Minh Võ không dám tranh luận
Theo Đàn Chim Việt - Minh Võ - 19-06-2006
 |
Minh Võ
|
Một
độc giả gọi tôi: có người viết trên DCV bảo anh “tự coi mình là
Galilée” đấy. Mở máy lên mạng xem thì được thấy bài viết nhan đề Tranh Luận Với Ông Galileo-Minh Võ, tác giả: Lê Duy Khoa. Bên dưới là hình Minh Võ đối diện với nhà bác học vĩ đại Gallilée của thế kỷ 16.
Đọc hết bài viết 6 trang của ông Khoa, thì thấy đúng ông Khoa có viết Minh Võ tự cho mình là Galilée thật.
Tôi xin thưa ngay là không bao giờ tôi dám tự cho mình là Galilée.
Mới đọc những hàng đầu bài viết của Ông Lê Duy Khoa, tôi rất vui được
biết ông đã đọc hai quyển sách dầy nhất của tôi, và cả những bài trả
lời phỏng vấn và những bài báo tôi viết gần đây nhất. Người viết nào mà
không vui khi sách mình viết có người đọc rồi đem mổ xẻ? Về điểm này
tôi xin thành thực cám ơn tác giả. Nhưng quả tình tôi không dám nhận
tranh luận với ông. Vì ông hiểu sai ý tôi, hoặc ông nhớ không đúng,
hoặc vì sẵn định kiến nên ông đã viết những điều không có thật.
Trong bài phỏng vấn ngày 16/9/03 mà ông Khoa nhắc đến ở đầu tôi đã minh thị xác nhận:
“Chúng tôi không dám đem ngọn đèn dầu ví với ngọn đèn pha. Đây chỉ là
một cách nói theo suy loại. Vả chăng lúc ấy Galilée cô độc, trừ
Copernic đã đi trước. Còn tôi ngày nay không cô độc, vì có rất nhiều
người đứng về phía tôi. Như bà chẳng hạn. Tôi chắc thế. Như đại đa số
thính giả đang nghe chương trình này”.
Xin phép chú thích về hai chữ suy loại. Suy loại là so sánh trên
hai bình diện khác nhau, chứ không phải trên cùng một bình diện. Nếu
gọi Minh Võ là Galilée, thì tất cả những người đã biết Hồ Chí Minh
không xoay quanh chủ nghĩa dân tộc, tức không yêu nước, đều là Galilée
tất, chứ không phải chỉ có một mình Minh Võ.
Trong cuốn Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp, trang cuối của chương 52,
cũng là chương cuối cùng (Lời cuối sách), tôi cũng viết nguyên văn:
Chúng
tôi không dám đem mình sánh với Gallilée để diễn tấn tuồng đom đóm sánh
với mặt trời mà chỉ hy vọng những trang sách đã được viết sẽ gợi nhắc
phần nào hướng nhìn gần gũi nhất về con người thực của nhân vật Hồ Chí
Minh để từ đó có thể khơi lên những tia sáng sẽ làm tỏ lộ dần tính chất
thực của những biến cố lịch sử nhuốm đầy tóc tang và đau đớn mà dân tộc
Việt Nam phải gánh chịu suốt già nửa thế kỷ qua. (HCM, nđth ấn bản
2003, trang 729; ấn bản 2006, trang 727).
Nơi
trang 3 bài của ông Khoa có ghi chữ nghiêng trong ngoặc kép (mà ông nói
chữ nghiêng là nguyên văn của Minh Võ) mấy chữ sau đây: “chỉ có Nguyễn Hộ và Bùi Tín là xứng đáng thôi”.
Phải khó khăn lắm tôi mới nhớ lại rằng trong bài CON TỐ CHA VỢ TỐ CHỒNG
mà DCV đăng khoảng cuối tháng 3/06, tôi có nhắc đến hai nhân vật này
nguyên văn như sau:
Nhưng
phải nhắm những đảng viên lương thiện yêu nước, giác ngộ, biết mình đã
lầm và thực lòng xám hối như Bùi Tín, Nguyễn Hộ... và biết nhận ra rằng
chính Hồ Chí Minh mới là thủ phạm chính của mọi tai hoạ của tổ quốc.
