Mảnh đất chuồi
Theo Đàn Chim Việt - Nguyễn Văn Lục - 13-05-2006
 |
Nguyễn Văn Lục — Nguồn: DCVOnline
|
Đề bài phóng sự “đẻ thuê” được báo chí trong nước đăng tải tự nó như
một trái bom nổ chậm. Xưa nay, người đời chỉ quen nói tới nhà cho thuê,
làm thuê, đi ở thuê, chuyện cho thuê. Nhưng đẻ thuê thì lạ quá. Có đất
nước nào như thế không? Đất nước ta như mảnh đất chuồi, sụt lở. Vá chỗ
này thì lở chỗ kia. Trái bom nổ đó đã được tuồn ra nước ngoài qua các
báo chợ. Trong nước, người viết phóng sự chỉ muốn nêu ra một vấn đề xã hội, vấn đề con người, vấn đề phẩm giá người phụ nữ bị chà đạp. Ngoài nước chuyện đẻ thuê được đẻ lại thành một vấn đề chính trị, một cơ hội bêu riếu chế độ.
Này tôi bắt đầu kể cho em nghe... Câu chuyện phóng sự bắt đầu như thế
này: “Theo lời kể lại của Tài, chạy xe ôm ở ngã tư Bình-Phước, cách đây
hai năm, bạn Tài có quan hệ với một công nhân ở khu công nghiệp Sóng
Thần. Kết quả cô có bầu, sinh một bé trai. Vì bạn Tài đã có gia đình
nên Tài giúp bạn là tìm mối bán đứa bé trai cho một cặp vợ chồng hiếm
muộn mua với giá 40 triệu”.
Thế là Tài bỗng nhiên trở thành “Anh Cò” chuyên nghiệp cho dịch vụ đẻ
thuê này. Tiền trả cho cô gái khoảng từ 30 đến 40 chục triệu. Cô gái
trong chuyện là Nga phải tiếp, phải ngủ với người đàn ông cho đến khi
có bầu. Đưa trước 15 triệu, còn bao nhiêu viết cái giấy nợ sẽ hoàn trả
sau khi “giao hàng”. Chi phí như khách sạn, nhà trọ, khám thai, dưỡng
thai, chi phí, sinh đẻ và các chi phí hậu sản, bên “A” phải lo toàn bộ.
Theo Tài cho biết, trong hai năm qua, Tài đã giới thiệu được 30 cặp vợ
chồng hiếm muộn ở Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh. Các dịch vụ xảy
ra ở khu công nghiệp Sóng Thần 1 và 2, khu chế xuất Linh Trung. Công
việc của anh ta là chạy xe ôm, nhưng thu nhập chính lại là huê hồng đẻ
mướn. Cứ một “sô” thành công, khách cho anh 2 triệu đồng và cô gái
thưởng 1 triệu đồng.
Cũng theo Tài, các cô gái nhận dịch vụ này hầu hết là dân nhập cư từ
các tỉnh vào thành phố, sau một thời gian tối tăm mặt mũi tăng ca,
chẳng thấy mặt trời đâu, nhưng cuộc sống hết sức chật vật nên chấp nhận
một nghề “mới không ra mới, cũ không ra cũ này”, với mong muốn cuộc
sống sẽ được đổi đời, khấm khá.
Câu chuyện thật là buồn. Anh nghĩ gì? Chị nghĩ gì? Em sẽ nghĩ gì? Chúng
ta nghĩ gì? Nếu em là bạn của Nga? Nếu Nga là em gái em? Và nghĩ tiếp,
nếu Nga là con em? Đừng giận anh, nếu Nga lại là chính em thì sao? Đến
đây thì không phải chỉ có tôi hỏi em, mà chính tôi phải tự hỏi mình:
Tôi nghĩ gì? Và nhất là tôi phải làm gì, nếu em là Nga? Còn một câu
hỏi, xin hỏi cho chót. Nếu Nga là mẹ em? Chúng ta sẽ nghĩ gì? Tôi sẽ
nghĩ gì về em?
Em gục vai tôi trả lời: em không biết, không biết.
Phần tôi, tôi nghĩ thế này. Nếu đất nước không phải mảnh đất chuồi. Tôi
sẽ không ngồi đây đặt những câu hỏi vớ vẩn như trên. Nga sẽ có một đời
sống gia đình bình thường, có chồng, có con, có đi làm. Như em, như
chị, như mọi người. Chỉ cầu mong như mọi người mà không được. Nhưng
cuộc đời Nga không phải vậy.. Nga rơi vào tình trạng tồi tệ nhất trong
một xã hội mà bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra được.. Nga đã cho đẻ
thuê, đã cho mượn cái phòng trống trong người mình. Một cái phòng đặc
biệt, cho một người khách đặc biệt cả ăn ở. Bây giờ, người ta gọi là
Surrogate mother . Nhưng trá hình như một gái điếm. Cái trớ trêu là Nga
vừa làm điếm vừa làm mẹ. Thật khó cho Nga để có thể làm hai việc một
lúc mà không đụng chạm đến hai người. Người ta không thể cùng một lúc,
vừa làm mẹ, vừa làm điếm được. Người đàn ông tìm đến Nga cũng không thể
vừa muốn làm cha, vừa là thằng chơi gái được. Anh có thể đóng diễn đàng
hoàng, gián tiếp được vợ đồng tình thỏa thuận và rất có thể có lần chị
vợ anh ngồi ở một phòng bên cạnh chờ kết quả. Điều đó càng trở nên tồi
tệ hơn. Hình như tất cả những người trong cuộc đều là những người
“thiện chí” và hành động của họ nhằm một mục đích tối thượng, cao cả: có được đứa con ra đời.
Nhưng mỗi tác nhân trong cuộc này, trong tình huống đó, vô tình đã bẻ
gẫy tất cả những ràng buộc đạo lý, tình người, nhân cách và cái giây
máu mủ vốn là nền tảng của đời sống gia đình. Và hình như không ai để ý
đến thân phận đứa trẻ khi ra đời đã thiếu quê hương, mất chỗ về: tình mẫu tử và cái cuống rốn cắt dời khỏi mẹ nó mở đầu cho một cuộc đời lang thang.
Từ nay mọi chuyện sẽ không còn như cũ nữa, sẽ không bình thuờng, sẽ
khác, sẽ rơi rụng đổ vỡ tứ phía, sẽ dầy vò làm khổ mọi người. Chính
Nga, rồi chồng Nga. Nga bơi chải, bị dằng xé trong những đau khổ về tư
cách người mẹ, người vợ và nhất là cái mất mát của đứa con ra đời... Có
gì có thể đền bù lại những mất mát như thế? Tiền bạc nào có thể trang
trải nợ nần, xóa bỏ những tình cảm sâu kín của Nga? Cái bụng của Nga
không phải thuần túy là cái phòng trống cho thuê trong 9 tháng 10 ngày?
Suốt đời Nga sẽ đi tìm hình ảnh đứa con Nga đã sinh ra nay đã không còn
nữa? Chính người đàn ông xa lạ và người vợ của hắn… rồi đến “cái gọi là
đứa con của họ” có thế nào có cuộc sống ngoảnh mặt lại với cái quá khứ
mà tự nó đã thiếu cái “ raison d!être”, cái mà ta tạm gọi là “Lẽ sống ở
đời”?
Ngoài kia, nắng đã lên. Phải rồi. Nhưng trong vùng u tối của mỗi người lóe lên hình ảnh: Thân
xác người đàn bà nay trở thảnh “một món hàng không vốn, một kỹ nghệ
không Khói” và người ta mường tượng đến một thế gian, với mảnh đất
chuồi mà cảnh mặt trời sẽ tối đi, mặt trăng sẽ không có ánh sáng và sao
trên trời sẽ rơi xuống... và một lời nhắn nhủ: Thế gian này chỉ còn là
mảnh đất chuồi, sau bao nhiêu năm chinh chiến, tưởng nay nó là miền đất
hồi sinh? Hoá ra vẫn là đất chuồi.
Em ơi, hãy cùng tôi ôn lại dĩ vãng để hiểu tại sao đã có những
người như Tài và những người như Nga… Em nghe chứ, gật đầu đi, anh
thương.
 |
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi goá phụ nhạt mờ vết son,"Tưởng như còn người yêu", ý thơ Lê Thị Ý
— Nguồn: vwam.com/
|
Này
là năm 1967. Dương Thu Hương (DTH) mới vừa hai mười tuổi, tuổi để yêu
đương, rồi để lấy chồng, làm vợ rồi làm mẹ. DTH đã như mọi thiếu nữ trẻ
khác đã ra chiến trường. Sau chiến tranh trở về từ miền Nam, DTH đã chỉ
mang về được một con búp bê làm quà cho con. Trong số 40 người trong
tiểu đội của DTH, chỉ có 3 người có cơ hội sống sót. Còn những người
khác? 37 người kia, số phận đã không may mắn đối với họ, họ đã không có
cơ hội để trở về theo cái nghĩa “sinh bắc, tử Nam”. DTH khi trở về thấy
“Họ” vui sướng, còn Bà thì lại thấy “đau khổ” vì đã thấy tận mắt. Và
thấy rằng chế độ của kẻ chiến thắng là man rợ chỉ vì lúc đó vào Nam: “Tôi
mới thấy là người dân họ chửi TT Thiệu như điên ấy”. Thế hệ chúng tôi
“xẻ Trường Sơn đánh Mỹ”. Rốt cuộc thắng hay bại thì người Việt Nam cũng
là người bại trước.
Miền đất chuồi đã hy sinh hằng triệu người như thế mà ngày nay
chẳng ai buồn, và chẳng ai được phép nhắc tới họ. Và những người còn
sót lại và thế hệ của họ không còn sức để có thể sống cuộc đời đàng hoàng được nữa. Đất đã chuồi thì sống là trên hết.
Đây mới là bắt đầu câu truyện. Nào em, em hãy lắng nghe anh kể.
Kể rằng, tại xã Hương Văn và xã Hương Vân, huyện Hương Trà, cách thành phố Huế chỉ hơn chục cây số đã nổi tiếng là Xóm Không Chồng,
nơi nổi tiếng nhiều phận phụ nữ quá lứa lỡ thì. Có đến 167 phụ nữ một
mình nuôi con. Lỗi tại chiến tranh? Sâu xa nhất là ở đó? Thời xuân sắc
của những cô này là thời chiến tranh chống Mỹ ở đọan khổ nhất.
Trai trong vùng đi nhiều về ít.
Như chị Hoàng thị Xa. Tuổi 45 đã chống gậy. Sinh năm con mà mang bốn
họ. Trớ chêu, đây là gia dình”tiến bộ” nhất của xã trong những gia đình
không chồng lắm con ở xã Hương Vân, bởi chỉ vì một lý do tất đơn giản
là là cháu út Trương văn Hoàng Khánh Vương được: biết cái chữ và đã
giúp chị rất nhiều. “Tôi” buồn trĩu cả lòng khi bước vào sân nhà chị,
nghe giọng một bé gái nằng nặc: “Hết gạo rồi, trưa ni nhịn đói.”. Giọng
đặc sệt Huế.
Anh đừng nói xấu Huế của em. Em ghét anh.
Nào đã hết, Hồ thị Huệ ở xã Hương Vân, cũng bốn con mang ba họ. Chị
Thùy cũng năm con mang bốn họ. Ám ảnh của những người phụ nữ có chồng
mà không có con là ám ảnh có đũa, có đôi.
Chị Tải ngậm ngùi, người ta có đũa có đôi, còn tôi sớm tối mồ côi một
mình... Nói rứa thôi chứ mình còn có con. Chị Tải tâm sự tiếp: Có con
là do “ăn trộm”. Đứa trước bố có nhìn mặt, đứa sau do ăn chùng ăn thính
với chồng người ta mà có. Ám ảnh có lẽ là thứ hành trang nặng nhất mà
những người phụ nữ này phải mang. Ám ảnh vì có con mà không có chồng.
Ám ảnh vì cuộc đời túng nghèo, bạc bẽo? Như chị Huệ sinh bốn con mà
chưa cho chúng bữa cơm nào trọn vẹn. Ám ảnh vì những câu chuyện tưởng
chừng như chuyện cổ tích? Và hơn cả và cuối cùng là ám ảnh về một tương
lai vô vọng của chính mình và của những đứa con mình sinh ra. Cách Huế
10 cây số, có phải là Huế không?
 |
không chồng mà lại... muốn có con... — Nguồn: go4women.com
|
Đi
xa Huế một chút nữa, về miền núi Tiên Hà, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng
Nam thì người ta thấy một cảnh xót xa cùng kiểu... Đó là xã Tiên Hà
đang chiếm kỷ lục cả nước về phụ nữ không chồng. Hơn một phần ba số hộ dân Tiên Hà là những gia đình “không có đàn ông”. Nhưng không chồng mà lại... muốn có con...
Họ là ai? Họ là những cô gái thanh niên xung phong trong “tiểu đoàn bà
Thao”. Tiểu đoàn đã tham gia tải đạn và lương thực trên đường số 9 Nam
Lào vào những năm chống Mỹ ác liệt nhất. Họ là những phụ nữ nổi tiếng
một thời với những tên như Hai Khởi, Tám hồng, Hoa, Tân...Trở về sau
chiến tranh, họ không có cơ hội làm vợ, làm mẹ. Bà Khởi “cưới chồng”
vào năm 1965 sau đó ra mặt trận. Đến bảy năm sau, 1982 mới trở về thì
chồng đã tử trận. Lúc đó đã 36 tuổi rồi ai mà ưng. Rồi “tự túc” được
hai đứa con. Bà Bốn Thời cũng thế. 1967 lấy chồng. Rồi 1967 ra trận. Ba
năm sau chồng đã hy sinh, nhưng mãi hai năm sau, bà mới biết tin. Nén
nỗi đau, bà thầm lặng trở về chịu cảnh phòng không và đến năm 1984 thì
tự túc được một đứa con tên Tuyết... Bà Hoa, bà Tân cũng lặng lẽ trở về
sau cuộc chiến, nay đau đáu phận phòng không.
Muốn nhận ra gia đình nào không chồng mà có con... thì cũng dễ.
Tại sao dễ hở anh? Làm sao biết được một người đàn bà không có chồng?
Thì em cứ nhìn dây phơi đồ, toàn là quần áo đàn bà và trẻ nhỏ. Là biết.
Chuyện dễ hiểu thôi. Tiên Hà xa xôi quá, ai mà thèm tới. Phải tự túc
thôi... Có đuợc chồng mới là... chuyện lạ. Phải chăng ở Tiên Hà có chuyện âm thịnh, dương suy? Không chồng mà lại có con mới là chuyện thường.
Chả thế mà chị Liễu ngày trước đi giao liên, ba lô sau lưng. Nay hoà
bình trở lại về làng, cũng liền tù tì lần lượt đeo “ba cái lô”. Nhưng
lần này thì khác. Chị đeo ba lô trước bụng. Họ là những phụ nữ đã bỏ
quên cái tuổi thanh xuân vào những năm 80 thế kỷ trước. Khi ngoảnh lại,
sau chiến tranh, cái tuổi đã phũ phàng đuổi tuổi xuân đi.
Và bà Nguyễn thị Cúc, trong cái ngày 8 tháng 3, ngày kỷ niệm và mừng
Quốc Tế phụ nữ, bà chỉ có thể thở dài chọ chẹ nửa tiếng Huế, nửa tiếng
Quảng Nam: “Cái
đất ni không biết răng mà lạ rứa. Trông cho ngày sau những người chồng,
người cha trở về nhận con, để cho thôn xóm vui cửa, vui nhà...” Chẳng biết cái ước vọng vui cửa, vui nhà của bà Cúc bao giờ trở thành hiện thực? Nhưng đời sống con người là vậy.
Bởi vì nếu không có ước mơ thì người ta rất là khó sống.
Anh ơi, răng anh kể chuyện khác đi, được không? Cái gì mà cứ không chồng, không chồng hoài.
Thì đây, anh xin kể hầu em chuyện khác. Xuân là một em gái, tuổi còn
quàng khăn đỏ. Tuổi chênh vênh giữa15-16. Em đã bị đưa đi làm hộ lý
phục vụ cho những người con của đất nước mà tuổi nhân ba lần tuổi 15,
ít lắm bằng tuổi bố em. Họ đã để vào người em. Chẳng cần dao găm kẻ thù
đâm vào, vậy mà da em đã chảy máu. Em đã ra chiến trường, em đã đổ máu
mà vũ khí trang bị giản dị chỉ là cái âm hộ của chính em... Có nơi nào
như thế không? Irak, Iran? Palestine? Có những người phụ nữ ôm bom?
Nhưng vẫn chưa kiếm đâu ra nổi những người con gái như Xuân. Tên em
thật trớ trêu. Em hiến tuổi xuân, hiến cuộc đời con gái cho một mục
đích cao cả là: đánh đuổi kẻ thù. Và cái người đàn ông để vào em là
biểu tượng cho lý tưởng đó. Tất cả đều lý tưởng, đều hoành tráng như
một bản tình ca hay tình yêu nước.
Giờ thì tôi không hỏi em nữa. Có ai trong bạn đọc đang đọc đến dòng này chảy được một giọt nước mắt “nhân loại” không?
Và đây là câu chuyện chót về mảnh đất chuồi. Câu chuyện của một phóng viên ngoại quốc kể lại với tựa đề như sau: Việt Nam, nữ cán binh thời chiến, nỗi đau thời bình.
Lamb đã nhận xét cho thấy có hàng triệu cán binh nữ Việt Nam đi chiến
đấu. Trên thế giới, đã có bao giờ có một cuôc chiến nào nặn vắt đến
hàng triệu nữ binh lao vào cuộc chiến đấu chưa? Thì đây này. Họ làm đủ
thứ nghề, có cả nghề hộ lý nữa như Xuân vừa kể ở trên. Nhưng Xuân chỉ
là những trường hợp hiếm hoi. Phần đông bọn họ là những những phụ diễn
của một cuộc chiến với đủ thứ nghề không tên: Tình báo, thông tin, gài
người, tâm lý chiến, ca viên hát, ca viên múa, khuân vác, tải thương,
phục dịch với nhiều nghĩa. Chỉ nội sự có mặt của vài người trong bọn họ
trên đường Trường Sơn cũng đủ nức lòng để những người thanh niên lao
vào cuộc sinh tử, không có ngày về.
Sau chiến tranh, những người phụ nữ bất hạnh trở về thân tàn ma dại.
Không còn nghề ngỗng gì, tuổi lớn mà người như phế vật, cộng với những
năm tháng đói khổ, bệnh tật trong rừng sâu. Mặt mũi tóc tai như loài cỏ
đại, nắng cháy, da khô nứt nẻ. Gan bàn chân sỏi đá, bàn tay u lên những
đốt xương. Chừng đó thứ, chừng đó vết tích. Nay có thể rơi vào cảnh ế chồng.
Theo lời một nữ cán binh trong đoàn 559 đã tâm sự “Chúng tôi đã sống và
ngủ chung không đụng chạm”. Người phụ nữ đó đã cho rằng có được sự kiềm
chế là nhờ tinh thần bảo thủ về văn hóa. “Tôi không thấy một vụ mang
thai nào trong đơn vị của chúng tôi. Chúng tôi khao khát tình yêu trong
âm thầm.”.
Thật trân trọng. Cô đã giữ được chữ trinh, cái ngàn vàng không để mất đi. Nhưng có bao giờ cô nghĩ rằng cả quãng đời tuổi trẻ của cô đã mất đi không bao giờ lấy lại được nữa?
Cụt chân thế chân khác, cụt tay có cánh tay giả, ngay cả âm hộ bị cho mượn như Xuân, cô vẫn còn chút hy vọng. Nhưng cụt tuổi trẻ thì lấy gì thế vào?
Trong buổi họp mặt tại một quán ăn ở Ninh Bình, những người con gái kể
như bất hạnh đó đã tụ tập nhau lại để vinh danh 40 người trong bọn họ
đã không còn cơ hội trở lại từ Trường Sơn và 50 người khác đã có may
mắn trở về. Buổi họp mặt đoàn tụ mà tiếng cười thì ít, chỉ có những
giọt nước mắt. Đưa tang quá khứ hay khăn trắng cho tuổi thanh xuân đã
mất? Họ đã chuyện vãn và trao đổi những kỷ niệm và khi bữa ăn trưa được
dọn ra, người chỉ huy của đoàn... Trần thị Bình, đã đứng lên và loan
báo rằng bà muốn chia sẻ với các bạn một bài thơ do bà sáng tác “Thời con gái”. Bài thơ dài, và bà đọc từ trí nhớ theo lối diễn ngâm, đôi mắt bà nhắm lại:
 |
một đời hoa có bao giờ hai lần nở… — Nguồn: onvertigo.ca
|
Tôi muốn đốt một nén hương
Cho những người con gái xấu số
Dù họ không bao giờ trở lại.
Chúng tôi những người đánh mất tuổi thanh xuân,
vẫn đợi chờ
chúng tôi những cô gái Trường Sơn
tóc đã hoa râm và lòng tràn đầy kỷ niệm
tưởng nhớ những người bạn tình
đã đi xa không bao giờ tìm được.
Những
phụ nữ khác tại bàn khi nghe bài thơ đã ngoảnh mặt đi. Một vài người úp
mặt vào lòng bàn tay. Vài người lấy giấy thấm nước mắt. Khi bà Bình
chấm dứt, một sự im lặng bao trùm. Rồi có người lên tiếng: Hãy làm cho ngày hôm nay là một ngày vui đi.
Cô Nga sau khi cho thuê đẻ. Hết kỳ hạn. Ít ra cô vẫn là cô. Cả em Xuân
nữa. Sau này em đã có chồng. Có hai con. Nhưng những người nữ chiến
binh, họ còn lại được gì? Có cần tôi nói thêm điều gì nữa không? Còn
phần em, nghe xong chuyện em đã rơi lụy: Từ rầy sắp tới, anh đừng hành hạ em bằng những câu chuyện như thế nữa.
Chú thích thêm: Bài viết này dựa vào những tin tức, phóng sự
trong nước để viết ra. Người viết đã chủ ý giữ cả tên tuổi thật của
những phụ nữ bất hạnh cũng như nơi chốn của câu truyện. Đó là những câu
truyện thật, người thật. Và xin cám ơn các phóng viên trong nước đã
giúp như một thứ tư liệu để viết nên bài này với tấm lòng trân trọng
của tác giả..
Phần bà Bình, sau chiến tranh chấm dứt, bà đã trở về sống một mình
trong suốt 17 năm, một hình thức lưu vong trong một xã hội nặng thành
kiến, nặng tinh thần gia đình, trong đó những người phụ nữ lấy chồng
muộn và những cặp vợ chồng không con là những đối tượng để người ta
thương hại. Rồi do sự xúi bẩy của bạn bè, những cựu đồng chí trong đoàn
phụ nữ 559. Bà Bình “đã lấy một người chồng qua đêm” và sinh được một
đứa con gái 10 tuổi, tên cháu là Lan. Nay bà và đứa con sống với nhau
trên một cánh đồng lúa nhỏ do tự mình bà canh tác. Người
viết và chắc là tất cả bạn đọc bài này đều chung một mong ước: Cầu mong
cho những người phụ nữ như Dương Thu Hương, Nga, Xuân và những phụ nữ
tại các xã Tiên Hà, Hương Văn và Hương Vân, huyện Hương Trà tìm lại
được mảnh đất hồi sinh, thay vì mảnh đất chuồi.
Và riêng cháu Lan không gặp cảnh ngộ như mẹ cháu: Người đàn bà đã đánh rơi tuổi trẻ.
Copyright © 2006 DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: