Ngày 04-09-1992, Lý
Tống từ trên phi-cơ lượn quanh thành-phố Sài-Gòn rải xuống 50,000 bản
tuyên-cáo kêu gọi đồng-bào Việt-Nam tổng-nổi-dậy xóa bỏ tặc-quyền
Cộng-Sản Hà-Nội, xong nhảy dù xuống thủ đô cũ của Việt-Nam Cộng-Hòa,
quyết-tâm ở lại để cùng chia-sẻ gian-nguy với đồng-bào ruột thịt dưới
ách quỷ dữ độc-tài, trong lòng quê-hương thương yêu.
Ngày
01-01-2000, Lý Tống tự lái phi-cơ, mang theo 50,000 tờ truyền-đơn, lượn
trên thủ đô Havana của nước cộng-sản Cuba, rải xuống kêu gọi dân-nhân
nước này đứng lên lật đổ “con khủng-long già” Fidel Castro, hung-thần
cầm đầu chế độ Cuba.
Ngày 17-11-2000, Lý Tống lại mang theo
50,000 bản tuyên-cáo, từ trên phi-cơ lượn quanh thành-phố Sài-Gòn, rải
xuống thúc-giục đồng-bào Việt-Nam vùng dậy đập tan bộ máy kìm kẹp của
cộng-sản, đem lại tự do dân-chủ và nhân-quyền cho quốc dân Việt-Nam...
Mỗi
phi-vụ như thế đều được các cơ-quan truyền-thông quốc-tế tức-thời sốt
dẻo loan tin, như một biến-cố phi-thường, và sát-sao theo dõi mọi
diễn-tiến liên-hệ tiếp theo để phổ-biến đi khắp hoàn-cầu.
Cộng đồng Người Việt Tỵ-Nạn Cộng-Sản mọi nơi trên thế-giới đều cảm-kích trước hành động can-trường này.
Ðồng-thời
với những tin-tức bài-vở tài-liệu và hình-ảnh của các hệ-thống
truyền-thông quốc-tế khắp trên Thế-Giới Tự Do, đồng-hương các giới, các
nhân-vật cộng đồng, các nhà lãnh đạo tôn-giáo và lãnh-tụ chính-trị,
cùng các nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà soạn nhạc, và bạn-bè của Lý
Tống, đã nói lên trong các cuộc mít-tinh, biểu-tình, lễ-lạc, hội-hè,
cũng như trong sách, trên các nhật-báo, tuần-báo, tạp-chí, đặc-san, làn
sóng truyền-thanh, truyền-hình, của Người Việt Hải-Ngoại, những
tình-cảm nồng-nàn và những suy-nghĩ sâu-sắc của mình đối với việc làm
anh-hùng của Lý Tống, ôn lại những kỷ-niệm thân thương mà Lý Tống đã để
lại trong lòng mình, vẽ nên một bức tranh toàn-cảnh tình-tiết
phong-phú, ý-nghĩa đậm-đà ...
“Ủy-Ban Phát-Huy Tinh-Thần Lý
Tống” tại Bắc California đã thực-hiện tuyển-tập “Tinh-Thần Lý Tống”;
“Nhóm Thân-Hữu Lý Tống” tại Texas đã xuất-bản tuyển-tập “Lý Tống Trong
Lòng Dân-Tộc”; “Nhóm Biên-Chú Lịch-Sử Việt-Nam Cận-Ðại” tại Nam
California đã phổ-biến tuyển-tập “Lý Tống – Chiến Dịch Trở Về Ðất Mẹ”;
các “Ủy-Ban Phát-Huy Tinh-Thần Lý Tống” tại các Bang ở Úc đã ấn-hành
tuyển-tập “Tinh-Thần Lý Tống” của mình...
