Trong
tuần trước khi Bill Gates đến Hà Nội ông nhắc nhở các sinh viên tại Ðại
học Bách Khoa rằng món đầu tư quan trọng nhất trong đời là giáo dục.
Ðây là một điều nhiều người đã nói, nhưng khi con người giàu nhất thế
giới nói ra thì câu nói có ý nghĩa khác. Người ta hiểu ngay ông Gates
muốn nhấn mạnh tới “lợi nhuận” do đầu tư vào giáo dục mang lại. Nhà
sáng lập công ty Microsoft mới nói đến một phần của vấn đề giáo dục mà
thôi, đó là việc thanh niên cần học hỏi và đào luyện các kỹ năng để
phát triển nền kinh tế tri thức. Ðược như vậy thì giống dân Việt
Nhưng
vấn đề giáo dục còn một mặt khác nữa mà một nhà kinh doanh đóng vai
khách từ phương xa tới như ông Bill Gates sẽ không dám bàn luận. Ðó là
giáo dục cho trẻ em khi lớn lên trở thành những con người lương hảo.
Trong một nước có văn hiến lâu đời, nếp sống đạo đức hàng ngày là do
mỗi đứa trẻ học được ở trong gia đình, coi cách cha mẹ ăn ở ra sao rồi
bắt chước. Ðến trường học, trẻ em cũng được học những điều tương tự. Ra
ngoài đường, nhìn những người hàng xóm, cũng thấy mọi người cư xử với
nhau theo cùng một nền nếp luân lý đó. Cứ như vậy, đời này sang đời
khác, trải qua hàng ngàn năm, cách mọi người ăn ở với nhau sẽ thể hiện
một phong hóa thuần hậu; có lúc sẽ tự hào mà viết rằng: “Như nước Việt
ta từ trước, vốn sinh văn hiến đã lâu” (Duy ngã Ðại Việt chi quốc, thực
vi văn hiến chi bang, Nguyễn Trãi).
Ba
mươi mốt năm trước, sau khi đoàn quân cộng sản tiến chiếm Sài Gòn,
nhiều thầy giáo, cô giáo từ ngoài Bắc vào Nam với nhiệm vụ hướng dẫn
các đồng nghiệp và học sinh hấp thụ lối sống “xã hội chủ nghĩa,” chính
họ đã được “cải tạo.” Họ khám phá ra một nền nếp văn hóa, phong tục
nhuần nhã mà chính họ đã bị tước bỏ mất từ lâu. Nhiều người thành thật
khen: Học sinh trong này ngoan quá! Không nói tục, không chửi bới. Và
họ cũng lo: Coi chừng, phải bảo vệ những đứa trẻ đó, nếu không thì
chẳng lâu đâu, các em cũng thành mất dạy cả đấy!
Nhìn
lại 31 năm qua, chúng ta cũng thấy may mắn là nếp sống thuần hậu của tổ
tiên còn vẫn giữ được ở trong Nam; và nhờ các cuộc tiếp xúc trẻ em miền
Bắc cũng được phục hồi nhiều thói quen tốt. Các nhà trí thức và nhà văn
ở miền Bắc đã báo động cảnh suy đồi đạo lý trong xã hội để róng tiếng
chuông cảnh tỉnh.
Tuần
trước mục này đã thuật mấy câu chuyện trong tuyển tập hồi ức của bà
Ðặng Anh Ðào mang tựa là Tầm Xuân, mới xuất bản tại Hà Nội. Bà là con
gái của nhà văn Ðặng Thái Mai, một người từng được coi như thuộc giới
lãnh đạo văn nghệ ở miền Bắc từ khi chế độ cộng sản cầm quyền.
Trong
tập hồi ức, bà Anh Ðào kể lại một chuyến thăm Cao Bằng, mảnh đất trong
giấc mơ thời trẻ tuổi của bà, với những câu hát về dòng sông Bằng,
“Dòng Bằng lững lờ chảy về đâu?” Bà Ðặng Anh Ðào ở trong một phái đoàn
Hà Nội lên Cao Bằng, được vào ngụ trong một nhà khách đẹp, với toa lét
hiện đại lắp những “bồn xí vào loại xịn” dán mác “Cottco.”
Nhưng toa lét không có nước.
Cô
tiếp viên hướng dẫn phái đoàn, chắc cũng có quyền thế ở khu nhà khách,
giải thích là có “trục trặc kỹ thuật.” Nước thường được dẫn theo ống
cao su từ trên ngọn suối đưa xuống nhà khách, vào toa lét. Nhưng cô
tiếp viên cho biết có những người sống trong cái nhà tập thể phía trên
đồi đã thản nhiên lấy cái vòi nước ở đầu nguồn, đem bắt vào bể nước của
họ. Toa lét nhà khách không có nước, “một hiểm họa cho những gian phòng
khép kín,” theo lời kể của bà Anh Ðào.
Cái
hành động “ăn cắp” vòi nước của người khác đem về chỗ mình ở, một cách
thản nhiên, làm chúng ta ngạc nhiên. Ở một xã hội bình thường, người ta
không ăn ở với nhau như vậy! Mấy người ở cái nhà tập thể đó chắc phải
là những quan chức lớn trong tỉnh, cho nên mới dám tự tiện làm như thế.
Suối nước là của trời, của chung, cũng giống như công quỹ, ngân sách
nhà nước vậy. Những người có quyền tự cho họ tự nhiên phải hưởng trước
thiên hạ! Chế độ độc tài nào cũng sinh ra những hạng người như thế.
Nhưng
nhà khách của tỉnh là nơi người ngoài đánh giá cả tỉnh. Tại sao người
ta không lo đến danh dự chung nhỉ? Ðó là một xã hội mà ngay cả các quan
chức cũng không lo tới danh dự chung nữa. Họ có khái niệm về danh dự
hay không? Không biết! Nhưng tại sao mọi người không nghĩ tới việc “san
sẻ” với nhau một nguồn suối được nhỉ? Tại sao không bắt thêm một vòi
cao su khác cho mình, chia nhau mỗi nơi một phần nước suối, ai cũng
được dùng? Tại sao phải chiếm đoạt lấy làm của riêng, gây thiệt hại và
đau khổ cho người khác như thế nhỉ?
Chắc
vì mọi người ở đó đã mất hết các khái niệm về “công ích,” “chia sẻ,”
“cộng tác,” quên mất những ý niệm về danh dự, liêm sỉ rồi! Thay vào đó
họ thể hiện tính ích kỷ, tinh thần giành giật, dĩ công vi tư, không
thẹn thùng. Ðọc tới đó phải thấy rất đáng ngạc nhiên.
Nhưng
người đọc ký ức của bà Ðặng Anh Ðào còn ngạc nhiên hơn nữa về thái độ,
phản ứng của cô tiếp viên. Ðứng trước các hành động bất công, phi pháp
và phi luân đó, thường thì chúng ta phải làm gì? Cô tiếp viên cho bà
Anh Ðào biết cô “sẽ rình để cướp lại cái vòi đầu nguồn” (nguyên văn).
Nghe vậy thì phải kinh ngạc thật.
Chúng
ta thử nghĩ như thế này: Việc ăn cắp vòi nước như thế rõ ràng là sai
trái, nó vi phạm luật pháp của bất cứ xã hội văn minh nào. Nó còn trái
với đạo đức bình thường của nhân loại khắp thế giới nữa. Vậy mà tại sao
khi thấy người ta ăn cắp vòi nước của nhà khách thì cô tiếp viên không
nói đến chuyện cô sẽ lên tận nơi nói mấy câu lễ phép để đòi cái vòi
nước lại? Hay là cô đã đòi mà không được? Nhưng nếu đòi không được thì
cô phải đầu đơn kiện lên quan trên chứ? Trong xã hội phải có luật pháp,
mọi người phải thỏa thuận với nhau cùng tôn trọng đức công bằng chứ? Bà
Anh Ðào không kể gì đến các biện pháp đạo đức hay pháp luật đó, chắc vì
không ai làm cả. Hầu như trong câu chuyện này không ai nghĩ tới đạo
công bằng và guồng máy pháp luật cả. Như vậy làm sao người ta có thể
sống với nhau theo lối con người sống với con người?
Câu
chuyện này cho thấy một vấn đề chung của nước ta: Con người sống với
nhau như thế nào? Khi bị đối xử bất công thì phải làm gì? Tại sao mọi
người không thể nói chuyện phải trái với nhau? Tại sao không thể nhờ
pháp luật xét xử coi ai phải ai trái? Không lẽ chỉ có một phương cách
cư xử với nhau là ăn miếng trả miếng, mà lại toàn là những miếng võ
rừng: “Mày ăn cắp của bà? Bà sẽ rình, bà cướp lại, cho mày biết tay!”
Tưởng
tượng một đất nước rất nhiều người đã quen sống với nhau theo lối đó từ
bao nhiêu năm qua. Thử tưởng tượng đồng bào ta đang sống với nhau như
thế đấy. Những anh chị em đó đều đã được ông bà, cha mẹ dậy phải ăn ở
theo đạo lý: Phải thương yêu, nhường nhịn, phải công bằng, phải hợp tác
với nhau.
Nhưng
khi ra ngoài xã hội thì tại sao mỗi người lại tự biến mình thành kẻ
cướp. Sao lạ như vậy nhỉ? Bà Ðặng Anh Ðào đã tự kiềm chế không viết một
lời phê phán, bà không nói thẳng những nỗi đau lòng khi bà thấy cảnh
đó; nhưng chỉ cần kể lại câu chuyện trên cũng đủ rồi.
Kể
lại chuyến đi Cao Bằng, bà Anh Ðào cũng kể ngay một chuyện vui, để độc
giả vẫn tin tưởng ở lương tâm và lương tri nhân loại. Tại cái nhà khách
đó, bà gặp một sinh viên người Thụy Sĩ đang tới Cao Bằng nghiên cứu về
các sắc dân thiểu số. Anh ta ra bể nước (thành cao quá đầu người),
thòng sợi dây buộc cái thùng đỏ xuống bể, kéo từng thùng nước lên đem
về phòng dùng. Anh còn lễ phép hỏi các “ma đam” có cần nước thì bảo,
anh sẽ đi múc nước đem đến tận phòng giúp (Tầm Xuân, trang 148). Trong
cuốn hồi ức Tầm Xuân có những hình ảnh làm ấm lòng người như vậy.
Nhưng
người đọc phải tự suy ngẫm về tình trạng luân lý trong xã hội nước ta.
Khái niệm về liêm sỉ, về danh dự đã bị thủ tiêu. Ðất nước ta vẫn đầy
những con người biết hổ thẹn, nhưng họ không thể đem đức tính đó ra làm
tiêu chuẩn cho người khác. Tình trạng chung, là rất nhiều người không
quen cư xử theo đạo lý, cũng không tin ở luật pháp có thể giữ đạo công
bằng. Chắc chắn phải có một nguyên nhân chung nào đó tạo nên tình trạng
này. Chúng ta thử nhìn trước nhìn sau coi có nguyên nhân chung nào
không. Chỉ có một thứ, đó là nền luân lý do chủ nghĩa Cộng Sản đem vào
áp dụng ở miền Bắc Việt Nam từ thập niên 1950 đến nay. Câu chuyện bà
Anh Ðào kể xảy ra trong thập niên 1990. Chủ nghĩa Cộng Sản không cố ý
dậy người ta sống vô đạo đức. Nhưng khi họ dùng chế độ độc tài chuyên
chế, dùng mọi thủ đoạn để tranh thắng, tuyên truyền dối trá không biết
hổ thẹn, tay ăn cắp miệng hô hào đạo đức, thì họ đã phá sạch các nền
tảng đạo lý của dân tộc. Ðiều nguy hiểm hơn nữa là nếp sống phi đạo đức
kiểu cộng sản lại đang biến thành nếp sống tư bản hoang dã với nền tảng
hỗ trợ của cùng một chế độ độc tài như cũ! Thế rồi đạo đức sẽ đi về đâu?
Ðây thực ra là một vấn đề giáo dục hay một vấn đề chính trị?
Muốn cho con người Việt Nam trở lại với nếp sống thuần hậu của ông cha, phải xóa bỏ chế độ độc tài, không có cách nào khác được.