Nhà văn thường là kẻ bất công với chính mình: bất công với những gì
hắn đã viết ra. Hắn thường nhìn lại tác phẩm của hắn với con mắt nghi
ngờ, không toại nguyện. Càng nghi ngờ, không toại nguyện, khi đó là tác
phẩm đầu tay mà ngày nào, khi “chưa phải là nhà văn”, hắn đã hoàn tất
với tất cả say mê cuồng nhiệt, tình cảm mà mai đây, khi đã là nhà văn
rồi, không dễ dầu gì hắn tìm lại được. Với hắn dường như tác phẩm thật
sự là tác phẩm hắn đang viết, sẽ viết, đang hoàn tất, sẽ không hoàn tất
bao giờ. Trong khi cuốn sách đầu tiên, đối với hắn, chỉ là bước chân dọ
dẫm, những âm vang ngơ ngác của một thời: thời mới lớn. Dường như tác
phẩm đầu tay của một nhà văn luôn luôn gắn bó vào chính cái thời mới
lớn đó. Nó đánh dấu một thời mới lớn, nó thể hiện những say mê và ước
vọng của thời mới lớn, nó chính là cái thời ngu ngơ bất trắc đó. Cho
nên trong chủ quan của nhà văn, nó là cái gì nhất thiết phải được vượt
qua, một cách nào đó, phải được chối bỏ. Nó không còn là một khởi điểm.
Nó là một lỡ lầm mà nhà văn muốn quên đi như một nỗi thất bại. Trường
hợp Philippe Sollers mới đây khi lên tiếng phủ nhận và loại bỏ tác phẩm
đầu tay [Une Curieuse Solitude] ra khỏi toàn bộ tác phẩm của mình là
một trường hợp điển hình.
Tác
phẩm đầu tay càng sớm trở thành cổ điển, nó càng là lý do để tác giả nó
hoài nghi và phủ nhận chính nó. Phải chăng đó là ý thức khốn khổ của
nhà văn khi bắt đầu nhận thức rằng mình “chỉ là một nhà văn”, bắt đầu
có được một cái nhìn thấu suốt qua căn phần và định mệnh “nhà văn” của
mình. Phải chăng nơi đây, nhà văn cũng không khác gì nhà triết học, nói
theo một bực thầy hiện đại, chính là kẻ “đời đời khởi nghiệp”. Viết,
một cách nào đó, là viết chống lại những gì mình đã viết, nhất là chống
lại những tình cảm sôi nổi ngày nào thể hiện qua những trang sách đầu
tiên. Viết, một cách nào đó, là chống lại tác phẩm đầu tay của mình,
một khi sự "kiêu hãnh của tuổi nhỏ [đã] nhường chỗ cho sự bình tĩnh ý
thức”, một khi người ta "bắt đầu cầm bút thực sự."
Mấy ý nghĩ tự
phát và chủ quan trên đây đã đến với tôi sau khi đọc Bếp Lửa và sau khi
đọc bài tựa do chính tác giả viết lên đầu tác phẩm đầu tay của mình
trong lần xuất bản thứ hai [nhà xb Sáng Tạo, 1965]. Tám năm sau lần
xuất bản thứ nhất [1957-1965], Thanh Tâm Tuyền đã có dịp nhìn lại tác
phẩm đầu tay của mình như một kẻ đứng ngoài kinh nghiệm của chính mình,
nhìn lại vào nó bằng một cái nhìn chân thật đến tàn ác, nếu cần.
“Cuốn
sách mỏng mảnh, yếu ớt và chưa thành hình dáng này của một người mới
lớn”. Tác giả muốn nói gì với chúng ta qua lời thú nhận đó? Một cuốn
sách chưa thành hình, một tác phẩm dở dang, đúng hơn là một kinh nghiệm
đã hoàn tất? Cuốn sách của một người mới lớn liệu có thoát ngoài kinh
nghiệm của chính tâm hồn mới lớn đó? “Lúc hắn viết cuốn sách này, hắn
chưa phải là một nhà văn, không muốn là nhà văn. Hắn chưa biết mình
muốn gì vì hắn muốn tất cả.” Tất cả ở đây phải chăng là toàn thể cái
kinh nghiệm sống mà hắn muốn thể hiện lên những trang sách thứ nhất đó?