Còn những kẻ vẫn nghĩ Hồ Chí Minh có công và mình đã đúng khi đi theo
Hồ Chí Minh, như Lữ Phương chẳng hạn thì không thể tin được, và cần
phải loại họ ra ngòai. Phải giác ngộ như Ignazio Silone hay Milovan
Djilas mới xứng đáng đứng vào hàng ngũ các chiến sĩ đấu tranh cho dân
chủ tự do.
Làm gì có câu chỉ có Bùi Tín và Nguyễn Hộ, v.v... nào đâu.
Ông Khoa hiểu lầm một phần do lỗi tôi viết câu văn không đầy đủ. Đáng
lẽ tôi phải thêm vào cuối câu đầu hai chữ chẳng hạn mới đầy đủ và rõ
ràng cho ông. Nhưng xin quý vị đọc lại bài chủ Con Tố Cha Vợ Tố Chồng,
thì ắt thấy là sau chữ Nguyễn Hộ có ba dấu chấm..., nghĩa là tôi chỉ
nêu 2 vị này làm ví dụ, chứ không phải tôi khẳng định chỉ có hai vị ấy
mà thôi.
Tôi chỉ nêu hai trường hợp trên để ông Khoa và quý bạn đọc thấy
tôi không dám tranh luận với ông Khoa, vì chắc chắn sẽ xảy ra cảnh ông
nói gà bà nói vịt làm mất thì giờ của độc giả.
Tuy nhiên để đáp lại tấm thịnh tình của tác giả Lê Duy Khoa và cũng để
giải thích thêm với độc giả về một vài chi tiết mà ông Khoa đã nêu lên
trong bài viết của ông, mà tôi nghĩ không phải vì ông muốn xuyên tạc
hay miệt thị tôi, mà chỉ vì không hiểu được ý tôi thôi, tôi xin viết
thêm đôi điều.
I. Trước hết về trường hợp liên quan đến hai ông Bùi Tín
và Nguyễn Hộ. Đọc kỹ bài Con Tố Cha Vợ Tố Chồng thì bạn đọc đã biết,
tôi đang nói về việc kết nạp thêm người đứng vào hàng ngũ tranh đấu cho
tự do dân chủ thực sự từ những đảng viên CS tại vị, chứ tôi
không nói về những người đã phản tỉnh, từ bỏ đảng và tham gia hàng ngũ
phản kháng từ trước. (Về mấy chục người này tôi đã viết kỹ trong cuốn
Phản Tỉnh Phản Kháng, trong đó lập trường của tôi đối với từng người đã
rõ).
Ý của tôi là: Vì lý do an ninh, để tránh bị cán bộ CS xâm nhập hàng ngũ
ta, thì trên nguyên tắc nên cẩn thận chọn những đảng viên lương thiện,
yêu nước, nhận ra mình lầm mà theo CS, và thực lòng sám hối như Bùi
Tín, Nguyễn Hộ chẳng hạn. (Để ông Khoa khỏi hiểu lầm, tôi xin thêm hai chữ chẳng hạn, thay vì ba chấm. Có lẽ ba chấm của DCV nhỏ quá ông Khoa đã không trông thấy).
Tôi xin nhắc lại, vì lý do an ninh. Xin triển khai hai từ này. Do kinh
nghiệm có được qua các cuộc xâm nhập tinh vi của CS vào hàng ngũ người
quốc gia, đấu tranh cho dân chủ và phồn thịnh của đất nước, tôi nêu
nguyên tắc, (xin nhớ tôi nói nguyên tắc, còn trong thực tiễn, thì tùy
theo nhận định của các nhà đấu tranh, và cách khéo léo tìm hiểu và
chinh phục từng đối tượng). Trên nguyên tác, xin nhắc lại, cần đề phòng
và tránh tối đa sự xâm nhập của những cán bộ như Nguyễn Việt Tiến hay
Bùi Tiến Dũng... xin gia nhập phong trào dân chủ, vì loại này sẽ chắc
chắn bỏ phiếu cho một hiến pháp tái lập chế độ độc tài tham nhũng
phá hoại chính quyền dân chủ mới. Và theo tôi (có thể tôi sai) những
người còn ca tụng ông Hồ là nhà ái quốc, là cứu tinh của dân tộc, thì
mặc nhiên coi tất cả các nhà ái quốc thực và đại đa số nạn nhân của CS
sẽ trở thành Việt gian hết. Và CS sẽ nói họ giết hàng triệu người chỉ
vì tất cả đều là Việt gian. Và hàng triệu người khác đã chết trong
chiến tranh là lỗi của bọn Việt gian làm tay sai cho thực dân, đế quốc
giết hại dân mình. Xin nói lại, vì lý do an ninh phòng xa, chứ không
phải vì kỳ thị, và ở đây tôi chỉ nói đến việc nhắm vào các đối tượng
đảng viên CS tại vị mà thôi. Tôi cũng nêu hai cựu lãnh tụ CS Ý và Nam
Tư thêm vào với hai ông Bùi Tín và Nguyễn Hộ cũng vì lý do tương tự.
Sở dĩ tôi nêu đích danh ông Bùi Tín, vì ông đã bị nhiều người chống
cộng ở hải ngoại miệt thị, cho là cò mồi. Nhưng, đọc ông, tôi biết rõ
ông đã ít nhất 3 lần công khai nói sám hối, và nói mình có phần trách
nhiệm về những tội ác của CS. Còn về ông Nguyễn Hộ thì đã lớn tiếng
nhận mình đã “lột xác” mà vẫn còn có người nghi ngờ. Tôi không nói đến
Hà Sĩ Phu, Dương Thu Hương, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cần, vì đến nay
không còn mấy người nghi ngờ những nhà đấu tranh đó.
II. Điểm thứ hai mà tôi muốn giải thích thêm, là hai tiếng quỹ đạo mà tôi nói đến trong bài phỏng vấn.
Được hỏi: Như
lời ông vừa trình bày, như vậy, theo ý ông, các tác giả ngoại quốc nổi
tiếng không am tường về chủ nghĩa cộng sản và không biết ông “Hồ” là
cán bộ quốc tế cộng sản sao?
Tôi đã trả lời:
Tôi không dám nghĩ thế. (tôi nhấn mạnh câu này để chứng tỏ
tôi không dám chơi trội với các nhà trí thức ngoại quốc như ông Khoa
viết). Nhưng cứ theo cách họ trình bày về cuộc đời của Hồ Chí Minh thì
tôi không thấy họ đặt đối tượng vào đúng quỹ đạo của nó.
Quỹ đạo (orbit), về mặt thiên văn học, là con đường vòng (không
tròn) mà một vệ tinh đi chung quanh một hành tinh, hay con đường của
một hành tinh xoay chung quanh một mặt trời. Nó đã được dùng theo nghĩa
bóng trong chính trị thời còn “chiến tranh lạnh”. Nó cùng với từ vệ
tinh (satellite) được dùng để chỉ các nước chư hầu trong khối cộng đều
xoay chung quanh mặt trời Liên Xô. Ví dụ: Cuba đã đi vào quỹ đạo của
Liên Xô rồi! Bắc Việt đã trở thành vệ tinh của Trung Cộng v.v...
Khi dùng lại danh từ quỹ đạo ở đây quả tình tôi có liên tưởng đến sự
việc nhà bác học lỗi lạc đa tài của thế kỷ 15-16 đã khám phá ra rằng
trái đất xoay chung quanh mặt trời chứ không phải mặt trời xoay quanh
trái đất như mọi người thường nghĩ. Và với kiến thức sơ đẳng của tôi về
thiên văn học, tôi mường tượng ra rằng Gallilée đã khám phá ra sự thực
này nhờ ông tìm ra được con đường nó đi và đặt nó vào con đường vòng
méo gọi là quỹ đạo đó.
Tôi không phải là người đầu tiên và duy nhất khám phá ra rằng ông Hồ
Chí Minh xoay chung quanh Liên Xô hay chủ nghĩa CS. Hàng triệu người đã
khẳng định ông Hồ không yêu nước, mà chỉ yêu một chủ nghĩa không tưởng,
một thế giới đại đồng, trong đó không còn biên giới quốc gia nữa. Đọc
lại câu trả lời của tôi ở trên, bạn đọc đã thấy rõ. Tôi không cô độc
như Gallìlée và Copernic thời xưa. Nói rõ ràng như vậy mà không hiểu
sao ông Lê Duy Khoa vẫn còn bảo tôi dám “tự coi mình là Gallilée”
Những người có kinh nghiệm xương máu với ông Hồ, chứng kiến những sự
giả dối lừa bịp của ông như phần đông nhân dân Việt Nam thì chẳng cần
phải tìm ra quỹ đạo nào cũng nhìn thấy ông Hồ không yêu nước. Nhưng với
người ngòai, kể cả các bậc đại trí thức ngoại quốc, nếu họ không thấy
quỹ đạo chiến tranh ý thực hệ, thì khó lòng nhìn ra sự thực lạ lẫm đó.
Chuyện nhiều sử gia và trí thức ngoại quốc không đặt đối tượng vào quỹ
đạo của nó thì có thực. Vì nếu họ đặt cuộc chiến tranh VN vào bối cảnh,
hay bóng bảy hơn, vào quỹ đạo cuộc chiến ý thức hệ tòan cầu thì chắc
chắn họ sẽ thấy ông Hồ đâu có chiến đấu vì chủ nghĩa dân tộc?
Tôi quan niệm rằng, khi Marx và Engels đưa ra tuyên ngôn cộng sản vào
đầu năm 1848, là hai ông đã tuyên chiến với tòan thể nhân loại, bằng
cách đả phá và đòi hủy bỏ quyền tư hữu là quyền tối thượng của Con
Người, từ đó mà có quyền tự do và mọi quyền con người khác. Vậy cuộc
chiến tranh giai cấp tòan cầu khai mào từ đó. Nhưng chỉ liền sau thế
chiến II chấm dứt, khi các chính khách lớn trong thế giới tự do nhìn
vào thực tế là Liên Xô đã nhân danh chủ nghĩa Mác thôn tính hay xát
nhập hàng chục nước rồi, thì lúc đó mới có những vận động chống lại
cuộc xâm lăng tinh vi của khối cộng.
Từ đó, dù bề ngòai chiến đấu với danh nghĩa nào, những người không CS
đều thực sự chiến đấu vì lý tưởng bảo vệ di sản quý báu của nhân loại
chống lại một đại hoạ, còn nguy hiểm hơn hiểm hoạ Đức Quốc Xã.
Tuy những nhà lãnh đạo thế giới tự do, nhờ có nhiều nguồn tin tình báo
và ý thức chính trị sắc bén đã sớm nhận ra điều đó, nhưng nhiều nhà trí
thức độc lập, hay một số nhà báo trẻ tuổi, thiếu phương tiện thông tin,
đã không nhận ra điều đó, và vẫn còn ảo tưởng về một thiên đường của
Mác, nên mới có tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược trong thế
giới tự do, và những bài viết của những cơ quan ngôn luận, thiếu thông
tin đó đã làm cho thế giới hiểu lầm rằng cuộc chiến tranh Việt Nam là
cuộc chiến của dân tộc bị trị chống thực dân đế quốc, nói cách khác của
một dân tộc nhỏ bé chống lại những đại cường ỷ chúng hiếp cô, ỷ cường
cưỡng nhược.
III. Khi dùng hình ảnh đứa bé con ngồi trong xe, hay mặt trời
xoay quanh trái đất, tôi chỉ có dụng ý dùng một hình ảnh bóng bảy kéo
chú ý của người đọc. Và ai cũng phải hiểu đây là một hình ảnh so sánh
theo “suy loại”, nghĩa là so sánh hai sự việc trên hai bình diện khác
nhau.
Còn về việc các học giả tiếng tăm lầm lẫn, thì không lạ gì. Cũng như
thời Galillée đã có nhiều người lầm lẫn. Nếu chúng ta ở vào địa vị các
người ấy chúng ta còn lầm nhiều hơn nữa. Nay sở dĩ tôi nhìn thấy cái mà
các vị đó ở vào hòan cảnh họ, và vào thời gian ấy, họ không nhìn thấy,
là cũng nhờ có những khám khá mới sau này, trong đó có thể có cả những
khám phá của các vị đó nữa.
Tuy nhiên tôi đã đọc kỹ và phân tích những tác phẩm lớn của một số sử
gia và nhà báo tên tuổi để bàn thảo và đưa ra những mâu thuẫn và sai
lầm của những vị đó về chiến tranh VN và về ông Hồ Chí Minh. Chỉ lấy ví
dụ một người, nhà báo nổi tiếng đã trở thành sử gia tên tuổi, hiện vẫn
còn nhiều uy tín trong chính giới và học giả ở Mỹ là David Halberstam.
Cứ nhìn vào chương trình hội thảo về chiến tranh Việt Nam và sự dính
líu của các tổng thống Mỹ mới diễn ra ở Boston, trong đó ông ta được
mời làm diễn giả danh dự đủ rõ. Ông này đã viết như đinh đóng cột rằng
Hồ Chí Minh một phần là Gandhi, một phần là Lênin, tất cả là Việt Nam.
Xin bạn đọc cho ý kiến về sự pha trộn đến nực cười này. Nước với lửa có
pha trộn được không? Gandhi là vị thánh chủ trương đấu tranh bất bạo
động. Còn Lênin là tay trùm khuynh đảo chủ trương cách mạng bạo lực.
Ông Hồ chỉ có thể hoặc là Gandhi, hoặc là Lênin. Bằng không thì chỉ là
một Gandhi giả (cũng như Trần Dân Tiên giả), hoặc một Lênin khóac áo
Gandhi. Nghĩa là một tên đại bịp, cho nên mới bịp được những nhà báo
tên tuổi như David Halberstam.
Nhưng không phải chỉ có thế. Ông này còn viết: “Tito, Stalin, Khrutshchev, Mao...hết thảy đều có tật sùng bái cá nhân. Nhưng ông Hồ thì không....” Bạn nào đã đọc Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch hãy cho biết ông Hồ có tự tôn mình là cha già dân tộc, là người khiêm nhường dường ấy,
và ông cũng là người nói láo không biết ngượng miệng không? Thế thì tác
giả câu nói trên có đáng phục không? Dĩ nhiên ông ta nói thế vì lúc ông
viết cuốn sách hơn trăm trang nhan đề duy có hai mẫu tự HO là
lúc ông chưa được đọc cuốn tự truyện của ông Hồ viết dưới bút hiệu Trần
Zân Tiên, và có lẽ cũng chưa ai biết (trừ các ông Nguyễn Khánh Toàn và
Hà Minh Đức). Nhưng đến nay biết rồi, mà ông vẫn không đủ lương thiện
để nhận mình sai, thì ta nên nghĩ gì về nhà báo nổi tiếng với giải
Pulitzer đó?
Vế các tác giả khác, chúng tôi cũng phân tích phê bình dựa trên những
chứng liệu và cách suy luận tương tự. Ai cũng có những nhận định xác
đáng, kèm theo những nhận định sai lầm và những lý luận rất dễ bẻ gẫy,
mặc dù uy tín học giả lớn đến đâu. Nhất là những nhận định về ông Hồ.
Và tôi suy luận rằng sở dĩ người ta lầm vì không đặt ông Hồ vào quỹ đạo
ý thức hệ, và chủ trương sai lạc của Mác. Nếu Mác đúng và thiên đường
CS có thực, thì ông Hồ vẫn không phải người yêu nước. Huống hồ nay đã
rõ Mác sai và thế giới đại đồng đã rõ chỉ là ảo tưởng, ảo ảnh như một
ốc đảo không có thật mà lữ hành đi trên sa mạc cứ nhìn thấy như có
thật. Kẻ tin mãnh liệt vào cái ảo ảnh đó, để “sẵn sàng đốt hết dẫy
trường sơn, biểu tượng của Giang Sơn, tổ quốc Việt Nam, đưa cả một dân
tộc vào thảm cảnh máu xương suốt 30 năm ròng rã, có đáng gọi là cuồng
tín không? Sự cuồng tín đó có lẽ không khác xa sự cuồng tín của 19 tên
khủng bố người gốc A Rập đã giết hơn 3.000 người ở Nữu Ước (New York)
và Hoa Thịnh Đốn (Washington) trong vụ gọi là 911 chỉ vì tin rằng nếu
“quyết tử” để giết được kẻ thù Mỹ thì sẽ được lên thiên đường, tại đó
sẽ được hưởng 72 cô vợ đẹp!
Tôi thiết nghĩ niềm tin của những kẻ đặt nó nơi thiên đường CS (thế
giới đại đồng) không khác niềm tin của những phần tử khúng bố 911 bao
nhiêu.
IV. Tôi đồng ý với ông Lê Duy Khoa rằng những điều tôi viết về
chủ nghĩa CS đã cũ rồi. Cũng như danh ngôn cổ La Mã “NIHIL NOVUM SUB
SOLE” (chẳng có gì mới dưới ánh mặt trời, hay trên đời chẳng có gì
mới). Nhưng “Ôn Cố Tri Tân” nói lại cái cũ để tìm ra cái mới là việc
phải làm. “Non novum, sed nove”. Nói cái cũ nhưng một cách mới. Hơn nữa
cũ người mới ta, với những người như ông Khoa thì những điều tôi trình
bày về chủ nghĩa CS và chiến lược sách lược Lênin có thể quá cũ, nhưng
tôi tin chắc với một số đông giới trẻ trong nước đang bị đầu độc bằng
tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa xã hội không tưởng thì không cũ chút
nào. Mà ông Khoa đọc tôi thì đã biết đối tượng chính của các sách của
tôi là giới trẻ, nhất là giới trẻ trong nước, rồi đến dư luận thế giới.
Chứ đối với những người Việt có tuổi, đã am hiểu tường tận về CS, rồi
nhận định dứt khóat ông Hồ hại dân hại nước, chứ không vì dân, vì nước,
thì tôi đâu có cần viết làm gì. Điều này tôi đã nói khi trả lời cuộc
phỏng vấn của Đinh Quang Anh Thái cho Viet Tide cuối năm 2003.
Cái mới của tôi là nhìn ra là cuộc chiến ý thức hệ của CS đã khai mào
ngay từ khi tuyên ngôn đảng CS ra đời, chứ không phải chỉ từ sau thế
chiến hai, và thứ nữa, đặt ông Hồ và cuộc chiến VN vào quỹ đạo chiến
tranh ý thức hệ CS. Một cái mới nữa là chiến tranh lạnh mà những Robert
Strausz-Hupé... hay Alexander Solzhenitsyn mệnh danh là thế chiến ba,
đối với tôi không phải là chiến tranh giữa hai ý thức hệ Cộng Sản và Tư
bản. Tôi khẳng định đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ do CS chủ xướng và
thế giới tự do (do các cường quốc Tây Phương lãnh đạo) chỉ kháng cự để
tự vệ. Và từ capitalism (chủ nghĩa tư bản) chỉ xuất hiện (khỏang năm
1854) sau khi bản tuyên CS đã ra đời và có lẽ chính Mác đã đặt ra để
nhắm vào đối tượng cần tiêu diệt. Cho nên những người nói dân tộc ta bị
xâu xé bới 2 chủ nghĩa đối nghịch là tư bản và CS đúng là vì chưa tìm
ra quỹ đạo của cuộc chiến ý thức hệ CS.
Quả thực tôi đã bắt chước Gallilée khi nói thế. Đã bắt chước, tức tự
nhận mình là học trò rồi. Mà thực bụng tôi còn nghĩ mình không đáng làm
học trò bậc vĩ nhân đó. Nhờ tìm ra được quỹ đạo của trái đất nên
Gallilée mới dám khẳng định trái đất quay, và cho đến lúc hấp hối ông
vẫn kiên định lập trường “pourtant elle tourne.” (Nhưng dù sao nó (trái
đất) vẫn quay) Ông đã miễn cưỡng phải từ bỏ chủ trương của mình để khỏi
bị trục xuất khỏi giáo hội Ki Tô. Nhưng trước khi nhắm mắt ông vẫn
cương định lập trường đó.
V. Ông Khoa nói đúng: chưa ai khen Tuyên Truyền của CS bằng Minh
Võ. Tôi luôn luôn khen CS có cả một khoa học, nghệ thuật về tuyên
truyền chính trị. Tuyên truyền là võ khí chủ sóai của chiến tranh ý
thức hệ CS. Nhờ võ khí này CS đã thắng rất nhanh vào những thập niên
đầu trên khắp thế giới. Và tại Việt Nam CS đã nhờ có nó mà lôi kéo được
nhân dân vào cuộc chiến “đánh thắng Pháp và Mỹ”. Giải thích thì dài
dòng. Tôi đã tóm tắt hết sức vắn gọn trong phần 3 của chương 43, HCM,
nđth, và trong hai chương Agit-Prop và Orchestration cuốn Ai Giết Hồ
Chí Minh.
VI. Về trường hợp cụ Hòang Minh Chính và nhà văn Dương Thu
Hương, tôi giải thích lập trường của tôi trên DCV đầu tháng tư. Hơn nữa
tôi đã có một bài dài về mỗi ngừơi hồi năm ngóai, ngòai hai chương sách
còn dài hơn nữa dành cho mỗi người trong cuốn Phản Tỉnh Phản Kháng.
Chắc ông Khoa cũng chẳng muốn tôi nhắc lại quá nhiều “chuyện cũ rích”.
VII. Còn vài điểm nhỏ mà ông Khoa nêu lên nơi chú thích có lẽ
cũng nên xem lại. Về tiết lộ của Jean Sainteny liên quan đến việc ông
Hồ đọc Mác nghiến ngấu, và ôm Tư Bản Luận làm gối đầu giường, ông Khoa
bảo “xác nhận của Sainteny cũng sai bét. Chính Hồ Chí Minh cho biết
trong thời gian ở Pháp....ông ta chưa hề đọc một chữ nào của Marx...”
Ông Khoa có quyền tin ông Hồ hơn Sainteny, nhưng tôi lại tin Sainteny
hơn. Vì tôi biết ông Hồ luôn luôn cố làm cho người khác tin ông là
người Quốc gia Dân tộc hơn Quốc Tế CS, nhắm mục đích đánh lừa nhân dân,
lôi kéo họ vào vòng chém giết lẫn nhau vì một mục đích không tưởng là
thiên đường CS.
Mác sai thì nay thực tiễn đã chứng minh: bất cứ nơi nào mà chủ nghĩa
Mác được đem áp dụng đều đem lại đói nghèo, lạc hậu, chia rẽ sa đoạ và
mất hết tự do. Điều đó nay hầu như ai cũng thấy, dù Mác không độc ác
như Lênin, Stalin, và các Quốc Tế 1, Quốc Tế 2 chủ trương ôn hòa hơn
Quốc Tế 3, và mặc dù ông Khoa và Sartre nói gì chăng nữa.
Còn riêng trường hợp giáo sư Trần Đức Thảo, tôi đã trưng dẫn ông Trần
Tri Vũ, người có dịp nói chuyện với ông Thảo nhiều lần năm trước khi
ông Thảo mất. Tuy không được đọc chính lời của người quá cố, nhưng đối
với tôi chứng từ của ông Trần Tri Vũ, được tờ Diễn Đàn Phụ Nữ của nhà
báo chuyên nghiệp Chử Bá Anh có lương tâm chức nghiệp cao đăng tải cũng
có giá trị đáng kể. Trong chương 12, cuốn Phản Tỉnh Phản Kháng thực Hay
Hư tôi đã ghi lại như sau:
“Theo
ông Trần Tri Vũ, người đã đựoc đàm đạo với ông (TĐT) nhiều lần trước
khi ông mất, thì tác phẩm mà ông định viết đó là một tác phẩm nhằm
chứng minh “Mác sai chứ không phải tại người ta không hiểu Mác và áp dụng sai”.
Ông mới viết được 4 chương, còn những chương quyết định thì chưa xong.
Nhưng ông cũng cho ông Trần Tri Vũ và một vài người bạn biết như sau: “Tôi
muốn chứng minh từng bước một, bằng triết học, là chủ nghĩa Mác nay đã
hết thời rồi. Bởi vì chính Mác đã sai. Mác sai từ những điểm cơ bản và
cả về phương pháp”. (Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư, ấn bản 2004,
trang 250, chú thích (8): Diễn Đàn Phụ Nữ số 122, trang 74). Tôi đồng ý
với ông Khoa là ông Thảo trước đó vẫn xác tín về chủ nghĩa Mác.
Trước
khi chấm dứt tôi xin một lần nữa cám ơn ông Lê Duy Khoa đã đọc tôi, và
mong ông hiểu tôi hơn, bằng cách đọc kỹ hơn những chương sách được viết
với sự thận trọng, không dám tự coi mình hơn các tác giả khác, nhưng
luôn luôn cố gắng tìm ra sự thật, dù phải đối diện với những bậc thầy
của mình. Nếu ông đọc kỹ cuốn Hồ Chí Minh Nhận ĐịnhTổng Hợp từ
đầu đến cuối, kể cả mấy trang chú thích về một số từ ngữ dùng trong
sách ở đầu sách, thì hy vọng ông sẽ thấy tôi không đến nỗi võ đóan và
ngông cuồng như ông nghĩ.
Tôi đặc biệt cám ơn ông đã gián tiếp cảnh giác tôi đừng kiêu ngạo và
đừng quá tự tin, vì quả thực những tật xấu đó sẽ làm hỏng mọi cố gắng
của chúng ta. Tôi cũng ước mong ông Khoa cũng như mọi độc giả sẽ nêu
lên những khuyết điểm về mọi mặt thấy được trong những cuốn sách của
tôi. Cuốn Hồ Chí Minh mới tái bản gần 800 trang khổ lớn bán với giá 32
USD. Nếu bạn nào muốn đọc một chương nào đó riêng rẽ qua Email, chúng
tôi cũng sẵn sàng gửi tới miễn phí (!). Hoặc quý bạn có thể yêu cầu Đàn
Chim Việt đưa lên mạng để nhiều người cùng đọc và phê bình. Tôi rất
mong mỏi nó đến được bạn đọc bên kia “bức màn sắt” và bức tường lửa.
San Diego 14/6/06
Copyright © 2006 DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: