WJC: Một bài học tốn kém

Theo Đàn Chim Việt - Lữ Giang - 09-06-2006

Hôm 20.5.2006, ông Nguyễn Hữu Luyện, người khởi xướng và theo đuổi vụ kiện Williamm Joiner Center (WJC), đã cho biết kết quả mới nhất của vụ kiện này như sau:

“Kính thưa Quý Vị,

“Nhóm nguyên đơn xin kính báo, ngày 11 tháng 5 năm 2006, Toà Phúc Thẩm (Appeals Court) đã ra quyết định bác đơn chống phán quyết về vụ kiện WJC/UMB của Toà Superior. Trong vụ kiện này, ngoài cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, đồng bào ta tại nhiều quốc gia khác, đặc biệt là Úc Châu và Canada, đã tận tình yểm trợ vụ kiện cả về tài chánh lẫn tình thần trong suốt sáu năm qua để cuộc đấu tranh trong lãnh vực pháp lý dành thắng lợi cho tiếng nói chân chính của các thế hệ tỵ nạn và hậu tỵ nạn (post refugee era) trong dòng sử của Hoa Kỳ và thế giới. Hôm nay chúng tôi rất buồn và cảm thấy có lỗi với Cộng Đồng người Việt ở khắp nơi về thất bại này, tuy nhiên, đây chưa phải là thất bại cuối cùng.

“Trên thế gian này, việc gì xảy ra cũng có nguyên nhân của nó. Nhóm nguyên đơn không đưa ra bất cứ một nguyên nhân nào để quy sự thất bại này vào đó.

“Kính xin Quý Vị xem bản thông cáo của Tổ Hợp Luật Sư Baker Donelson, qua đó, Quý Vị sẽ rõ những việc Tổ Hợp Luật Sư sẽ làm để tiếp tục cuộc đấu tranh này.”

Sau đây là lá thư đề ngày 17.5.2006, của Luật sư Bradley S. Clanton, được ông Nguyễn Hữu Luyện đại diện nhóm nguyên đơn, chuyển ngữ như sau:

“Với sự thất vọng cao độ, chúng tôi kính báo Quý Vị việc Toà Phúc Thẩm (Appeals Court) của tiểu bang Massachusetts bác đơn của chúng ta chống phán quyết về vụ kiện WJC/UMB. của Toà Superior. Quyết định của Toà Phúc Thẩm được ban hành ngày 11 tháng 5, 2006. Theo Toà Phúc Thẩm thì nguyên đơn không dẫn chứng được thành phần nạn nhân bị kỳ thị là thành phần được che chở bởi luật của Tiểu Bang Massachusetts. Chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với quyết định của Toà Phúc Thẩm, do đó chúng tôi phải xin duyệt xét lại quyết định đó.

“Công việc đầu tiên của chúng tôi là xin Toà Phúc Thẩm cho “Tái Điều Trần” về quyết định này. Đệ đơn xin như vậy là một việc phải làm trước khi chuyển lên Toà Tối Cao của Tiểu Bang Massachusetts. Đơn xin đó phải đệ trình trong vòng 14 ngày sau khi Toà Phúc Thẩm ban hành quyết định. Nếu Toà Phúc Thẩm bác đơn xin của chúng ta, lúc đó chúng ta mới được xin Toà Tối Cao của Tiểu Bang Massachusetts xét lại quyết định của Toà Phúc Thẩm.

“Chúng tôi thấy rằng không thể nào đoán trước một cách chính xác là Toà Án Tôi Cao của Tiểu Bang Massachusetts sẽ xét lại quyết định đó như thế nào. Tuy nhiên, xin hãy vững lòng tin rằng chúng tôi sẽ theo đuổi việc này với tất cả nỗ lực của chúng tôi.”