Lần này, với phi-vụ
thứ ba, Lý Tống đã bị nhà cầm quyền Thái-Lan bắt giam, bỏ tù. Khi sắp
mãn án, một bản án gian trá, Lý Tống lại bị Việt-Cộng đòi dẫn độ qua
Việt-Nam đề bị xét xử lại về tội danh xâm-phạm không-phận Việt-Nam. Lý
Tống phẫn-uất quá độ nên đã quyết-tâm tuyệt-thực đến chết để phản đối
ác-tâm của kẻ thù và khuấy động tâm-thức của những người còn có
lương-tri . Đồng-hương khắp nơi đều rất xót đau và lo-lắng vô cùng cho
số-phận của người hùng...
*
Thấm-thoát đã hơn năm năm trôi qua.
Hôm
nay, trong niềm thương nhớ chung của đại đa-số đồng-hương và thân-hữu
của Lý Tống rải-rác khắp năm châu, tôi xin kể lại vài ba kỷ-niệm
riêng-tư giữa anh em chúng tôi, để bà con gần xa biết thêm đôi nét về
con người và cuộc đời của Lý Tống.
Lý Tống tên thật là Lê Văn Tống, sinh ngày 01-09-1945 tại Huế (Thừa-Thiên).
Giữa
năm 1964, Lê Văn Tống từ Huế gửi thư cho tôi báo tin quyết định bỏ dở
việc học tại trường Quốc Học, đi chơi một vòng từ Trung-Nguyên lên
Cao-Nguyên, xong vào Sài-Gòn, rồi xin gia-nhập Không Quân.
Ngày
23-08-1964, Ty Cảnh-Sát Quốc-Gia Tỉnh Quảng Ðức dưới quyền tôi có
tổ-chức một bữa tiệc. Tiệc mới bắt đầu thì Tống được xe Tuần-Cảnh chở
vào . Tống nói là ghé thăm tôi trên đường đi vào Sài Gòn. Quan-khách
không cho Tống đi tắm rửa mà bắt ngồi vào bàn liền. Chắc hẳn đây là lần
đầu học-sinh Lê Văn Tống có dịp chuyện-trò thoải-mái một lần với nhiều
viên-chức và sĩ-quan cao-cấp: đại-tá Tỉnh-Trưởng kiêm Tiểu-Khu-Trưởng,
Ðốc-Sự Phó Tỉnh-Trưởng Hành-Chánh, trung-tá Tiểu-Khu-Phó kiêm Phó
Tỉnh-Trưởng Nội-An, các Trưởng Ty dân-sự, Trưởng Ty An-Ninh Quân Ðội,
Tỉnh Ðoàn-Trưởng Bảo-An, các viên-chức và sĩ-quan cố-vấn Hoa Kỳ, v.v...
Chắc-chắn là Tống đã nghe nhiều điều bổ-ích từ những người này.
Sau
khi quan-khách ra về rồi, Tống được mời tiếp-tục ngồi lại với các đợt
thực-khách khác từ các Quận, Xã đến, vì họ rất khoái nói chuyện với “em
ông Trưởng Ty”, cho đến khuya.
Sau bữa tiệc ấy, có lẽ cũng là
lần đầu Tống uống rượu mạnh, mà lại uống nhiều, Tống say liên-tiếp hai
ngày, chỉ nằm và cười một mình. Các thuộc-viên của tôi thay nhau vào
thăm Tống và phê-bình: “Anh ấy thật là hiền-lành!”
Ở chơi với tôi đến ngày 02-9-1964 thì Tống lên đường tùng-quân.
Sau
đó ít lâu, trung-tá Phan Quang Ðiều, Trưởng Ty An-Ninh Quân Ðội
địa-phương, mang hồ-sơ của Tống đến, để tôi đọc, xác-nhận, và ký tên
bảo đảm về phương diện an-ninh chính-trị cho Tống.
Thế là em tôi đã trở thành quân-nhân.
*
Thời-gian 1970-73, tôi về Nha Trang chuyên-trách Ngành Ðặc-Cảnh Vùng II. Tống thường về đây thăm tôi.
Có hai hình-ảnh về Tống còn in đậm nét trong trí nhớ tôi.
Thứ
nhất, là hầu như lần nào Tống cũng dẫn theo một người bạn gái, mỗi lần
một cô khác nhau, mà cô nào trông cũng khá xinh. Ðó là chưa kể những cô
mà tôi và người nhà tôi không có dịp gặp bao giờ. Trong nhà, ngoài
đường, ai cũng khen Tống có số đào-hoa. Vợ tôi hỏi: “Sao chú chưa chịu
lấy vợ?” Tống cười: “Em còn bay nhảy mà!”
Thứ hai, là Tống có
thói lái xe thật nhanh. Xe của tôi, chiếc thì sơn hai màu xanh+trắng
của Cảnh-Sát, chiếc thì sơn màu trắng-sữa và mang bảng số ẩn-tế giả
thường dân, mà Tống cứ lái cái vụt vào phi-trường quân-sự Long Vân cũng
như một số căn-cứ quân-sự khác, không ngừng lại trước trạm kiểm-soát
của Quân-Cảnh, khiến các sĩ-quan an-ninh cứ than phiền với tôi luôn.
Các con tôi hỏi: “Chú lái xe kiểu gì mà nhanh thế?” Tống trả lời: “Chú
bay mà!”
*
Một hôm, không lâu trước ngày Quân Khu I
thất-thủ, trong thời-gian tôi làm Giám Ðốc Cảnh-Sát Ðặc-Biệt Vùng này,
Trung-Tâm Hành-Quân của Sư Ðoàn I Không-Quân gọi điện-thoại cho tôi,
báo tin Lý Tống đang bay từ Bửu Sơn ra Ðà Nẵng thăm tôi và sắp đáp
xuống sân bay . Tôi rất mừng vì tôi đã ra Vùng I từ cuối năm 1973 đến
nay mới gặp lại Tống. Tôi vội tạm gác mọi việc, ra phi-trường đón em.
Gặp nhau tôi mới biết là Tống đang gặp một chuyện khó-khăn. Tống được
cấp trên tín-nhiệm giao kiêm thêm việc quản-lý Câu-Lạc-Bộ Sĩ-Quan
Không-Quân ở phi-trường Bửu Sơn. Vốn tính bay bướm, Tống tuyển dụng một
cô gái, hẳn-nhiên là đẹp, vào làm việc phụ, giao cho cổ giữ quỹ công.
Cô thủ-quỹ ấy bỏ trốn, ôm theo số tiền mấy trăm nghìn đồng. Cấp chỉ-huy
gia cho Lý Tống một thời-hạn nhất định để kiếm lại đủ số tiền nói trên.
Tống vốn biết tôi là một viên-chức liêm-khiết, mà nhà lại nghèo, khó
giúp em được, nhưng vì là chỗ anh em, vui buồn có nhau, nên Tống tìm
tới với tôi . Và đó là lần cuối cùng anh em chúng tôi gặp nhau trên
quê-hương Việt Nam.
*
Tôi bị Việt Cộng bắt ngày
17-04-1975, và ra khỏi trại “cải-tạo” sau cùng là trại Tiên Lãnh ở
huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam - Ðà Nẵng, ngày 20-04-1987. Hai ngày
sau, về đến nhà ở Nha-Trang, tôi mới biết là Lý Tống đã qua Hoa-Kỳ được
ba năm rồi ...
Sau một thời-gian, thấy hơi nguôi ngoai, các
cộng-sự-viên cũ của tôi lần-lượt đến thăm tôi . Những người đã ở trong
trại A-30 thuộc tỉnh Phú Khánh cùng thời-gian Lý Tống bị “cải-tạo” ở
đó, đã kể lại cho tôi nghe về thái độ bất-khuất của Tống, nhất là một
lần Tống bị bắt quỳ mà không chịu quỳ, bị tên cán-bộ VC dí súng vào đầu
và bắn sát bên mang tai mà Tống chẳng sợ, dõng dạc quát lớn: “Bắn đi!
