1 Dù và 3 Tiểu Ðoàn Tabor của Lepage bị đánh tan.
Lepage chạy về hướng Nà Kéo trên lộ 4. 17G00, Charton bị bắt sống cùng
với Tỉnh Trưởng Hai Thu. Ngày 8/10, Lepage bị bắt sống ở gần Nà Kéo.
(Tấn, 1994:135)
10/10/1950: Pháp rút khỏi Thất Khê. 11/10/1950: Pháp rút khỏi Thái Nguyên. 11/10/1950: Trần Canh gặp Hồ và Giáp. Thảo luận về ưu khuyết điểm của VM. Trần Canh còn dạy bảo Hồ và Giáp cách vận động tinh thần anh hùng cách mạng [revolutionary heroism] để giữ tinh thần chiến đấu cao. Theo hồi ký của Trần Canh, Hồ và Giáp rất vui vẻ đón nhận “nhữngnghi thức Mao ít” [Maoist rituals] này. (Zhai 2000:32)
13/10/1950:
Pháp rút Na Sầm. 15/10/1950: Ðại Sứ Mỹ, Donald Heath, điện cho
Washington, báo cáo tình hình Việt Nam nguy ngập. Sự tổn thất 9 tiểu
đoàn và 7,000 lính ở vùng biên giới có thể mang lại những hậu quả trầm
trọng. Xin xúc tiến ngay việc thành lập Quân Ðội Việt Nam, gia tăng mức
độ quân viện, và một số biện pháp khác. Heath báo động: Liên Xô và
Trung Cộng đang xâm lăng Ðông Dương, qua việc huấn luyện quân đội Việt
Minh. [FRUS, 1950, VI:895-6]
16/10/1950: Cao Ủy Pháp ban hành lệnh
báo động ở Bắc Việt. Ðàn bà, con trẻ phải di tản. Thanh niên từ 21 tới
25 phải nhập ngũ trong vòng 3 tuần lễ. * Hà Nội: Constans yêu cầu Tướng
Alessandri cho triệt thoái Lạng Sơn. Alessandri đồng ý. Bay vào Sài Gòn
xin lệnh. [Xem 18/10/1950]
16/10/1950: Pignon và Carpentier họp bàn
tình hình. Ðồng ý cho Constans rút bỏ Lạng Sơn. 17/10/1950: Pháp rút bỏ
Ðồng Ðăng. 18/10/1950: Pháp rút bỏ Lạng Sơn kéo về Tiên Yên. Giáp định
cho lệnh truy kích tới Tiên Yên, nhưng Trần Canh khuyên không nên.
(Giáp ÐTÐBP, 2001:83) Phóng thích khoảng 800 tù binh. Ðiểm nổi bật của
Trần Canh: “Ðánh điểm, diệt viện” (Giáp ÐTÐBP, 2001:101)
18/10/1950:
Letourneau và Juin, tổng trú xứ ở Morocco, tới Ðông Dương thị sát. Thứ
Tư, 1/11/1950: Pháp bỏ Lao Kay. Cố thủ Lai Châu để bảo vệ vùng Thái tự
trị
Từ ngày 27 tới 30/10/1950: Họp tổng kết [summing-up] chiến dịch
Biên Giới trên cấp tiểu đoàn tại Cao Bằng Theo Giáp, trong dịp tổng kết
chiến dịch tại Cao Bằng, sau khi Pháp rút bỏ Lạng Sơn [18/10/1950],
Giáp gặp Vi Quốc Thanh cùng Trần Canh. (Giáp, ÐTÐBP, 2001:90-94)
Giáp
cũng ghé qua Thủy Khẩu, gặp Lý Thiên Hữu, phó tư lệnh Quảng Tây, từng
xuống tận Thủy Khẩu giúp đôn đốc việc chuyển gạo. Gặp Vi Quốc Thanh và
cố vấn TQ, uống rượu say. (Giáp, ÐTÐBP, 2001:92) “Trung Quốc trợ giúp:
1,020 tấn vũ khí đạn dược, 180 tấn quân trang, quân dụng, 2,634 tấn
gạo, 20 tấn thuốc dụng cụ quân y, 800 tấn hàng quân giới, 30 ô tô, 120
tấn xăng dầu và phụ tùng ô tô.” (Giáp, ÐTDBP, 2001:102)
Theo tài
liệu TQ, Hồ muốn xin Trần Canh ở lại thêm một năm nữa, nhưng Canh mới
nhận lệnh thi hành một nhiệm vụ khác. Thượng tuần tháng 11/1950, Canh
rời Việt Nam. (Zhai, 2000:33). Theo Giáp, ngày 8/6/1951, Trần Canh được
cử làm phó tư lệnh quân tình nguyện TC tại Triều Tiên. Tháng 8/1951,
qua Triều Tiên. Bị thương vì bỏng bom napalm. (Giáp ÐTÐBP, 2001:94)
Theo
lời yêu cầu của Hồ, Trần Canh giảng dạy cho cán bộ quân sự VM suốt 4
ngày liên tiếp. Ðưa ra những nhược điểm của VM: cấp chỉ huy không lo
cho thuộc cấp; hình phạt thể xác; chậm trễ thi hành mệnh lệnh; và thói
xấu chỉ báo cáo những tin tốt. (Zhai, 2000:32)
Hồ cho rằng chiến
thắng thắng biên giới là “thắng lợi của tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô
sản [triumph of proletarian internationalism. (Hoan, 1987:352; Zhai,
2000:33) Hồ cho Canh coi công điện gửi Stalin và Ðảng CS Pháp về chiến
thắng biên giới. (Giáp, ÐTDBP, 2001:92-94 không nhắc đến sự hiện diện
của Hồ). Giáp tuyên bố: “Tư tưởng quân sự của Mao hết sức thích hợp với
hoàn cảnh Việt Nam và cuộc đấu tranh vũ trang của ta” [Mao's military
thought was very applicable to Vietnam]. (Hoan, 1987:352-353; Zhai,
2000:33)
2/11/1950: VM tiến vào Lào Kay và Cốc Lếu. 3/11/1950: VM
chiếm Chapa. 5/11/1950: Pháp rút khỏi Hòa Bình, Vụ Bản. 22/11/1950:
Quốc Hội Pháp nhóm họp về Ðông Dương. Jean de Lattre de Tassigny, tư
lệnh lục quân Tây Âu, được cử làm cao ủy kiêm tổng tư lệnh Ðông Dương.
[Xem 6/12/1950]
23/11/1950: Tăng viện Pháp tới Sài Gòn. Gồm 7 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 2 phi đội, 2 pháo đội.
27/11/1950: Hội nghị tổng kết tại Chợ Ðồn, Thái Nguyên Hồ tham dự. (Giáp, ÐTDBP, 2001:98-100)
Nguyễn Chánh và Trần Quí Hai cũng tham dự. (Giáp ÐTÐBP, 2001:98-103)
W Duiker, Road to Communism, 2nd ed., 1996:153. “for the first time, to seize the initiative in the war.”
Phụ Bản:
15/1/1950: HCM nhìn nhận chính phủ Mao Trạch Ðông. 18/1/1950: Bắc Kinh nhìn nhận chế độ Việt Nam DCCH. 30/1/1950: Matxcơva nhìn nhận chế độ Việt Nam DCCH. On 19 January 1950, Renmin ribao [People's Daily, the CCP Central Committee's official mouthpiece], published a statement by the Chinese government which formally recognized the Democratic Republic of Vietnam, announcing that the PRC would be willing to establish diplomatic relations with DRV. The Soviet Union and other East European countries quickly established diplomatic relations with the DRV. 20/1/1950: Bộ Ngoại Giao Mỹ cứu xét việc công nhận chính phủ Quốc Gia Việt Nam của Bảo Ðại. Ðây là phản ứng với bản tin của Tân Hoa Xã ngày 18/1/1950 về việc Hồ đã kêu gọi các nước trên thế giới ủng hộ và nhìn nhận VNDCCH như chính phủ hợp pháp duy nhất của Việt Nam.
21/1/1950:
Bao Dai arrived in Hanoi VM destroyed 15 out of 42 electrical
transmitters. (Giap, CDTVV, 2001:344) On 18/1/1950: VM attacked Gia Lam
airbase, destroying a number of aircrafts and 600,000 litters of fuel.
(Ibid)
29/1/1950: Thành Ủy Sài Gòn VM lên án tử hình khiếm diện Ðỗ
Văn Năng, thủ lĩnh Việt Nam Bảo Quốc Ðoàn. 30/1/1950: Thành Ủy Sài Gòn/
Gia Ðịnh cho lệnh giải tán Việt Nam Bảo Quốc Ðoàn của Ðỗ Văn Năng (10H
4201). 30/1/1950: Stalin nhìn nhận chế độ Hồ Chí Minh. 30/1/1950: HCM
tới Bắc Kinh. (Giap, DTDBP, 2001:12-16]. Ho Chi Minh, after walking for
seventeen days, crossed the Chinese-Vietnamese border in late January
1950 [26 January 1950], and then he was taken to Beijing to meeting
with Liu Shaoqi and other CCP leaders. He made it clear that his
purpose to visit China was to pursue substantial Chinese military and
other assistance to the Vietminh's struggles against the French. He
also expressed the desire to visit the Soviet Union.
1/2/1950: Mao
Trạch Ðông điện cho Lưu Thiếu Kỳ: Gửi lời chào mừng HCM; yêu cầu dàn
xếp cho HCM qua Matxcơva; thông báo sứ quán TC tại Matxcơva đã chuyển
cho các đại sứ khối CS công điện yêu cầu nhìn nhận và giúp đỡ VNDCCH.
Document 24: Telegram, Mao Zedong and Zhou Enlai to Liu Shaoqi, 1 Feb
1950
Comrade Liu Shaoqi:
Please convey our greetings to Comrade
Ho Chi Minh. He has played the role as the leader and organizer in the
heroic struggle for Vietnam's national independence and the
establishment of a people's democratic government in Vietnam. China and
Vietnam have recognized each other, and will soon establish diplomatic
relations. The Soviet Union has already recognized Vietnam, and it is
hoped that the other new people's democratic countries will all give
their recognition (our embassy in the Soviet Union has delivered
Vietnam's memorandum asking for foreign recognition and establishing
diplomatic relations to the embassies of all new democratic countries
in the Soviet Union). We sincerely congratulate Vietnam's joining the
anti-imperialist and democratic family headed by the Soviet Union. We
wish that the unification of the entire Vietnam would be soon realized.
We also wish Comrade Ho Chi Minh and his comrades-in-arms good health.
[Source:
JGYLMZDWG, 1:254; translation from Shuguang Zhang and Jian Chen, eds.
Chinese Communist Foreign Policy and the Cold War in Asia, 141-2]
3/2/1950:
By the arrangement of the CCP, Ho Chi Minh traveled to the Soviet Union
[on February 3, 1950] and met Stalin and Mao and Zhou there.
He
would come back to China together with Mao and Zhou [on February 17,
1950] and to continue discussions with Chinese leaders until [late]
March 1950 These discussions resulted in Beijing's (but not Stalin's)
commitment to support Ho. For a more detailed discussion, see Chen
Jian, “China and the First Indo-China War, 1950-1954,” The China
Quarterly 132 (March 1993), 85-110. Giap, CDTVV, 2001:350-351]
17/2/1950:
Matxcơva: Mao Trạch Ðông rời Nga về nước. HCM tháp tùng. Ở lại Bắc Kinh
thảo luận vấn đề viện trợ [cho tới cuối tháng 3/1950]. Hoàng Văn Hoan,
từng hoạt động ở Thái Lan trong hai năm 1948-1949, được chỉ định làm
đại diện Ðảng CSÐD tại Bắc Kinh (sau đó trở thành đại sứ). Lưu Thiếu Kỳ
đề nghị lập hai tòa lãnh sự ở Nam Ninh (tỉnh lỵ Quảng Tây) và Côn Minh
(tỉnh lỵ Vân Nam). (Zhai 2000:17-18)
Hồ còn đề nghị hai bên trao đổi
đại sứ, nhưng ngày 7/7/1950, Chu Ân Lai không đồng ý vì hiện tình chiến
tranh hiện tại khiến bất tiện cho việc nhận ngoại giao đoàn. Bởi thế
nên giữ La Quí Ba như đại diện Ðảng CSTQ hơn là đại sứ Trung Cộng.
(Zhou gửi Hồ, 7/7/1950, trong Zhou nianpu, 1:53; Zhai 2000:19)
Hồ
cũng xin thiết lập đại sứ với Liên Xô; nhưng Matxcơva chỉ đồng ý nhận
đại sứ của VNDCCH mà không gửi đại sứ tới Việt Nam vì chính phủ chưa có
thủ đô cố định (Bukkharin, “Moscow and Ho Chi Minh,” 3-7)
Theo tin tình báo, một hiệp định Trung Việt được ký kết vào thời gian này. Sau đó, khoảng 22,000 lính VM qua Trung Quốc huấn luyện và trang bị. Tài liệu Trung Cộng không nhắc đến hiệp ước. Tuy nhiên, khẳng định Bắc Kinh hứa giúp Hồ. Trong chuyến viếng thăm Matxcơva của Lưu Thiếu Kỳ vào tháng 8-9/1949, và rồi chuyến viếng thăm của Mao Trạch Ðông từ ngày 6/12/1949 tới 17/2/1950, Stalin khuyến khích Bắc Kinh nên giúp đỡ các phong trào cộng sản tại Á Châu (Chen Jian, “China and the First Indochina War, 1950-1954;” China Quarterly [March 1993]:89-90). [Xem 9/3/1950]
3/3/1950: Trong công điện gửi Chen Ghen [Trần Canh], chủ
tịch Ủy Ban Quân Quản Yunnan [Vân Nam], và Song Renqiong, bí thư tỉnh
kiêm chính ủy, Liao Shaoqi [Lưu Thiếu Ky]... chỉ thị rằng sau khi giải
phóng Vân Nam và Quảng Tây, các đảng CS Ðông Nam Á như Burma và Việt
Nam sẽ gửi đại diện tới xin tiếp xúc. Cần tiếp đãi nồng nhiệt, và trong
tương lai họ sẽ thiết lập các cơ sở bí mật tại đây. (Liu gửi Chen và
Song; 3/3/1950, Liu nianpu, 2:244)
Sơ lược việc thành lập các đại đoàn Việt Minh:
9/1949:
Bắc Giang: Thành lập Ðại Ðoàn 308, đại đơn vị cấp sư đoàn đầu tiên.
Vương Thừa Vũ làm tư lệnh; Cao Văn Khánh, đại đoàn phó; và, Song Hào,
chính ủy.
Ðại Ðoàn “Quân Tiên Phong” hay “Sư Ðoàn Thép” này thành
lập tại Bắc Giang từ tháng 4/1949, khi Vương Thừa Vũ, tư lệnh phó Quân
Khu IV (Bình Trị Thiên), được chỉ định làm tư lệnh, và Cao Văn Khánh,
từ Quân Khu V ra làm phó. Lực lượng nòng cốt:
- Trung Ðoàn 308, gồm
4 tiểu đoàn: TÐ 11, gốc Hải Phòng; TÐ 18, thành lập tại Sơn Tây; TÐ 23,
thành lập tại Liên Khu III, gốc Sơn Tây, Hà Ðông và Hà Nam (hoạt động
trong vùng Hòa Bình và Sông Ðà);
- Trung Ðoàn 29, tức thành phần của TÐ 39 (Giải Phóng Quân) và TÐ 48 (gốc phu mỏ);
- Trung Ðoàn 54, tức cựu Trung Ðoàn Thủ Ðô, mới cải danh sau chiến dịch Thu Ðông 1947 (Vương Thừa Vũ, 151-74).
Trong
khi đang thành lập, từ ngày 19/5/1949, các đơn vị của Ðại Ðoàn 308 đã
phải tham chiến, chống lại chiến dịch Pomone của Tướng Koch [tức chiến
dịch sông Lô và rồi sông Thao] để chào mừng chính phủ Bảo Ðại (Vương
Thừa Vũ, 154). Tháng 9/1949, Ðại Ðoàn 308 chính thức ra mắt nhân dịp kỷ
niệm 4 năm cách mạng tháng 8/1945, với hai Trung Ðoàn 88 (gồm TÐ 23,
29, 322 và 1 TÐ pháo), và Trung Ðoàn 102 (Thủ đô, gồm TÐ 54, 18 và 79).
(Giáp, CÐTVV, 2001:324)
Sau này, được tăng cường thêm Trung Ðoàn 36,
tức Trung Ðoàn Bắc Bắc, hoạt động trong lãnh thổ Bắc Ninh và Bắc Giang.
(Giáp, CÐTVV, 2001:321)
10/3/1950: Chính thức thành lập Ðại Ðoàn 304
tại Thọ Xuân, Thanh Hóa Hoàng Minh Thảo làm đại đoàn trưởng; Trần Văn
Quang, chính ủy. Dự định thành lập thêm hai Ðại Ðoàn 312 (chủ lực là
Trung Ðoàn 209 hay Sông Lô) và Ðại Ðoàn 316 (chủ lực là Trung Ðoàn 174
thuộc BQP). (Giap, CÐTVV, 2001:327) [25/12/1950: Chính thức thành lập
Ðại Ðoàn 312. Lê Trọng Tấn làm đại đoàn trưởng; Trần Ðộ (chính ủy)]
10/3/1950:
Chính thức thành lập Ðại Ðoàn 304 tại Thọ Xuân, Thanh Hóa Hoàng Minh
Thảo làm đại đoàn trưởng; Trần Văn Quang, chính ủy. 25/12/1950: Chính
thức thành lập Ðại Ðoàn 312. Lê Trọng Tấn, đại đoàn trưởng; Trần Ðộ
(chính ủy)
27/3/1951: Chính thức thành lập Ðại Ðoàn Công Pháo 351.
Ðào Văn Chương; Phạm Ngọc Mậu. 16/4/1951: Chính thức thành lập Ðại Ðoàn
320; Văn Tiến Dũng. 1/5/1951: Chính thức thành lập Ðại Ðoàn 316; Lê
Quảng Ba, Chu Huy Mân. (Giáp, CÐTVV, 2001:328-329)
“Maoism”
Tại
Ðại Hội kỳ 2 Ðảng Cộng Sản Ðông Dương, từ ngày 11 tới 19 tháng 2,
1951,tại Tuyên Quang (cũng là Ðại Hội thành lập Ðảng Lao Ðộng Việt Nam
[LÐVN]), đổi tên thành Ðảng Lao Ðộng Việt Nam. Các đảng CS Miên và Lào
sẽ tách rời khỏi Ðảng CS Việt Nam. (50 năm, 1982:119, 121). “Nêu cao
tầm quan trọng của kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc và tư tưởng Mao
Trạch Ðông với cách mạng Việt Nam.” (Hoan, 1987:355) Trong điều lệ viết:
“Ðảng
Lao Ðộng Việt Nam lấy học thuyết của Mác, Ăng Ghen, Lênin, Stalin và tư
tưởng Mao Trạch Ðông kết hợp với thực tế cách mạng Việt Nam làm nền
tảng của tư tưởng Ðảng và kim chỉ Nam của tất cả mọi hành động.” (Hoan,
1987:357)
Tại hội trường, dưới chân dung Mác, Ăng Ghen, Lênin, là chân dung của Stalin và Mao Trạch Ðông (ND, 11/3/1951; Hoan, 1987:357)
Trong
công điện gửi Ðảng CSTQ, có đoạn: “Ðảng Lao động Việt Nam nguyện soi
gương anh dũng Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch
Ðông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc và các dân tộc Á Ðông trên
con đường độc lập và tự chủ.” (ND, 11/3/1951; Hoan, 1987:367-358)
Ngày 7/5/1964, báo Nhân Dân đăng bài “Những bài học thắng lợi của chiến thắng Ðiện Biên Phủ nói riêng và của cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ nói chung,” có đoạn viết: “Từ năm 1950 trở đi, sau cách mạng Trung Quốc thắng lợi, quân đội và nhân dân ta càng có điều kiện học tập những kinh nghiệm quí báu của Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc, học tập tư tưởng quân sự Mao Trạch Ðông. Ðó là một yếu tố quan trọng giúp vào sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội ta, góp phần vào những thắng lợi liên tiếp của quân ta, đặc biệt là trong chiến dịch Thu Ðông năm 1953-1954 và trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ vĩ đại...” (ND, 7/5/1964; Hoan, 1987:358-359)
Trong một chỉ thị của Xứ Ủy Nam Bộ ngày 28/3/1951, “với những người theo đảng chúng ta có thể giải thích rằng đảng mới này chính là Ðảng Cộng Sản biến dạng, nhưng với nhũng người ngoài đảng, chúng ta giải thích rằng đây là một đảng mới lập nên để nối tiếp truyền thống của các đảng cách mạng đi trước. (Haut Commissaire de France en Indochine, BCRI, No. 1200/Y (21 Mai 1952), “Le Dang Lao Dong Viet Nam [The Vietnamese Workers' Party],” p. 12; Ibid., 10 H 620). Trần Văn Giàu, Trần Ngọc Ranh, Lê Hy, Trần Huy Liệu và Bourov Dương Bạch Mai không được bầu vào ban chấp ủy trung ương.
Chủ tịch: Hồ Chí Minh; Tổng bí thư: Trường
Chinh (BNCLSÐTƯ, 50 năm hoạt động của Ðảng CSViệt Nam (Hà Nội: Sự Thật,
1982), tr. 116-122) [không nhắc gì đến Mao Trạch Ðông hay kinh nghiệm
TQ]; Ủy viên trung ương: Nguyễn Chí Thanh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp,
Phạm Văn Ðồng, Lê Ðức Thọ, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt, Chu Văn
Tấn, Lê Văn Lương, Trần Ðăng Ninh, Hoàng Văn Hoan, Lê Thanh Nghị, Trần
Quốc Hoàn, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, và Ung Văn Khiêm. Ngoài ra còn
10 ủy viên dự khuyết: Nguyễn Khang, Tố Hữu, Nguyễn Văn Tan (Tạo?), Hồ
Tùng Mậu, Hà Huy Giáp, Nguyễn Thượng Vũ (Trung Nam), Hồ Sĩ Khang,
Nguyễn Chánh, Văn Tiến Dũng, Hoàng Anh. Ngày 16/3/1951, đài VM, rồi
ngày 7/4/1951, Ðài Tiếng nói Sài Gòn / Chợ Lớn tự do công bố tin này.
Tham dự Ðại Hội II có 158 đại biểu chính thức và 53 dự khuyết, thay mặt
cho 760,000 đảng viên ba xứ Ðông Dương (50 năm, 1982:118-9).
Cải cách ruộng đất
Hoan, 1987:359-367. Qui trách cho sai lầm của Trường Chinh, không phải do các cố vấn TQ. (Hoan, 1987:366-367)
Tháng 9/1956: Hội Nghị Trung Ương về sửa sai cải cách ruộng đất.