Mối lo về đạo lý

Theo Người Việt - NGÔ NHÂN DỤNG - 28-04-2006

Trong tuần trước khi Bill Gates đến Hà Nội ông nhắc nhở các sinh viên tại Ðại học Bách Khoa rằng món đầu tư quan trọng nhất trong đời là giáo dục. Ðây là một điều nhiều người đã nói, nhưng khi con người giàu nhất thế giới nói ra thì câu nói có ý nghĩa khác. Người ta hiểu ngay ông Gates muốn nhấn mạnh tới “lợi nhuận” do đầu tư vào giáo dục mang lại. Nhà sáng lập công ty Microsoft mới nói đến một phần của vấn đề giáo dục mà thôi, đó là việc thanh niên cần học hỏi và đào luyện các kỹ năng để phát triển nền kinh tế tri thức. Ðược như vậy thì giống dân Việt Nam hy vọng đuổi kịp các dân tộc ở chung quanh. Vợ chồng ông Gates cũng đóng góp hàng tỷ mỹ kim vào Quỹ từ thiện của họ giành giúp việc giáo dục phụ nữ và trẻ em ở các nước nghèo trên thế giới; đó là một mặt khác của vấn đề giáo dục. Trong một nước mà các trẻ em đều được đi học, các phụ nữ ở nông thôn cũng có trình độ tối thiểu bằng tiểu học, thì kinh tế nước đó mới phát triển được.

Nhưng vấn đề giáo dục còn một mặt khác nữa mà một nhà kinh doanh đóng vai khách từ phương xa tới như ông Bill Gates sẽ không dám bàn luận. Ðó là giáo dục cho trẻ em khi lớn lên trở thành những con người lương hảo. Trong một nước có văn hiến lâu đời, nếp sống đạo đức hàng ngày là do mỗi đứa trẻ học được ở trong gia đình, coi cách cha mẹ ăn ở ra sao rồi bắt chước. Ðến trường học, trẻ em cũng được học những điều tương tự. Ra ngoài đường, nhìn những người hàng xóm, cũng thấy mọi người cư xử với nhau theo cùng một nền nếp luân lý đó. Cứ như vậy, đời này sang đời khác, trải qua hàng ngàn năm, cách mọi người ăn ở với nhau sẽ thể hiện một phong hóa thuần hậu; có lúc sẽ tự hào mà viết rằng: “Như nước Việt ta từ trước, vốn sinh văn hiến đã lâu” (Duy ngã Ðại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang, Nguyễn Trãi).

Ba mươi mốt năm trước, sau khi đoàn quân cộng sản tiến chiếm Sài Gòn, nhiều thầy giáo, cô giáo từ ngoài Bắc vào Nam với nhiệm vụ hướng dẫn các đồng nghiệp và học sinh hấp thụ lối sống “xã hội chủ nghĩa,” chính họ đã được “cải tạo.” Họ khám phá ra một nền nếp văn hóa, phong tục nhuần nhã mà chính họ đã bị tước bỏ mất từ lâu. Nhiều người thành thật khen: Học sinh trong này ngoan quá! Không nói tục, không chửi bới. Và họ cũng lo: Coi chừng, phải bảo vệ những đứa trẻ đó, nếu không thì chẳng lâu đâu, các em cũng thành mất dạy cả đấy!

Nhìn lại 31 năm qua, chúng ta cũng thấy may mắn là nếp sống thuần hậu của tổ tiên còn vẫn giữ được ở trong Nam; và nhờ các cuộc tiếp xúc trẻ em miền Bắc cũng được phục hồi nhiều thói quen tốt. Các nhà trí thức và nhà văn ở miền Bắc đã báo động cảnh suy đồi đạo lý trong xã hội để róng tiếng chuông cảnh tỉnh.

Tuần trước mục này đã thuật mấy câu chuyện trong tuyển tập hồi ức của bà Ðặng Anh Ðào mang tựa là Tầm Xuân, mới xuất bản tại Hà Nội. Bà là con gái của nhà văn Ðặng Thái Mai, một người từng được coi như thuộc giới lãnh đạo văn nghệ ở miền Bắc từ khi chế độ cộng sản cầm quyền.

Trong tập hồi ức, bà Anh Ðào kể lại một chuyến thăm Cao Bằng, mảnh đất trong giấc mơ thời trẻ tuổi của bà, với những câu hát về dòng sông Bằng, “Dòng Bằng lững lờ chảy về đâu?” Bà Ðặng Anh Ðào ở trong một phái đoàn Hà Nội lên Cao Bằng, được vào ngụ trong một nhà khách đẹp, với toa lét hiện đại lắp những “bồn xí vào loại xịn” dán mác “Cottco.”

Nhưng toa lét không có nước.

Cô tiếp viên hướng dẫn phái đoàn, chắc cũng có quyền thế ở khu nhà khách, giải thích là có “trục trặc kỹ thuật.” Nước thường được dẫn theo ống cao su từ trên ngọn suối đưa xuống nhà khách, vào toa lét. Nhưng cô tiếp viên cho biết có những người sống trong cái nhà tập thể phía trên đồi đã thản nhiên lấy cái vòi nước ở đầu nguồn, đem bắt vào bể nước của họ. Toa lét nhà khách không có nước, “một hiểm họa cho những gian phòng khép kín,” theo lời kể của bà Anh Ðào.

Cái hành động “ăn cắp” vòi nước của người khác đem về chỗ mình ở, một cách thản nhiên, làm chúng ta ngạc nhiên. Ở một xã hội bình thường, người ta không ăn ở với nhau như vậy! Mấy người ở cái nhà tập thể đó chắc phải là những quan chức lớn trong tỉnh, cho nên mới dám tự tiện làm như thế. Suối nước là của trời, của chung, cũng giống như công quỹ, ngân sách nhà nước vậy. Những người có quyền tự cho họ tự nhiên phải hưởng trước thiên hạ! Chế độ độc tài nào cũng sinh ra những hạng người như thế.

Nhưng nhà khách của tỉnh là nơi người ngoài đánh giá cả tỉnh. Tại sao người ta không lo đến danh dự chung nhỉ? Ðó là một xã hội mà ngay cả các quan chức cũng không lo tới danh dự chung nữa. Họ có khái niệm về danh dự hay không? Không biết! Nhưng tại sao mọi người không nghĩ tới việc “san sẻ” với nhau một nguồn suối được nhỉ? Tại sao không bắt thêm một vòi cao su khác cho mình, chia nhau mỗi nơi một phần nước suối, ai cũng được dùng? Tại sao phải chiếm đoạt lấy làm của riêng, gây thiệt hại và đau khổ cho người khác như thế nhỉ?

Chắc vì mọi người ở đó đã mất hết các khái niệm về “công ích,” “chia sẻ,” “cộng tác,” quên mất những ý niệm về danh dự, liêm sỉ rồi! Thay vào đó họ thể hiện tính ích kỷ, tinh thần giành giật, dĩ công vi tư, không thẹn thùng. Ðọc tới đó phải thấy rất đáng ngạc nhiên.

Nhưng người đọc ký ức của bà Ðặng Anh Ðào còn ngạc nhiên hơn nữa về thái độ, phản ứng của cô tiếp viên. Ðứng trước các hành động bất công, phi pháp và phi luân đó, thường thì chúng ta phải làm gì? Cô tiếp viên cho bà Anh Ðào biết cô “sẽ rình để cướp lại cái vòi đầu nguồn” (nguyên văn). Nghe vậy thì phải kinh ngạc thật.

Chúng ta thử nghĩ như thế này: Việc ăn cắp vòi nước như thế rõ ràng là sai trái, nó vi phạm luật pháp của bất cứ xã hội văn minh nào. Nó còn trái với đạo đức bình thường của nhân loại khắp thế giới nữa. Vậy mà tại sao khi thấy người ta ăn cắp vòi nước của nhà khách thì cô tiếp viên không nói đến chuyện cô sẽ lên tận nơi nói mấy câu lễ phép để đòi cái vòi nước lại? Hay là cô đã đòi mà không được? Nhưng nếu đòi không được thì cô phải đầu đơn kiện lên quan trên chứ? Trong xã hội phải có luật pháp, mọi người phải thỏa thuận với nhau cùng tôn trọng đức công bằng chứ? Bà Anh Ðào không kể gì đến các biện pháp đạo đức hay pháp luật đó, chắc vì không ai làm cả. Hầu như trong câu chuyện này không ai nghĩ tới đạo công bằng và guồng máy pháp luật cả. Như vậy làm sao người ta có thể sống với nhau theo lối con người sống với con người?

Câu chuyện này cho thấy một vấn đề chung của nước ta: Con người sống với nhau như thế nào? Khi bị đối xử bất công thì phải làm gì? Tại sao mọi người không thể nói chuyện phải trái với nhau? Tại sao không thể nhờ pháp luật xét xử coi ai phải ai trái? Không lẽ chỉ có một phương cách cư xử với nhau là ăn miếng trả miếng, mà lại toàn là những miếng võ rừng: “Mày ăn cắp của bà? Bà sẽ rình, bà cướp lại, cho mày biết tay!”

Tưởng tượng một đất nước rất nhiều người đã quen sống với nhau theo lối đó từ bao nhiêu năm qua. Thử tưởng tượng đồng bào ta đang sống với nhau như thế đấy. Những anh chị em đó đều đã được ông bà, cha mẹ dậy phải ăn ở theo đạo lý: Phải thương yêu, nhường nhịn, phải công bằng, phải hợp tác với nhau.

Nhưng khi ra ngoài xã hội thì tại sao mỗi người lại tự biến mình thành kẻ cướp. Sao lạ như vậy nhỉ? Bà Ðặng Anh Ðào đã tự kiềm chế không viết một lời phê phán, bà không nói thẳng những nỗi đau lòng khi bà thấy cảnh đó; nhưng chỉ cần kể lại câu chuyện trên cũng đủ rồi.

Kể lại chuyến đi Cao Bằng, bà Anh Ðào cũng kể ngay một chuyện vui, để độc giả vẫn tin tưởng ở lương tâm và lương tri nhân loại. Tại cái nhà khách đó, bà gặp một sinh viên người Thụy Sĩ đang tới Cao Bằng nghiên cứu về các sắc dân thiểu số. Anh ta ra bể nước (thành cao quá đầu người), thòng sợi dây buộc cái thùng đỏ xuống bể, kéo từng thùng nước lên đem về phòng dùng. Anh còn lễ phép hỏi các “ma đam” có cần nước thì bảo, anh sẽ đi múc nước đem đến tận phòng giúp (Tầm Xuân, trang 148). Trong cuốn hồi ức Tầm Xuân có những hình ảnh làm ấm lòng người như vậy.

Nhưng người đọc phải tự suy ngẫm về tình trạng luân lý trong xã hội nước ta. Khái niệm về liêm sỉ, về danh dự đã bị thủ tiêu. Ðất nước ta vẫn đầy những con người biết hổ thẹn, nhưng họ không thể đem đức tính đó ra làm tiêu chuẩn cho người khác. Tình trạng chung, là rất nhiều người không quen cư xử theo đạo lý, cũng không tin ở luật pháp có thể giữ đạo công bằng. Chắc chắn phải có một nguyên nhân chung nào đó tạo nên tình trạng này. Chúng ta thử nhìn trước nhìn sau coi có nguyên nhân chung nào không. Chỉ có một thứ, đó là nền luân lý do chủ nghĩa Cộng Sản đem vào áp dụng ở miền Bắc Việt Nam từ thập niên 1950 đến nay. Câu chuyện bà Anh Ðào kể xảy ra trong thập niên 1990. Chủ nghĩa Cộng Sản không cố ý dậy người ta sống vô đạo đức. Nhưng khi họ dùng chế độ độc tài chuyên chế, dùng mọi thủ đoạn để tranh thắng, tuyên truyền dối trá không biết hổ thẹn, tay ăn cắp miệng hô hào đạo đức, thì họ đã phá sạch các nền tảng đạo lý của dân tộc. Ðiều nguy hiểm hơn nữa là nếp sống phi đạo đức kiểu cộng sản lại đang biến thành nếp sống tư bản hoang dã với nền tảng hỗ trợ của cùng một chế độ độc tài như cũ! Thế rồi đạo đức sẽ đi về đâu?

Ðây thực ra là một vấn đề giáo dục hay một vấn đề chính trị?

Muốn cho con người Việt Nam trở lại với nếp sống thuần hậu của ông cha, phải xóa bỏ chế độ độc tài, không có cách nào khác được.


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_moi_lo_ve_dao_ly.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.