Cuốn sách đầu tiên, đó chưa là kinh nghiệm của tác phẩm mà là tác phẩm
của một kinh nghiệm. Cho nên khi nhìn lại cuốn sách đầu tiên của mình,
để trở lại với một ý nghĩ ở trên, tôi nghĩ, nhà văn có thề phủ nhận nó
như là tác phẩm chớ không thể phủ nhận nó như là một kinh nghiệm, một
kinh nghiệm mà chính hắn đã trải qua, một kinh nghiệm làm biến đổi tâm
hồn hắn, đã dìu hắn đến ngồi vào bàn viết, viết dòng chữ đầu tiên: “Tôi
tìm Thanh ở chỗ làm việc của nàng…”, dòng chữ đầu tiên hay chính là lời
nói đã tìm được cơ hội thốt lên và chính hắn cũng tan biến vào lời nói
đó, chính hắn là lời nói đó.
Có lẽ không phải tình cờ khi phần
đông các tác phẩm đầu tay đều viết ở ngôi thứ nhất. Hay nói một cách
đơn giản hơn: nó là lời nói của một con người, một kinh nghiệm. Con
người đó đã từng sống thật trước khi biến thành nhân vật tiểu thuyết và
tác giả không là kẻ sáng tạo nên nhân vật tiểu thuyết của mình: hắn
chính là nhân vật tiểu thuyết đó [Narcisse chết: hắn là kẻ không biết
dùng chữ, đáng tiếc!].
Tác phẩm hay là sự tiếp nối của một kinh
nghiệm sống , một thảm kịch sống. Phải chăng trong ý nghĩ đó, Bếp Lửa
nhất thiết là một cuốn sách, nói theo tác giả, của một người “chưa phải
là một nhà văn, không muốn là một nhà văn”. Viết Bếp Lửa điều này cũng
có nghĩa là sống (một lần nữa) cái thảm kịch của chính nó đồng thời mời
gọi người đọc tham dự không phải vào một thế giới phù phép, giả ảo của
chữ nghĩa, mà vào một thế giới còn nồng nàn hơi thở của sự sống. Nếu
nhận rằng có một hố sâu ngăn cách giữa văn chương và thực tại, giữa chữ
và nghĩa, thì ở đây, vinh quang của Bếp Lửa chính là ở chỗ nó nó chưa
rơi vào sự sa đọa của tác phẩm, nó là cuốn sách còn là cuốn sách hiểu
trong ý nghĩa đơn sơ nhất của danh từ, cuốn sách của một người “chưa
phải là một nhà văn”.
Bởi nhà văn cần thiết là một con người
sa đọa, hắn hy sinh thực tại cho mộng tưởng, hắn hy sinh thế giới cho
hình ảnh, hắn hy sinh sự sống cho chữ nghĩa vân vân…. Hãy nghe Thanh
Tâm Tuyền nói: “Mỗi nhà văn chính là kẻ sống sót”. Kẻ sống sót với “sự
thật” của những người chết “truyền lưu” cho hắn. Nói khác đi, sự thật
chính là sứ mạng của nhà văn.
Nếu Bếp Lửa thể hiện một sự thật,
một kinh nghiệm, thì thất bại chính là tên gọi của sự thật, của kinh
nghiệm đó. Trong một bài viết về Thanh Tâm Tuyền, tôi có đi tới một
nhận xét: “Đọc Thanh Tâm Tuyền tức là một cách nào đó tham dự vào cuộc
phiêu lưu trắc trở của một ý thức lạc loài và bất hạnh. [Đi Tìm Tác
Phẩm Văn Chương, Huỳnh Phan Anh, nhà xb Đồng Tháp, trang 174].
Nhân
vật Bếp Lửa chính là một trường hợp điển hình của ý thức khốn khổ đó.
Một ý thức khốn khổ hay một ý thức trong cuộc hành trình vô vọng giữa
hư vô và đổ vỡ. Một ý thức mà giấc mộng “biến cải thế giới”, “thay đổi
cuộc đời”, “tự do và chọn lựa”…. chỉ là một nỗi “đam mê vô ích", giữa
những thế lực mù quáng của định mệnh và lịch sử không ngừng “lấn áp ở
mọi phía”. Một ý thức, trong cô đơn và bất lực, bị kết án phải “đi một
mình suốt đời” giữa bốn bề hỗn động, tối tăm.
Cuốn sách mở ra
một cuộc hành trình, hành trình vào cõi đêm thâu. Trên từng câu ngắn,
trên từng ý nghĩa cô đơn, người đọc không đọc mà lắng nghe, lắng nghe
cái âm vang lạc loài của những bước chân cô đơn, quờ quạng.
Thảm
kịch của Bếp Lửa là thảm kịch của con người như một ý thức bị vây khổn.
Nó bị kết án vì nó là một ý thức. Nó khốn khổ vì nó là một ý thức. Ý
thức, đó chính là căn bệnh khốc liệt nhất, là “con sâu ở giữa tim, giữa
hồn, giữa não”, là cái chết ngày một lớn lên, là sa mạc ngày càng rộng
mở.
Bếp Lửa hay là định nghĩa của một con người như một ý
thức, một ý thức như một nỗi khốn khổ. “Đi đâu cũng chỉ là mày – đau
khổ và nhục nhã. Mà nào riêng có đất này hổ nhục thôi đâu, mọi nơi mắt
mày cũng chỉ nhìn thấy như vậy. Không trốn được đâu, trừ phi mày trốn
được lòng mày”.
Đi đâu? Đó là câu hỏi khốc liệt từng phút từng
giấy đốt cháy tâm tư con người giữa sa mạc quạnh hiu bát ngát. Đi đâu
rồi cũng vẫn thế, ý thức đời đời vẫn là nỗi bất lực đớn đau, ý thức sau
cùng chỉ là những tiếng ngọ nguậy của bầy cua, nó vô vọng bẻ gẫy và
vượt qua những giới hạn của mình, tìm đến những chân trời kỳ diệu của
ước muốn và mộng tưởng.
Nhân vật Bếp Lửa không ngừng loay
hoay, tìm kiếm, lặn hụp, phá phách trong một thế giới đầy ắp những cái
ngẫu nhiên, không thường tồn, không tất yếu. Một thế giới rạn nứt, vô
phương hàn gắn. Một thế giới về chiều. “Về đâu bây giờ?” Trong cái thế
giới âm u, xám ngắt, câu hỏi thốt lên, âm thầm nhưng man rợ làm sao,
bởi đó là câu hỏi còn là câu hỏi, bởi đó là tiếng thét gọi của một ý
thức đang lâm vào đường cùng, bởi đáp lại nó, chỉ có niềm im lặng của
hư vô và bóng tối điệp trùng.
Và cuộc hành trình vẫn tiếp tục,
còn mãi mãi với nhân vật Bếp Lửa, cuộc hành trình không hứa hẹn về đâu.
“Tôi không nhớ mình đang nằm ở đâu, mình đến đây làm gì. Chưa bao giờ
tôi cảm thấy nỗi tuyệt vọng ghê gớm đến như thế. Tôi có thể tự tử được.
Nhưng tôi tự nhủ: cũng thế thôi, phải, cũng thế thôi.” Họa may, cuộc
hành trình kia rồi sẽ đưa người ta tới cái chết, như một thất bại sau
cùng, như một đoạn đường sau chót của một chuyến phiêu lưu.
Liệu
còn có cách kết thúc nào khác cho một câu chuyện như thế? Cái chết xuất
hiện như một người tình đúng hẹn. Cái chết không kết thúc nhưng hoàn
tất, như người ta hoàn tất một tác phẩm, một công trình có ý nghĩa, một
ý nghĩa.
“Tôi có thể tự tử được.” Tưởng tượng nhân vật Bếp Lửa
đã thốt lên câu đó với tất cả sự sung sướng của tâm hồn. Tưởng tượng đó
cũng là câu văn hồn nhiên trong sáng nhất của Bếp Lửa. Bởi thảm kịch ý
thức đã đạt tới cao độ của nó: “Chưa bao giờ tôi cảm thấy nỗi tuyệt
vọng ghê gớm đến như thế.” Cái chết như một cách giải quyết sau cùng.
Thất bại sau cùng cũng là chiến thắng đầu tiên của ý thức khốn khổ.
Nhưng tại sao nhân vật Bếp Lửa đã không chấp nhận cái chết lựa chọn và tự do đó?
Tôi
nghĩ rằng, hơn ai hết, hắn thừa nhận rằng cái chết thể hiện sự tự do
tuyệt đối của con người như là một khả năng lựa chọn, đồng thời chính
nó cũng phủ nhận con người như một khả năng lựa chọn, đồng thời chính
nó cũng huỷ diệt khả năng lựa chọn đó. "Cũng thế thôi." Cái chết không
thay đổi được gì. Hơn nữa, cái chết ở đây còn là sự thất bại của chính
sự thất bại.
Trong viễn tượng đó, ta có thể nói Bếp Lửa là hành
trình của một ý thức khốn khổ còn là ý thức khốn khổ, là kinh nghiệm
của một sự thất bại còn là sự thất bại. Chấp nhận con người như một ý
thức khốn khổ, chấp nhận con người như một thất bại, phải chăng đó cũng
là cách chấp nhận chính đời sống này? Cái chết là khởi điểm của Bếp Lửa
nhưng không là cùng đích của nó. Đúng hơn, nó là sự hình thành của một
thái độ. Phải chăng đó cũng là một giá trị cao cả của Bếp Lửa?
Huỳnh Phan Anh.
NQT sao lục
Tanvien.net