Trên Saigon Nhỏ số ra ngày 10.9.2004, Chúng tôi đã viết như sau:

“Thú thật, khi đọc đơn khiếu nại của ông Luyện nạp tại Uûy Ban Chống Kỳ Thị Tiểu Bang Massachusetts (Massachusetts Commission Against Discrimination) chúng tôi không tin ông sẽ thắng. Chúng tôi có chuyển đơn này cho một số luật sư xem, họ cũng đều lắc đầu. Nhưng đây là vụ kiện dựa theo cảm tính và “định hướng chống cộng” với sự xác tín “ta nhất định thắng, địch nhất định thua” nên ông Luyện không muốn ai có ý kiến ngược lại, ông chỉ muốn những tiếng vỗ tay. Vì thế, những người hiểu biết không ai muốn lên tiếng.”

Chúng tôi luôn nhắc lại lời của cổ nhân: “Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng” , tức biết người biệt ta, trăm trền trăm thắng. “Người Việt quốc gia” thường tự hào là “đi guốc trong bụng cộng sản” và “ở trong bụng Mỹ”, nhưng qua tiến trình của cuốc chiến và những năm sống ở Mỹ, chúng ta thấy “người Việt quốc gia” biết rất ít về Cộng Sản và Mỹ, thường suy nghĩ và hành động theo cảm tính, nên cứ bỏ chạy hoài. Vụ kiện WJC lại một lần nữa chứng tỏ “người Việt quóc gia” hay “người Việt chống cộng” biết rất ít về Mỹ, “đồng minh” và “anh Hai” của người Việt tỵ nạn!

Tóm lược vụ kiện — Để giúp độc giả theo dõi vấn đề một cách để dàng, chúng tôi xin tóm lược lại những nét chính của vụ kiện.

Năm 2000, William Joiner Center thuộc Viện Đại Học Massachusetts, Boston, đã tuyển hai nhà nghiên cứu Việt Nam từ Hà Nội đến Boston tham gia “Chương trình Rockefeller Nghiên cứu về Người Việt Hải ngoại” (Rockefeller Program on the Study of the Vietnamese Overseas). Đề tài nghiên cứu là “Tái Cấu Trúc Đặc Trưng và Vị Trí trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn (Reconstructing Identity and Place in the Vietnam Diaspora). Chi phí do Trustee Rockefeller Foundation đài thọ. Hai người được mời là Hoàng Văn Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Hoàng Văn Hiến là Giám Đốc Học Viện Nguyễn Du ở Hà Nội và Nguyễn Huệ Chi là Trưởng Ban Lý Luận và Phê Bình Văn Học của Viện Văn Học Hà Nội.

Đây chẳng qua cũng chỉ là một một phần trong chiến thuật “diễn biến hòa bình” của Hoa Kỳ, do một tổ chức tư nhân đài thọ và thực hiện. Nhưng ông Nguyễn Hữu Luyện ở Boston và một số người cho rằng việc thuê mướn hai cán bộ Việt Cộng này nghiên cứu sẽ cung cấp những tài liệu không chính xác về cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, có thể đưa tới một chính sách sai lầm đối với người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ.

Trong cuộc hội thảo tại Calgary-Alberta, Canada, vào hai ngày 21 và 22.6.2003, ông Nguyễn Hữu Luyện đã nói rõ hơn:

“Những người như thế mà viết về 3 triệu người Việt tị nạn trên khắp thế giới thì ai tin được thái độ vô tư và giá trị của công trình khảo cứu của họ? Với chiến thuật bẻ cong ngòi bút, họ nhắm mục tiêu chiến lược gồm 2 điểm:

1. Xóa bỏ tội lỗi của cộng sản là nguyên nhân đã khiến cho 3 triệu người Việt phải bỏ nước ra đi,

2. Trình bầy một hình ảnh sai lạc về cộng đồng người Việt ở hải ngoại, đa số nhớ nhà, thương nước, mong được nối lại quan hệ với quê hương, chỉ có một thiểu số cuồng tín và thù hận tiếp tục chống chế độ cộng sản.”

Vì thế, ông hô hào kiện William Joiner Center và Viện Đại Học Massachusetts để loại hai tên này ra. Dân ta vổ tay hoan hô ào ào và đóng góp cũng rất chí tình cho ông đi kiện.

Theo nguyên tắc của luật pháp, muốn đi kiện phải có một tố quyền (action) được luật pháp cho phép mới kiện được. Quả là trong luật Hoa Kỳ hiện nay, không có điều luật nào cho kiện vì sợ rằng “kết quả nghiên cứu có thể đưa tới một chính sách sai lầm đối với người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ”. Và trong thực tế, chuyện đó khó xẩy ra trên đất nước này. Nếu nhà chức trách Mỹ mà ngu đến mức như thế làm sao họ biến nước Mỹ thành một cường quốc lãnh đạo cả thế giới được?

Khi không có tố quyền nào cho đi kiện như thế mà muốn kiện, luật sư cũng có thể đi kiếm một tố quyền khác với những nguyên nhân của tố quyền (causes of action) vớ vẩn để đưa vụ này ra kiện và lấy tiền, không cần biết kết quả như thế nào. Tố quyền được chọn là “kỳ thị về việc làm”. Đây chỉ là cách “lấy râu cha nọ chắp cằm me kia” thôi. Tố quyền này chẳng phản ảnh gì đến mục tiêu chống đối của ông Luyện đã nêu ra, nhưng cứ có tố quyền để nộp đơn kiện là được rồi!

Ông Luyện ít am tường về hệ thống luật pháp tại Hoa Kỳ và chính sách đối ngoại của Bộ Ngoại Giao, nên rất phấn khởi, quyên góp tiền để đi kiện!
Theo nguyên tắc, muốn kiện “kỳ thị về việc làm”, trước hết phải khiếu nại tại cơ quan hành chánh. Khi quyết định của cơ quan này không làm ta thỏa mãn, mới có thể đưa nội vụ ra trước tòa.

Ngày 27.10.2000 ông Luyện nộp đơn tại Ủy Ban Chống Kỳ Thị Tiểu Bang Massachusetts (Massachusetts Commission Against Discrimination viết tắt là MCAD) khiếu nại William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts có sự kỳ thị trong việc làm và xin bồi thường thiệt hại. Đến ngày 25.4.2001, ông Luyện lại tìm cách tu chính đơn khiếu nại này để được khiếu nại dưới hình thức một tố quyền tập thể (class action). Có 11 người được ghi danh thêm vào. Ngày 23.5.2001, MCAD đã bác bỏ đơn thỉnh cầu tu chính này. Ngày 23.9.2001, MCAD bác bỏ luôn đơn khiếu nại của ông Luyện vì cho rằng thiếu lý do chính đáng.

Ngày 29.10.2001, ông Luyện nộp đơn khởi tố trước tòa Superior Court ở Boston dưới hình thức tố quyền tập thể (class action). Trong thời gian tranh tụng, ông Luyện nộp đơn thỉnh cầu Tòa ra án lệnh ngăn chận không cho Hoàng Văn Hiến và Nguyễn Huệ Chi tiếp tục nghiên cứu, nhưng tòa đã bác bỏ. Vụ kiện này kéo dài đến ngày 27.8.2004 Tòa mới đưa ra phán quyết bác đơn của các nguyên đơn với những lý do chính sau đây:

i. Trong thời gian William Joiner Center công bố báo thị tuyển dụng nghiên cứu sinh, ông Luyện cũng như 6 người đứng đơn khiếu nại không hề nộp đơn xin việc. Các đương sự chỉ có thể khiếu nại bị kỳ thị về việc làm khi nào đã nộp đơn xin việc và bị bác vì cóï kỳ thị mà thôi.
ii. Ngoài ông Luyện ra, không có nguyên đơn nào khác nộp đơn khiếu nại tại cơ quan MCAD trước khi khởi tố trước Tòa như luật định, nên đơn khởi tố bị coi là bất hợp lệ.

iii. Các nguyên đơn cho rằng dù họ có nộp đơn cũng vô ích vì đơn họ rồi cũng sẽ bị bác. Nhưng Tòa cho rằng học thuyết về sự vô ích (futility) không được áp dụng cho trường hợp này vì không có bằng chứng nào để xác quyết như vậy.

iv. Các nguyên đơn cho rằng William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts chỉ cung cấp trợ cấp nghiên cứu cho những kẻ trung thành hay những kẻ có thiện cảm với chính quyền Cộng Sản Bắc Việt. Lập luận này đã bị Tòa phang khá nặng. Tòa nói: “Không có một án lệ nào yểm trợ cho kết luận rằng một nhóm xác định đặc tính chủ yếu bằng những sự tin tưởng về chính trị như họ đáng được một sự bảo vệ đặc biệt theo luật chống kỳ thị. Vì thế, buộc một định chế đại học phải chịu trách nhiệm vì họ không chịu tuyển chọn những người có quan điểm chống Cộng vào công việc nghiên cứu sẽ có một hậu quả ớn lạnh đối với định chế về các quyền của chúng ta trong Tu Chính Án Thứ Nhất.”

Kết quả: Tòa tuyên bố chấp nhận đơn của William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts và bác đơn của các nguyên đơn.

Không chấp nhận bản án của Superior Court ở Boston, ông Luyện quyết định kháng cáo lên Tòa Phúc Thẩm (Appeals Court) của tiểu bang Massachusetts. Trên nguyên tắc, Tòa Phúc Thẩm không xét lại các sự kiện của vụ kiện mà chỉ xét xem tòa dưới áp dụng luật pháp có đúng hay không mà thôi. Trong một vụ kiện quan trọng và có ảnh hưởng đến công luận cũng như chính sách của Hoa Kỳ như thế này, vì biết trước nguyên đơn sẽ kháng cáo, tòa Superior Court ở Boston phải nghiên cứu rất kỷ khi làm án, không để xẩy ra một sơ suất nào, do đó không ai tin ông Luyện sẽ thắng, nhưng ông Luyện đã “đâm lao phải theo lao”!

Theo thư thông báo nói trên, Luật sư Bradley S. Clanton cho biết ông Luyện có 14 ngày xin Tòa Phúc Thẩm tái thẩm. Nếu Toà Phúc Thẩm bác đơn, có thể xin thượng tố lên Toà Tối Cao của Tiểu Bang Massachusetts. Nhưng Luật sư Bradley S. Clanton đã nói rõ: “Chúng tôi thấy rằng không thể nào đoán trước một cách chính xác là Toà Án Tôi Cao của Tiểu Bang Massachusetts sẽ xét lại quyết định đó như thế nào. Tuy nhiên, xin hãy vững lòng tin rằng chúng tôi sẽ theo đuổi việc này với tất cả nỗ lực của chúng tôi.”

Ảo Ảnh Của Sự Chiến Thắng — Trong thời gian tranh tụng, vào tháng 11 năm 2002, WJC đưa ra đề nghị với Luật Sư Keane của nguyên đơn, cho biết rằng WJC sẵn sàng bồi thường cho ngguyên đơn 250.000 Mỹ kim và viết thư xin lỗi nếu nguyên đơn chịu xin bãi nại. Nhận được đề nghị này, ông Luyện từ chối ngay, có lẽ vì hai lý do: Lý do thứ nhất: “Đâm lao phải theo lao”. Đồng bào đã góp tiền để tìm cách trục xuất hai tên Việt Cộng, không thể bỏ cuộc nửa chừng được. Lý do thứ hai: Không quen với các phương thức tranh tụng, ông Luyện có thể đã nghĩ rằng khi WJC đề nghị như vậy là họ thấy khi ra tòa họ sẽ thua nên mới điều đình như vậy. Ông Luyện đã ôm ảo ảnh của một sự chiến thắng!

Như chúng ta đã biết, tại nước Mỹ, một vụ kiện về dân sự, trước khi nội vụ được đưa ra xét xử, luật pháp đều dành cho hai bên những thủ tục để dàn xếp giải quyết nội vụ với nhau, tránh gây tốn kém cho hai bên đương tụng cũng như công quỹ. Vì thế, khi WJC đưa đề nghị nói trên không phải vì họ thấy rằng nếu nội vụ được đưa ra xét xử, họ sẽ thua, mà vì họ thấy rằng nếu theo đuổi vụ kiện cho đến cùng và chiến thắng về phần WJC đi nữa, họ có thể sẽ tốn một hai triệu Mỹ kim vô ích và sự chiến thắng đó cũng chẳng đem lại vẻ vang gì cho WJC, nên điều đình để đỡ tốn kém. Đây là phương thức thông thường được nhiều tổ chức tranh tụng, kể cả các hãng bảo hiểm, thường xử dụng.

Trong các vụ kiện giáo sĩ xâm phạm tình dục, các Giám Mục Hoa Kỳ cũng thường áp dụng phương thức này. Theo bào Washington Post ngày 14.8.2002, có 866 linh mục bị cáo lạm dụng tình dục với treœ con trong bốn thập niên. Có vụ đã xẩy ra cách đây từ 30 đến 40 năm về trước, có khi Linh mục bị tố cáo đã qua đời. Những vụ này, nếu được đem ra tòa, việc dẫn chứng không dễ dàng. Nhưng các Giám Mục vẫn chủ trương điều đình và trả cho mỗi người một ít để bỏ qua các vụ kiện, vì sợ rằng nếu có tranh tụng sẽ gây thêm tai tiếng và tốn kém cho Giáo Hội.

Trong vụ WJC, khi bị đơn đưa đề nghị như trên, không có nghĩa là họ thấy thua nên dàn xếp. Nhưng có lẽ ông Luyện đã hiều rằng bị đơn thấy thua nên chạy làng, nên quyết định làm tới. Nhưng Luật sư Keane thấy trước kết quả nên bỏ cuộc. Ông Luyện cho biết sau đó Luật sư Keane “thay đổi thái độ như người lái xe quay ngược hướng theo hình chữ U [making a U-turn]”. Ông Luyện phải nhờ Luật Sư Baker Donelson thay.

Chúng tôi có thể nói, nếu ông Luyện quyên được khoảng 500.000 Mỹ kim nữa thì sau khi thượng tố lên Tôi Cao Pháp Viện Tiểu Bang Massachusetts bị bác đơn, mà muốn tiếp tục chơi nữa, Luật sư có thể kiếm ra một tố quyền (action) khác với nguyên nhân của tố quyền (causes of action) vớ vẩn như trên để tái truy tố WJC, khởi đầu tại Superior Court Boston, với điều kiện cứ tính tiền theo số giờ làm việc (tối thiểu 200 đô một giờ), không cần biết kết quả. Chuyện đó chẳng có gì khó khăn đâu.

Trên Saigon Nhỏ số ra ngày 10.9.2004 chúng tôi đã viết rằng ông Luyện chưa có chút kinh nghiệm nào về tranh tụng nên không biết đến nạn rĩ máu xanh. Trong một vụ kiện như thế này, họ thường thông đồng với nhau kéo dài thủ tục tố tụng ra để làm kiệt quệ nguồn tài chánh ít oi của chúng ta. Cứ hỏi Bùi Bỉnh Bân, Hồ Anh Tuấn, Nguyễn Đình Thắng, Ngô Ngọc Hùng, Ngô Thị Hiền... là biết ngay. Cho theo khoảng hai vụ là chừa thôi! Ông Luyện cứ thử một lần nữa rồi biết chúng tôi nói đúng hay sai.

Nhìn Lại Chính Sách Của Hoa Kỳ — Tài liệu thống kê của Institute of International Education cho biết trong niên khóa 2004 – 2005 có trên 565.000 người ngoại quốc được cấp chiếu khán để đến du học tại Hoa Kỳ, trong đó Ấn Độ đứng đầu với 80.466 người, Trung Quốc 61.765, Nam Hàn 53.358, Nhật Bổn 42.215 Đài Loan 25.914, Mexico 13.063, Thái Lan 8.637, Pakistan 6.296, Malaysia 6.142, v.v…

Hoa Kỳ thu nhận nhiều sinh viên ngoại quốc hàng năm như vậy để làm gì?

Văn Phòng các Chương Trình Thông Tin Quốc Tế (Bureau of International Information Programs) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rất rõ: a bình và sự thịnh vượng trên thế giới tùy thuộc vao sự gia tăng khả năng của con người về suy nghĩ và làm việc trên căn bản văn hóa quốc tế và toàn cầu. Khoa học kỹ thuật mở rộng biên giới, trao đổi về giáo dục nghề nghiệp mở mang trí tuệ.”
“Việc đón tiếp ân cần các sinh viên hợp pháp vào đất nước chúng ta là một cuộc đầu tư cho tương lai của đất nước này.”
lcoming legetimate students to our country is an investment in this nation’s future.)

Những người ngoại quốc đến du học tại Mỹ gồm nhiều loại khác nhau, từ các sinh viên học lấy cấp bằng đại học hay không lấy bằng đại học (non-degree students), đến các công chức đi tu nghiệp, những người nghiên cứu ngắn hạn tại các đại học hay nghiên cứu về nghề nghiệp, những người tham gia các chương trình trao đổi sinh viên hay trao đổi về nghề nghiệp giữa các nước, những người học nghề, những người đi quan sát, v.v...

Về môn học, số theo học về kinh doanh và quản trị là đông nhất (18%), rồi đến kỹ sư (16,5%), toán và khoa học điện toán (9%), v.v…

Về tài chánh, từ du học tự túc đến du học theo học bổng hay sự tài trợ của chính phủ Mỹ, của các trường đại học, của các chương trình đặc biệt, v.v…

Chính sách “Open Door” (Mở Cửa) này nhắm vào các mục tiêu chính sau đây:

a. Tìm kiếm các nhân tài trên khắp thế giới phục vụ cho nước Mỹ. Đa số những người có tài sau khi tốt nghiệp đều được tuyển mộ làm việc ở Mỹ.

b. Giúp các quốc gia có quan hệ với Mỹ đào tạo cấp lãnh đạo và chuyên viên cho mọi ngành với hy vọng khi trở về sẽ cải tiến chế độ theo đường lối của Mỹ hay sẽ phục vụ cho các nhu cầu của Mỹ.

c. Bí mật tuyển dụng và đào tạo các chuyên viên tình báo hay lãnh đạo có khả năng để khi về nước bí mật hoạt động cho Mỹ và khi có cơ hội, nhầy ra nắm chính quyền hay các ngành quan trọng trong quốc gia, đưa đất nước đi theo đường lối của Mỹ và bảo vệ quyền lợi của Mỹ.

d. Tạo thêm nhiều người biết Mỹ, phục Mỹ và muốn theo Mỹ, v.v…

Trên báo Saigon Nhỏ ngày 13.10.2000, chúng tôi đã viết: ông ai tin rằng Trung Tâm William Joiner là một tổ chức thiên cộng. Cũng không ai tin rằng Trung Tâm này cần đến tài năng của hai nhà nghiên cứu Việt Nam, và kết quả nghiên cứu của hai người này sẽ ảnh hưởng đến chính sách của Hoa Kỳ đối với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Nước Mỹ không ngu đến như thế.”

Tại Hoa Kỳ này, mỗi năm có trên một trăm ngàn tài liệu nghiên cứu hay tiểu luận được thực hiện về nhiều phương diện, nhưng không phải tất cả những tài liệu đó đều được xử dụng để ấn định chính sách. Đa số công trình này chỉ được thực hiện với mục tiêu huấn luyện về nghiên cứu. Có nhiều chương trình nghiên cứu trong thực tế chi là một hình thức để trợ cấp cho các nhóm làm tình báo văn hóa của Hoa Kỳ hoạt động. Một thí dụ cụ thể: Một số người Việt trước 1975 làm tình báo văn hóa cho cơ quan JUSPAO ở Sài Gòn, nay qua Mỹ họ vẫn được tiếp tục xử dụng. Mỗi năm họ được trả lương bằng một trợ cấp nghiên cứu khoảng $24,000, do một trường đại học cấp. Họ chỉ cần viết một tiểu luận lếu láo khoảng 30 hay 40 trang nạp vào để lãnh tiền. Có người nộp cả tiểu luận về nuôi chó trong cộng đồng người Việt để lãnh tiền, mặc dầu anh ta chẳng bao giờ nuôi chó hay nghiên cứu về nuôi chó. Anh ta cũng không viết tiểu luận đó mà thuê một người viết với giá chỉ có 2.000 Mỹ kim. Nếu theo lý luận của nhóm ông Luyện, chúng ta lại phải vác đơn kiện trường đại học đã cấp tiền cho một anh không biết gì về nuôi chó trong cộng đồng, vì anh ta sẽ viết sai và làm người Mỹ hiểu lầm về việc nuôi chó trong cộng đồng ta? Chúng ta không phải làm như thế, vì những tiểu luận đó chỉ được dùng để lót đít ngồi, chứ chẳng ai xử dụng cả!

Trường hợp của Hoàng Văn Hiến và Nguyễn Huệ Chi cũng thế thôi. Người Mỹ đưa hai người này qua đây với hai mục tiêu: Mục tiêu thứ nhất là để họ tập làm quen với phương thức nghiên cứu của Mỹ, khi trở về áp dụng tại Việt Nam để làm thay đổi dần chế độ. Mục tiêu thứ hai là thử xem cách nhìn của họ về cộng đồng người Việt hải ngoại như thế nào. Không có gì quá quan trọng như ông Luyện và nhiều người đã hô hoán lên.

Dĩ nhiên, không phải tất cả những người được Mỹ cho quan Mỷ du học hay quan sát, sau này trở về sẽ phục vụ quyền lợi của Mỹ. Nhưng Mỹ chỉ cần tuyển được 1% hay 2% là quá đủ rồi.

Vã lại, có nhiều người tuy đã được cho qua Mỹ học về phương pháp nghiên cứu của Mỹ, nhưng khi về Việt Nam chẳng làm được gì hay vẫn làm sai lạc, vì trình độ kiến thức không đủ. Chẳng hạn như ở Huế đã gởi “Tiến Sĩ” Lê Cung qua Mỹ học ở Đại Học Harvard về phương pháp viết sử, nhưng khi về anh ta chẳng học thêm được gì cả!

Anh ta khoe: Khi làm Luận Án Phó Tiến Sĩ Khoa Học Lịch Sử, anh ta đã chọn đề tài “Phong Trào Phật Giáo Miền Nam Việt Nam năm 1963” Năm 1995, khi anh đang chuẩn bị bảo về luận án này thì được Viện Harvard – Yenching thuộc Đại Học Harvard ở Mỹ chọn tham gia chương trình Visiting Scholar. Anh ta đã nhận được sự góp ý của các giáo sư, các nhà nghiên cứu, đặc biệt được tham khảo một nguồn tài liệu hết sức phong phú từ các thư viện trường đại học này, nên đã biên soạn và cho in luận án nói trên vào năm 1999.

Nhưng nay đọc luận án của anh ta, tôi có cảm tưởng như đó loại truyện ba xu mà Đặng Văn Nhâm thường viết. Khi viết về biến cố ngày 8/4/1963, anh ta không biết gì về y chứng thư khám nghiêm tử thi các nạn nhân, không biết đến bản cáo trạng và biên bản phiên tòa xử Đặng Sĩ của Tòa Án Cách Mạng kéo dài từ 2 đến 8 thắng 6 năm 1964, mà chỉ đi lượm các xảo ngôn vớ vẩn và coi đó là “bằng chứng lịch sử”! Anh ta cũng không biết phân tích và đánh giá từng tài liệu thu lượm được theo phương pháp sử học... Một tiểu luận như thế nộp thi cử nhân ở Mỹ sẽ bị vứt vào sọt rác vì viết sai phương pháp, ấy thế mà anh ta đã được chấm đậu “Tiến Sĩ” và hiện đang đi dạy sử! Qua vụ này chúng ta thấy nền giáo dục trong nước hiện nay thấp đến mức không thể tưởng tượng được!

Nhìn chung, vụ án WJC một lần nữa cho thấy mặc dầu đã ở Mỹ trên 30 năm, đa số “người Việt quốc gia” chưa hiểu Mỹ bao nhiêu và vẫn tiếp tục suy nghĩ và hành động theo cảm tính! Một cuộc đấu tranh như thế không bao giờ có thể thắng.




Tác giả trực tiếp gởi bài cho DCVOnline


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_mot_bai_hoc_ton_kem__.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.