Lý Tống này chết đi thì còn có trăm ngàn Lý Tống khác!” Bản-lĩnh
cao-cường và câu nói lịch-sử đó cũng đã được nhiều người khác, nhất là
dân Phú Yên và Khánh Hòa, dù chỉ ở trại A-30 sau ngày Tống đã vượt
thoát khỏi trại, hoặc ở ngoài đời mà nghe người khác truyền-tụng lại,
kể lại cho tôi nghe với lòng cảm-phục vô-biên.
Một trong các
con gái của tôi, là Xuân Lộc, bị bắt về tội vượt biển, cũng bị giam ở
trại A-30 nói trên, sau khi Lý Tống sổ lồng đã lâu . Thế nhưng, vì danh
tiếng của Lý Tống đã được lan xa và lâu, từ trong trại ra ngoài dân,
nên hầu như ngày nào cũng có cả tù-nhân lẫn thường dân tìm cách đến gần
con tôi để nhìn cho biết mặt “cháu của Lý Tống”.
Trong
hàng-ngũ CSQG, có một nhân-vật nổi tiếng ngang bướng; đó là trung-tá
Nguyễn Văn Can, cựu Phó Giám Ðốc Cảnh-Sát Công-An Trung-Nguyên
Trung-Phần, cựu Trưởng Ty CSQG tỉnh Quảng Ngãi . Anh cũng bị giam ở
trại A-30, cũng được anh em kính phục vì anh đã công-khai chống lại Ban
Giám-Thị và các cán-bộ quản-giáo, điển hình là anh trước sau không chịu
hát bài “bác cùng chúng cháu hành-quân”. Việt Cộng hỏi lý do, anh trả
lời: “Tôi có đi hành-quân cùng với ‘Bác’ lần nào đâu ?” Năm 1991, trên
đường từ Huế vào Sài-Gòn, Can ghé thăm tôi ở Nha Trang. Khi đề-cập đến
Lý Tống, chính Can cũng không tiếc lời nồng-nhiệt ngợi khen.
*
Tại
Nha-Trang có một người con gái đẹp, tên Thu An. Cô là sinh-viên đại-học
ở Mỹ, về nước thăm nhà thì bị kẹt lại vì vụ Việt Cộng tiến chiếm Miền
Nam. Thân-phụ của cô là một sĩ-quan QLVNCH, cũng bị tập-trung “cải-tạo”
tại trại A-30. Thu-An đến thăm nuôi cha, để ý trông thấy Lý Tống lần
nào cũng đi chân trần, thản-nhiên dẫm lên gai nhọn, đá sắc, đất nóng,
than hồng. Thấy hiện-tượng lạ, cô tưởng Lý Tống không có gì mang, bèn
gửi vào biếu một đôi dép cao-su . Nhưng những lần sau Thu An đến trại
thì thấy Tống chỉ đeo đôi dép ấy ngang vai, không khi nào rời, còn thì
vẫn đi chân không. Sau đó, Thu An vượt biển, bị bắt, bị giam cùng trại
A-30 với Lý Tống. Ðược nghe kể lại về những thành-tích hào-hùng của
Tống, lại tận mắt thấy sức mạnh tinh-thần phi-thường của chàng trai,
người đẹp của Nha Thành đã dành cho em tôi một mối tình thật là thơ
mộng. Sau khi vượt thoát khỏi trại A-30, Tống đã ghé thăm Thu An - được
phóng-thích trước - để chào từ-biệt trước khi trốn vào Sài Gòn tìm cách
vượt biên.
Tống đã ra đi theo chí tang-bồng, biết đến bao giờ mới gặp lại nhau! Thế rồi Thu An qua Ðức, và lập gia-đình.
Cha
mẹ Thu An với tôi là bạn đồng-hương - Hưng-Yên. Bà mẹ thường đến thăm
tôi . Năm 1990, bà ấy qua Ðức thăm con, lúc về kể cho tôi biết là Lý
Tống đã có xuất-bản một cuốn hồi-ký nhan đề “Ó Ðen”. Sách ấy đến tay
Thu An. Bà ấy có đọc ở Ðức, và nói với tôi: “Ðáng lẽ Tống tránh nhắc
đến cũng như in ảnh Thu An trong cuốn sách đó, vì An đã có gia-đình.”
Năm 1991, Thu An cùng chồng và con về Việt Nam, tôi có gặp. Tôi mừng
cho cô có người chồng đẹp trai, rất yêu vợ, thật xứng đôi .
*
Những
người bạn cũ của anh em chúng tôi, dù không đọc được “Ó Ðen”, đã cho
tôi biết là Tống đã xâm-nhập được vào phi-trường Tân Sơn Nhất, nơi mà
Việt Cộng canh gác kỹ-càng. Tống leo lên được một chiếc phi-cơ, nhưng
bị trở-ngại kỹ-thuật nên không bay được, song dù bị lộ mà vẫn thoát ra
an-toàn.
Sau đó, tôi có đọc được phần chính của cuốn “Ó Ðen”
mà Tống tách ra từng xấp, bí-mật gửi về cho mấy người bạn ở Phú Yên, và
họ lén-lút chuyển vào cho tôi . Thế là trong nước đã có một số đồng-bào
biết được cuộc phiêu-lưu gian-nguy, vượt ba ngàn cây số, xuyên bốn
quốc-gia, thoát bốn nhà tù, bơi qua một eo biển, thật vô-tiền
khoáng-hậu của em tôi . Cuộc vượt biên ấy đã được cả thế-giới ca-tụng,
và tổng-thống Reagan của Hoa Kỳ tán-dương.
*
Bà con
còn kể lại rằng, trong những ngày Lý Tống trốn-tránh công-an Việt Cộng
ở Sài Gòn, vào năm 1980, có nhiều cô gái tìm đến với Tống, thậm chí làm
ồn vì ghen nhau, khiến các chủ nhà sợ hết hồn.
*
Bảy
năm, sau khi đã góp một phần vô-giá cho Lý Tống hai lần đột-nhập được
vào phi-trường Tân Sơn Nhất, rồi tiễn Lý Tống trót lọt qua Cam Pu Chia,
“người con gái tên Hạnh”, mà Tống đề-cập trong cuốn “Ó Ðen”, với
tư-cách một người bạn cũ của em tôi, được tin tôi đã từ trại “cải-tạo”
về nhà, liền gửi thư ra Nha Trang thăm tôi . Hạnh cho tôi biết địa-chỉ,
ngỏ lời mời tôi khi nào có vào Sài Gòn thì xin ghé đến để cho cô được
làm quen. Nội dung lá thư trang nhã, nét chữ viết đẹp, lời lẽ lễ-phép,
thân-mật, nhưng tôi cảm thấy có ngụ một chút tự-hào và tự-tin. Tống đã
có biết bao nhiêu bạn gái, thuộc nhiều thành-phần... Ðã bảy năm rồi,
còn gì! Ý Hạnh muốn cho tôi thấy ở cô có một giá-trị nào đó; ít nhất
thì cô cũng có công ăn việc làm, nhà cửa đường-hoàng, vẫn còn nặng tình
với Tống, còn muốn ra mắt bà con...
Cuối năm 1991, nhân dịp
tôi vào Sài Gòn để lập thủ-tục xuất-cảnh theo diện HO, Hạnh đến thăm
tôi . Qua cơn dâu bể, tôi chưa từng thấy có một cựu-nữ-sinh-viên
Văn-Khoa Sài-Gòn nào còn ở lại với quê-hương khốn-khổ mà còn giữ được
dáng vóc yêu-kiều của một thời xa xưa như Hạnh của em tôi . Tôi hỏi
Hạnh có muốn đi Mỹ không. Biết ý tôi hỏi có muốn qua với Tống không,
Hạnh đáp: “Không”. Hỏi: “Vì sao ?” Trả lời: “Vì nếu qua Mỹ thì phải làm
lại từ đầu”. Tôi hiểu ý Hạnh không nói về công ăn việc làm, nhà cửa, mà
nói về tình-cảm giữa hai người . Tôi hỏi: “Sao phải làm lại?” Hạnh đáp:
“Làm lại từ phía anh ấy, chứ về phần em thì có gián đoạn gì đâu ?” Tôi
hỏi về tương-lai, cô đáp: “Em sẽ ở vậy trọn đời!” Tôi lại hỏi thêm:
“Tống có còn gì cho em hay không?” Hạnh nhìn thẳng vào mắt tôi: “Anh ấy
nếu không còn gì cho em, thì vẫn còn có một cái gì vô cùng lớn-lao và
cao-đẹp hơn, cho mọi người!”
Tình yêu của Hạnh đã chuyển từ một vô-vọng vị-kỷ sang một kỳ-vọng vị-tha ...
*
Ðầu năm 1992, tôi đến Hoa Kỳ, ở California; Tống ở Louisiana .
Trước
khi nạp trình luận-án tiến-sĩ chính-trị tại Viện Ðại-Học UNO
(University of New Orleans), Lý Tống có gửi qua cho tôi xem hai bản
lược đồ, biểu-thị nội dung chủ đề là “Integrative Elephantism and the
Causes of War Initiation” và “The Bull’s Eyes of Integrative
Elephantism”. Vì không kèm theo bản văn nên tôi không hiểu ý chính, chỉ
thấy lược đồ thứ nhất “Học-Thuyết Ðại-Tượng Nhất-Thống (?)và Những
Nguyên-Nhân Khởi-Chiến”, trình-bày hình một con voi đứng trên nền-tảng
kỹ-thuật bằng hai chân sau (Năng-Lực Công-Nghiệp và Năng-Lực Quân-Sự),
đưa cả hai chân trước lên (Năng-Lực Chính-Trị và Ðặc-Tính Quốc Dân),
cho thấy cái bụng là Lãnh-Thổ, cái lưng là Dân-Cư, cái đuôi vẫy lá cờ
Mỹ (Chủ-Nghĩa Lý-Tưởng Ðạo Ðức), cái cổ là An-Ninh Quốc-Gia, cái tai là
Chủ-Nghĩa Hiện-Thực Chính-Trị, trên đầu đội mũ biểu-trưng USA, đôi mắt
là Quyền-Lợi Quốc Dân, cặp ngà là tinh-thần Phản-Cách-Mạng, cái vòi
quấn quanh và nâng lên cao một người con gái mặc bộ đồ tắm (không rõ là
để quật chết hay để tung hô) có mang nhãn-hiệu Chủ-Nghĩa Ðế-Quốc (không
rõ để chỉ cô gái hay là cái vòi); và lược đồ thứ hai “Trung-Tâm Ðiểm”
(cũng là yếu-tố thành-công) của Học-Thuyết Ðại-Tượng Nhất-Thống (?) cho
thấy có năm cấp độ, với nhiều phụ-chú chi-tiết, giữa Hòa-Bình và
Chiến-Tranh: từ Hòa-Bình đến Cạnh-Tranh 20%, từ Cạnh-Tranh đến
Tranh-Chấp Nhẹ 40%, từ Tranh-Chấp Nhẹ đến Tranh-Chấp Nặng 60%, từ
Tranh-Chấp Nặng đến Bờ Vực Chiến-Tranh 80%, và từ đó đến Chiến-Tranh
100%.
Tôi chỉ hiểu được thế thôi, và đã tự hỏi chẳng lẽ Lý
Tống muốn nói đến Ðảng Cộng-Hòa mà biểu-tượng là Con Voi, hay muốn
triết-lý về chuyện một số người mù “thấy” voi giống như cái gì của
Việt-Nam ta ? Chắc phải là một kết-luận vững-vàng cho một công-trình
nghiên-cứu “lớn” về tình-hình bốn bể năm châu.
Vì sợ quấy rầy
em mình đang bận với luận-án ấy, vả lại không thể nghe hết cả một vấn
đề rắc-rối như thế qua đường điện-thoại viễn-liên, nên tôi vẫn chưa
hiểu được Tống muốn nói gì. Chính-trị mà!
*
Lý Tống
tiến-hành nhiều dự-án cùng một lần. Thí-dụ: Tống nhờ tôi giúp soạn-thảo
một sáng-tác-phẩm gọi là “Tự-Ðiển Thi-Nhân”; nhưng đó lại là cuốn sách
gợi ý, gợi vần, tìm chữ cho người tập-tễnh làm thơ, được sắp xếp theo
thứ-tự từ điển ABC: A thì, một mẫu-tự cuối, là “lắm a ?”, “thế a ?”,
“vậy a ?”; rồi qua hai mẫu-tự cuối, là “ba-ba”, “thu-ba”, “yên ba”,
“đàn ca”, “hát ca”, “thi ca”; đến ba mẫu-tự cuối, là “lòng cha”, “mẹ
cha”, “ông cha”, v.v... Tự điển này gồm có ba thứ tiếng Việt Anh Pháp:
Tống muốn hướng dẫn cho cả những người là dân nói tiếng Anh, Pháp, cũng
có thể dùng cuốn tự điển này để chọn chữ, gieo vần, làm thơ Việt Nam!
Thế nhưng, cuốn tự điển ấy, và nhiều công-việc khác nữa, chưa đi đến đâu thì Tống đã bỏ lên đường trở về quê-hương...
*
Ðó là nói về phi-vụ đầu tiên của Lý Tống về Sài-Gòn.
Về hai phi-vụ tiếp theo, tôi thấy sự thật tình-báo Việt-Cộng chẳng tài giỏi gì .
Trước
khi bay qua Cuba vào ngày 01-01-2000, Lý Tống đã có báo tin cho các
bạn-bè ở nhiều tiểu-bang khác nhau; và cái tin ấy hẳn là đã được nhiều
người truyền qua tai nhau . Riêng tôi, trong lúc tham dự buổi tiệc
tất-niên của tuần-báo “Mẹ Việt-Nam” do cô chủ-nhiệm Như Hảo thết đãi
tại San Jose vào sáng ngày 31-12-1999, tôi đã hỏi nhà thơ Diên Nghị,
ký-giả Cao Sơn của “Tin Việt News”, ký-giả Ðỗ Quyên của “Thời Báo”, và
các bạn, rằng họ nghĩ sao nếu Lý Tống lại sắp “làm một việc gì”. Về
nhà, tôi điện-thoại gọi ban giám đốc đài phát-thanh “Quê Hương” đề-nghị
họ theo dõi tin-tức thời-sự nóng sốt về Người Việt Hải-Ngoại vào dịp
năm cũ bước qua năm mới này .
Ở cả hai phía (truyền-thông
chống nhau), họ đều biết rõ chí-nguyện của Lý Tống, và Lý Tống lại là
em tôi . Mà tôi nói ra tức là phải có chuyện gì.
Ðặc-biệt, về
phi-vụ thứ ba, tức phi-vụ Việt-Nam lần hai, trước khi bay qua Cam-Bốt
vào ngày 01 tháng 11 năm ấy, Lý Tống đã gửi thư, và cả mẫu in bằng màu
của tờ truyền-đơn sẽ dùng, cho khá nhiều người cùng nhận, cũng ở nhiều
nơi, trước đó ít nhất là cả một tuần. Rồi kế-hoạch bay từ Cao-Miên vào
ngày 09-11 không thành, Lý Tống bay qua Thái-Lan vào ngày 14-11, đến
ngày 17-11-2000 mới thực-sự lên đường trực-chỉ Sài-Gòn. Nhưng trong các
ngày trước đó, các sự đi lại và chuẩn-bị của Lý Tống đã diễn ra
công-khai, kể cả nhờ viên quản-lý
khách-sạn quay phim cảnh
Tống sinh-hoạt tại sân bay xuất-phát, cùng với phi-công huấn-luyện và
phi-cơ sẽ dùng, để làm kỷ-niệm và lưu tài-liệu về sau . Tất nhiên không
thể quên được là trước đó Lý Tống đã vượt nhiều ngục Thái-Lan,
hoàn-thành chuyến đi được cả thế-giới và tổng-thống Mỹ Reagan ngợi khen
(1980-84), đã đột-nhập vào phi-trường quân-sự Ubon để ăn cắp phi-cơ của
Thái Lan (31-8 và 1-9-1992), đã viết thư tường-thuật vụ này để báo
Bangkok Post đăng-tải rồi các báo khác phổ-biến, làm mất uy-tín của
Thái-Lan (28-9-1992), đã đáp phi-cơ dân-sự từ Thái Lan về Việt-Nam để
rải truyền đơn (4-9-1992), đã bị Việt-Cộng xử tù (1992-98), đã bay qua
rải truyền đơn chống cộng Cuba (1-1-2000) ...
*
Bây giờ thì Lý Tống đang lâm nạn vì phi-vụ Việt Nam lần thứ hai này .
Nỗi
đau của Lý Tống là chính Thái-Lan, một đồng-minh cũ của Việt-Nam
Cộng-Hòa, một quốc-gia trong Thế-Giới Tự Do, một nước thân-hữu của
Hoa-Kỳ, đã bóp méo Sự Thật để ghép Tống vào tội không-tặc hầu tiện bỏ
tù, rồi nay lại còn ngần-ngừ trước yêu-sách hại Tống của cộng-sản
Việt-Nam.
Một người bình-thường nào đó cũng có thể hiểu Lý
Tống là một chiến-sĩ của Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, chứ không phải
là không-tặc.
Dù sao, để bù lại, Lý Tống đã nhân dịp này mà học được nhiều bài học, và đã đạt được nhiều bước tiến-bộ tuyệt-vời.
Trong
tù, Tống nắm rất vững tình-hình thế-giới, Iraq; trở thành am-tường
luật-pháp, công-pháp quốc-tế lẫn luật-lệ Thái-Lan. Tống đã thành-công
trong việc sưu-tập đầy-đủ bản chính của mọi văn-kiện liên-hệ của các
cơ-quan, từ cảnh-sát qua công-tố-viện đến pháp-đình, kể cả dính-líu đến
Bộ ngoại-giao sở-quan, và đã gửi đến hầu khắp các vị lãnh đạo các
cường-quốc và cơ-quan quốc-tế, cũng như các giới truyền-thông.
Do
đó, dù cho tòa án Thái-Lan có xử Lý Tống thế nào đi nữa, mọi người đều
thấy các lời chứng gian và các bằng-cớ ngụy-tạo trong vụ án này, và vẫn
công-nhận Lý Tống là một Chiến-Sĩ của Tự Do, Tự Do không riêng cho
Việt-Nam mà còn cho cả các nước chưa thoát chế độ độc-tài.
*
Thân-hữu
và đồng-hương gần xa đang cố gắng thuyết-phục Lý Tống tạm ngưng
tuyệt-thực, bảo-toàn sức khỏe để tiếp-tục tranh đấu cho đến thắng-lợi
cuối-cùng.
Cầu mong cho Lý Tống, đang vì Hạnh-Phúc của
đồng-bào mà phải lâm vòng lao-lý, được sớm trở về với Thế-Giới Tự Do,
trong lòng Dân-Tộc, trong vòng tay thương yêu của mỗi một chúng ta.
LÊ XUÂN NHUẬN