Một gợi nhắc từ Gửi Lại Trước Khi Về Cõi — Đọc sách

Theo Đàn Chim Việt - Uyên Thao - 10-03-2006

Tuyển tập tâm bút của Vũ Cao Quận

Người ta lớn, bởi vì mi quì xuống

Uyên Thao
Vũ Cao Quận đang sống tại Hải Phòng, không phải nhà văn, nhưng năm 2001 đã bị bắt giam vì cầm bút. Ông may mắn thoát khỏi nhà tù nhờ tiếng nói của nhiều tổ chức đòi hỏi nhân quyền, nhưng cho tới nay vẫn không thoát khỏi vòng vây cô lập dành cho những phần tử bị qui kết là phản động. Gửi Lại Trước Khi Về Cõi là tập hợp một số bài viết diễn tả tâm tư của những người đã cầm súng chiến đấu tứ 1945 trong hàng ngũ Cộng Sản Việt Nam. Sách do Tủ sách Tiếng Quê Hương (1) ấn hành sẽ ra mắt độc giả vào cuối tháng 4/2006.

Tâm trạng người dân Việt Nam hậu bán thế kỷ 20 đã được Michel Tauriac diễn tả trong những dòng mở đầu tác phẩm Viet Nam, le dossier noir du communisme de 1945 à nos jours: Vào ngày 30/4/1975, nhiều người đã khóc cho nỗi đau mất mát và nhiều người đã cười trong niềm vui chờ đón ngày mai tốt lành hứa hẹn sẽ đến. Nhưng 25 năm sau, vào ngày 30/4/2000 thì hết thẩy đều khóc, vì không ai có thể cười và không ai còn kìm nổi nước mắt.

Nhà văn Pháp Michel Tauriac là người thông hiểu Việt Ngữ, vẫn coi Việt Nam như quê hương thứ hai, từng lê gót trên nhiều ngả đường Việt Nam trước và sau ngày 30/4/1975, đồng thời có không ít dịp tiếp xúc với giới lãnh đạo cả hai miền Nam Bắc. Michel Tauriac nêu lý do khiến không ai kìm nổi nước mắt là tới ngày 30/4/2000, xã hội Việt Nam chỉ hiện hình trong cảnh tượng công an lúc nhúc như rắn rết, linh mục bị đàn áp, tăng sĩ bị bao vây, con nít ăn xin đầy đường phố, giới trẻ mất phương hướng, bắt giam người không cần xét xử, nhà văn bị cấm viết những gì cần viết, nhà báo nhận lệnh phải viết bất cứ thứ gì, quan chức tham ô nhét tiền đầy túi trong khi dân chúng luôn quằn quại với cái bụng trống không.

Cảnh tượng thực tế này – không chỉ hiện ra dưới mắt Tauriac mà được gợi nhắc bởi nhiều người khác –– chính là yếu tố khơi nguồn cho tâm trạng Vũ Cao Quận để tác phẩm Gửi Lại Trước Khi Về Cõi ra đời.

Gửi Lại Trước Khi Về Cõi không phải tác phẩm văn học, không phải tác phẩm biên khảo cũng không phải tác phẩm chính luận bởi Vũ Cao Quận không phải nhà văn, không phải học giả, không phải chính khách và cũng không bao giờ cầm bút với ý hướng trở thành nhà văn, học giả hay chính khách.

60 năm trước đây, năm 1946, Vũ Cao Quận mới tròn 13 tuổi đã sớm bước vào đời dưới tác động của cơn bão thời thế dấy lên từ ước vọng nóng cháy của một dân tộc bị áp chế đang cố giành lại quyền tự chủ cuộc sống cho chính mình. Chọn lựa đó đặt Vũ Cao Quận vào giữa bom đạn triền miên suốt 30 năm cho tới ngày 30/4/1975. Vào ngày này, Vũ Cao Quận chắc chắn đã cười và cười thật vui, không chỉ do thấy mình còn giữ nổi mạng sống sau bao nhiêu bão lửa chiến trường mà còn do niềm tự hào đã góp phần tích cực vào công cuộc chung của dân tộc - đặc biệt là đã giành phần thắng đúng như ước mong từ tuổi thiếu niên để có thể hướng về tương lai với những ý tình bay bổng.

Rồi hơn hai thập kỷ trôi qua và ngày 30/4/2000 đến.

Lúc này thì ngay những người lạc quan nhất cũng không còn giữ nổi kiên nhẫn bởi một nghi vấn ngoài hẳn ý muốn không ngừng trỗi dậy: “Ba mươi năm xương máu và hai mươi nhăm năm hoà bình chẳng lẽ chỉ để đổi lấy cuộc sống nham nhở, nghèo nàn, lạc hậu như thế này sao? Tự Do – Dân Chủ – No Ấm – Hạnh Phúc vẫn xa vời vợi!”

Tại sao? Vũ Cao Quận trả lời: “Cái giá phải trả cho sự thí nghiệm một học thuyết trên cơ thể dân tộc Việt Nam đắt quá!”

Vũ Cao Quận lên tiếng vào lúc hàng loạt thành trì Cộng Sản tại Âu Châu đã sụp đổ và tình trạng lầm than thoái hoá là thực tế khó thể chối bỏ tại những nơi còn cố thủ đường lối đấu tranh giai cấp. Sau 30 năm máu xương tang tóc và hai mươi lăm năm vật vã giữa đói rét đoạ đày, thân phận dân tộc vẫn y hệt lũ chim cảnh chỉ được chuyển từ cái lồng sắt đen sì của chế độ thuộc địa sang cái lồng sơn son thiếp vàng lòe loẹt của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Cộng Sản đã hiện nguyên hình là lực cản mọi nỗ lực thăng triển đời sống, đồng thời là lực đẩy đời sống xuống đáy vực sâu nghẹt thở bằng những kích động phân lập để từng giây căng thẳng trong không khí liên tục đối đầu và tâm trạng hoang mang, khiếp hãi. Nền tảng của nếp sống an hoà là tình cảm thương yêu, tinh thần đùm bọc bị phá tan hoang để thay thế bằng tình cảm bè phái và tinh thần nô dịch.

Cho nên ở tuổi 70, Vũ Cao Quận lại phải khởi sự trở lại bước đi ở tuổi 13: góp phần vào nỗ lực đòi hỏi tháo gỡ gông xiềng để đem dân chủ tự do về cho đất nước. Bước đi trở lại như buổi đầu đời trở thành tất yếu nhưng không còn là bước đi bừng bừng hào khí của buổi đầu đời. Khác biệt không do độ tuổi 70 so với độ tuổi 13 mà do cảm giác chua cay vô phương chối bỏ dấy lên từ sự nhìn ngược lại một đoạn đường thời gian.

Trong ký ức, động cơ thúc đẩy ở buổi đầu đời vẫn đậm nét: “Sự tự nguyện dấn thân của lũ chúng tôi vào cuộc chiến tranh lâu dài của đất nước để giành lại nền độc lập là do lòng yêu nước từ ngàn xưa của tổ tiên truyền lại, nó ngấm vào máu thịt chúng tôi. Chứ chủ nghĩa Mác–Lênin không hề can dự gì vào đấy cả”. Vũ Cao Quận chưa quên “khi đọc lá thư hiệu triệu đồng bào của tác giả với danh xưng lạ lẫm Nguyễn Ái Quốc”, chẳng biết ông là ai, “nhưng bị cuốn theo cơn xoáy lốc biến thiên xã hội nghe gọi là “cách mạng mùa thu tháng 8”, với trí óc non tơ của chú bé trong đầu còn chứa đầy chuyện trinh thám, kiếm hiệp đã nghĩ đến một dị nhân bí ẩn với lòng kính trọng vừa mơ hồ vừa vu vơ ...” và giữa khung cảnh “rợp đường cờ đỏ sao vàng cùng bài Tiến Quân Ca hùng tráng, tôi thấy mình lớn lên như một trang hiệp sĩ.” Hàng hàng lớp lớp những trang hiệp sĩ như thế đã nghe vị kỳ nhân bí ẩn tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản để cùng nhân dân giành lại Độc Lập cho đất nước, xây dựng Tự Do, Hạnh Phúc cho đồng bào nên hết thẩy đều xả thân chiến đấu với niềm tin vào lời hứa là Cách Mạng Tháng 8 thành công thì mọi người dân đều được sống trong an lành, no ấm…

Vũ Cao Quận
Tới tuổi 70, Vũ Cao Quận vẫn thấy “chủ nghĩa Mác – Lênin chưa bao giờ tác động đến mọi nỗ lực trong cuộc đời chiến đấu và phẩm chất, đạo đức của tôi”. Như hàng hàng lớp lớp đã bước vào Cách Mạng Mùa Thu 1945, Vũ Cao Quận luôn thấy từng bước đi chỉ hướng theo ước vọng tạo một cuộc đổi đời tốt đẹp cho dân tộc. Nhưng khi về tới đích, khi được chào đón thành công lại không tránh nổi ngỡ ngàng trước thực tế.

Gửi Lại Trước Khi Về Cõi là những trang tâm bút chuyển tải nỗi lòng chua cay không của riêng tác giả Vũ Cao Quận mà của hàng hàng lớp lớp con dân Việt Nam thuộc nhiều thế hệ tiếp nối đã đương đầu với mọi thử thách hiểm nghèo do thúc đẩy của lòng yêu nước và niềm tin được xả thân vì chính nghĩa, nhưng cuối cùng đã đối diện với thực tế bi hài là hết thẩy chỉ cuồng nhiệt lao đầu vào một chiếc lồng mới.



Cho tới nay, nguyên do chủ yếu gây nên cảnh sống dưới gông xiềng của dân tộc thường được mô tả là bắt nguồn từ tình trạng băng hoại đạo đức hoặc chao đảo tư tưởng của những cá nhân quyền lực khiến tính nhất quán trong chỉ đạo đấu tranh đề ra từ buổi ban đầu bị phá vỡ. Từ đây đã vang lên những lời hô đòi chấn hưng đạo đức và chỉnh hướng đấu tranh theo khẩu hiệu Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc gắn liền với quốc hiệu Việt Nam từ Tháng Tám 1945.

Sức cuốn hút của hướng đặt vấn đề không chỉ nằm trong mục tiêu đề khởi mà còn nằm trong tác động vãn hồi niềm tin nơi hàng triệu con tim, bởi ít nhất cũng giảm nhẹ mức chua cay khó phủ lấp do nhận thức đã chạy ngược chiều ước nguyện. Nêu tên nguyên nhân dẫn đến cảnh xã hội đổ dốc là tình trạng sa đọa hoặc lạc hướng của một số cá nhân đã nhấc khỏi vai không ít người cái gánh trách nhiệm nặng nề tới ngộp thở.

Tuy nhiên, thực tế bao giờ cũng có tiếng nói riêng, bất kể trái ngược ý muốn của con người.

Trước hết, tương quan nhân quả giữa thực tại xã hội và sự sa đọa của một số cá nhân quyền lực khó phù hợp với cách nhìn đã nêu. Vũ Cao Quận từng nhắc đến những vòi nước đúc bằng vàng ròng trong nhà tắm của Ceausescu, lãnh tụ Cộng Sản Romania, những bộ sưu tập xe hơi xa xỉ của Brezhnev, lãnh tụ Cộng Sản Liên Xô, những biệt thự nguy nga bên bờ Hồ Tây của các lãnh tụ Cộng Sản Hà Nội… Sẽ không dễ dàng, nếu muốn tìm sự khác biệt trong cuộc sống của hàng loạt lãnh tụ ở những quốc gia Cộng Sản khác. Nhưng thú tính dù nằm trong bản chất con người không phải lúc nào cũng có thể thoải mái vẫy vùng theo tư ý cá nhân, nhất là vẫy vùng tới mức biến thành đại hoạ chung. Mọi cơ cấu tổ chức xã hội từ thuở sơ khai đều nghĩ tới những quy định ngăn cản sự xâm hại đời sống con người mà lý do chỉ là thoả mãn tư ý. Không cơ cấu tổ chức xã hội nào cho phép làm giàu bằng hành vi ngang nhiên cướp đoạt tài sản người khác và cũng không cơ cấu xã hội nào cho phép chà đạp, ngược đãi hoặc sát hại người khác để thoả mãn thù hận. Mọi tệ trạng chỉ xẩy ra do kẽ hở của các cơ cấu tổ chức và vì thế, nhiều hình thái xã hội đã nối nhau xuất hiện do ý hướng tăng triển mức an bình cho cuộc sống. Khi cuộc sống chỉ sở cậy vào một minh quân hoặc dễ dàng bị tàn hại bởi một bạo chúa thì hình thái xã hội vương quyền bị buộc phải xét lại. Hình thái xã hội dân chủ với tinh thần trọng pháp là một bước tiến dài trên nẻo đường ngăn trở mọi hành vi lạm quyền tác hoạ cho cộng đồng. Vào lúc các lãnh tụ Cộng Sản dùng vàng ròng trang hoàng nhà tắm, gom công quỹ sưu tập xe hơi và lo củng cố quyền lực thì tại nước Mỹ trong thập niên 1970, một Phó Tổng Thống bị truất phế vì không hoàn tất nghĩa vụ đóng thuế và một Tổng Thống phải từ chức để tránh bị đưa ra xét xử vì đã cho thuộc cấp nghe lén điện thoại của những người đối lập. Thực tế cho thấy con người chỉ có thể bức hại đời sống khi được mở lối và hỗ trợ bởi cơ cấu tổ chức đời sống. Cho nên không thể quy kết trọn vẹn trách nhiệm về sự đổ dốc của xã hội cho vài cá nhân sa đọa. Tác động chủ yếu vẫn khởi từ các cơ cấu tổ chức xã hội thâu tóm quyền lực vào tay một tập thể bằng cách tước đoạt hết thẩy quyền sống căn bản của mọi người. Các cơ cấu tổ chức theo kiểu mẫu này – trong đó có chế độ vô sản chuyên chế vốn là mục tiêu vươn tới của những người Cộng Sản – đặt dân chúng vào thế bị kìm hãm, trói buộc trong khi đặt vào tay một thiểu số mọi thuận lợi để mặc tình tác quái. Cuộc sống dưới gông xiềng của dân tộc Việt Nam hiện nay dù gắn bó với một tập thể sa đọa nhưng chính là hệ quả tất yếu của sự trạng ý hệ Cộng Sản nắm quyền chỉ đạo xã hội.

Hướng đặt vấn đề đã lưu tâm tới khía cạnh này khi viện dẫn tình trạng chao đảo tư tưởng khiến lâm cảnh lạc đường so với mục tiêu đề cập thuở ban đầu. Nền tảng được gợi nhắc là thời điểm 1945–1946, khắp nước Việt Nam đều vang lên những khẩu hiệu thúc giục người dân đấu tranh giành độc lập quốc gia và xây dựng một xã hội dân chủ ấm no. Đích nhắm được diễn tả cụ thể là đất nước không còn bị ngoại bang đô hộ, người dân không còn bị cường quyền áp chế, không còn đóng sưu nộp thuế, không còn phải nay đi làm phu mai đi phục dịch… Ngày 11/11/1945, lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam còn long trọng tuyên bố giải tán đảng và cam kết không theo đuổi ý hướng chính trị nào ngoài ước mong vì dân vì nước. Đem nền tảng này đối chiếu với thực tế xã hội hiện nay quả đã nổi bật sự thiếu nhất quán trong chỉ đạo đấu tranh và từ đây đã cất lên một lời hô mới: Hãy phản tỉnh để trở lại con đường mà lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ vạch. Nhưng, Hồ Chí Minh chỉ vạch con đường nào?

Các sử gia viết về Việt Nam giai đoạn này đều không quên bản hiệp ước 6/3/1946 do Hồ Chí Minh ký với Pháp và lời nói trong nước mắt của Hồ Chí Minh trước các đám đông phản đối: “Tôi, Hồ Chí Minh, đã luôn luôn lãnh đạo đồng bào đi theo con đường dẫn tới tự do… Tôi thề đã không phản bội đồng bào”. Nước mắt và lời thề đã giúp dẹp được cơn phẫn nộ vì mọi người tin là con đường vừa mở ra vẫn hướng về mục tiêu vì dân, vì nước.

Thực ra, các khẩu hiệu và lời lẽ trước công chúng chỉ là một khía cạnh. Khía cạnh khác góp phần biểu hiện toàn bộ thực tế luôn bị che khuất. Qua hồi ký Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên, Võ Nguyên Giáp ca ngợi Hồ Chí Minh là chiến lược gia đại tài về ẩn hình: “Đầu tháng Chín, Bác ra mắt nhân dân với danh hiệu Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Đó là bí danh Bác đã dùng mấy năm trước để che mắt bọn Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Những người cách mạng đã về sống giữa đồng bào, nhưng mọi hoạt động của Đảng vẫn tiến hành theo phương thức bí mật. Cán bộ Đảng chưa ra làm việc công khai. Hầu hết đảng viên đều công tác dưới danh nghĩa cán bộ Việt Minh”.

Tuy vậy, theo Võ Nguyên Giáp, “kẻ thù vẫn nhận ra ta” và việc thâu tóm quyền lực hết sức khó khăn, vì ngoài sự nghi ngại của quần chúng với chủ nghĩa Cộng Sản còn có sự hiện diện của một lực lượng chống Cộng Sản là quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa đang làm nhiệm vụ giải giới Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Hồ Chí Minh đã phải công khai tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản, nhưng đường đi chưa thể khai thông.

Đầu tháng 3/1946, tròn 4 tháng sau khi tuyên bố giải tán, Trung Ương Đảng Cộng Sản họp bàn liên tục về bản hiệp ước Pháp–Hoa 28/2/1946, theo đó, phía Trung Hoa Dân Quốc sẽ nhường vai trò cho Pháp, nếu Việt Nam chấp thuận. Do điều khoản này, Pháp đề nghị Việt Nam mở cuộc hoà đàm.

Đối với dân chúng Việt Nam lúc đó, kẻ đại thù duy nhất chỉ là người Pháp vì hơn 80 năm bị đô hộ và nhất là quân viễn chinh Pháp đang tấn công tái chiếm miền Nam. Phong trào Nam tiến đã đưa nhiều đợt trai tráng tình nguyện lên đường đi chiến đấu bảo vệ miền Nam từ cuối năm 1945 nên việc mở cửa đón quân Pháp đổ bộ vào miền Bắc là hành vi phản quốc.
Võ Nguyên Giáp kể lại: “Rất nguy hiểm là bọn Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội... Chúng cố tìm cách khích động quần chúng bằng khẩu hiệu: Không điều đình với ai hết. Thắng hay là chết… Chúng muốn phá cuộc đàm phán giữa ta và Pháp.”

Ngày 3/3/1946, Thường Vụ Trung Ương Đảng đề ra chủ trương hòa với Pháp. Chủ trương này được phân tích sẽ đem về cho Đảng Cộng Sản hai thắng lợi lớn. Trước hết, quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa triệt thoái khỏi Việt Nam sẽ xoá bỏ ưu thế của các đoàn thể theo chủ trương dân tộc. Kế tiếp, dân chúng và mọi thành phần đấu tranh trong các đoàn thể không chấp nhận Cộng Sản sẽ phải dẹp mối ưu tư về ý hệ để dồn sức đối đầu với cảnh ngộ nóng bỏng do bị đẩy vào thế trực diện với quân viễn chinh Pháp. Thường Vụ Trung Ương đánh giá đây là cơ may hiếm có giúp Đảng Cộng Sản củng cố vị thế lãnh đạo và phát triển lực lượng, dù đón quân Pháp vào miền Bắc là rước đại hoạ về cho đất nước. Trước các đám đông phẫn nộ, Hồ Chí Minh đã khóc lóc, giải thích là bắt buộc phải ký để tránh bùng nổ chiến tranh với Pháp. Nhưng giữa đám đồng chí trong buổi họp Thường Vụ Trung Ương ngày 9/3/1946, Hồ Chí Minh phấn khởi báo tin vui đã ký được hiệp ước 6/3/1946 và đánh giá là thắng lợi lớn với lập luận: “Đẩy khỏi đất nước mười tám vạn tên chống Cộng khét tiếng, cách mạng đã gạt đi một kẻ thù hết sức nguy hiểm, trút đi một gánh nặng…”.

Nhà báo Bernard Fall có nhiều dịp đàm luận với Hồ Chí Minh và đến cuối đời – trước khi tử nạn tại Việt Nam năm 1967 – vẫn khâm phục Hồ Chí Minh, cho rằng hiệp ước 6/3/1946 có thể là động cơ thúc đẩy cuộc chiến nổ ra vào cuối năm 1946. Tuy nhiên, trong tác phẩm Ho Chi Minh on Revolution, Bernard Fall ghi nhận: “Chiến tranh bùng nổ đã đơn giản hóa những khó khăn về chính trị của ông Hồ. Không cần phải đối xử với phe đối lập bằng bàn tay bọc nhung nữa: Cứ việc gọi họ một cách đơn giản là Việt gian.” Bernard Fall tả lại cách đối xử với những phần tử đối lập hoặc không chấp nhận theo Cộng Sản là “cứ trói lại từng chùm rồi thả xuống sông cho trôi ra biển”.

Từ những trang hồi ký của Võ Nguyên Giáp đến các ghi nhận của Bernard Fall, mối ưu tư thực sự của Đảng Cộng Sản chỉ tập trung vào việc độc chiếm quyền hành và loại khỏi chính trường hết thẩy các đoàn thể yêu nước bằng mọi giá, bất kể tác hại cho vận mạng dân tộc. Khía cạnh thực tế này bộc lộ rõ hơn qua các chỉ thị, lời khuyên hay những trang tài liệu của Hồ Chí Minh. Khi gây dựng Cộng Sản Đoàn tại Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã thuyết phục 8 đồng chí đầu tiên về nội dung nghị quyết chiến lược cách mạng vô sản tại đại hội V Đệ Tam Quốc Tế tháng 6/1924: “Chúng ta không bao giờ chấp nhận các phần tử dân tộc…Chúng ta chỉ lợi dụng sự bất mãn của họ để phục vụ cuộc cách mạng vô sản.”

Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa ái quốc là điều nguy hiểm
Thể hiện quan điểm chiến lược đó với cảnh giác về lòng yêu nước, trong số ra ngày 20/12/1926, báo Thanh Niên của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Hồ Chí Minh thành lập đã nhắc nhở hội viên phải luôn tâm niệm: “Dân tộc chỉ là màu sắc chứ không phải bản chất… Chủ nghĩa ái quốc là điều nguy hiểm”. Trần Văn Giàu cũng ghi lại lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh: “Chúng ta làm cách mạng đánh đế quốc thực dân tức là đánh tư bản chủ nghĩa. Cuộc cách mạng đó có qui mô thế giới mà cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam là một bộ phận”.

Sẽ không ai ngạc nhiên khi chuyên gia về các vấn đề Á Châu Dennis J. Duncanson phát biểu: “Phong trào cộng sản Việt Nam là một phong trào khuynh đảo phát động từ bên ngoài do Liên Xô dùng làm khí cụ quấy phá…” Duncanson không phê phán mà chỉ phát hiện theo những sự kiện – từ chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế ra lệnh đổi tên Đảng Cộng Sản Việt Nam thành Đảng Cộng Sản Đông Dương, đổi ngày khai sinh đảng từ 6/1/1930 thành 3/2/1930, tới xu hướng của tổng số 211 đảng viên đương thời. Trong tổng số trên, 157 đảng viên nội địa tuyệt đối tuân hành chỉ thị của 54 đảng viên hải ngoại và 54 người này tuyệt đối tuân hành chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế theo đúng hệ thống tổ chức ấn định bởi nghị quyết 11/4/1931: “Đảng Cộng Sản Đông Dương trước đây là một chi bộ của Đảng Cộng Sản Pháp, từ nay được công nhận là chi bộ độc lập trực thuộc Quốc Tế Cộng Sản”.

Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, chính Hồ Chí Minh nhấn mạnh về tính hệ thống này: “Đệ Tam Quốc Tế là một đảng Cộng Sản thế giới, các đảng ở các nước như là chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có lệnh và kế hoạch của Đệ Tam Quốc Tế thì các đảng không được làm.” Cho nên Duncanson khẳng định: “Đảng Cộng Sản Đông Dương không bao giờ là lực lượng đấu tranh yêu nước mà trái lại, còn gần như chống lại những người chống thực dân – almost anti–anti–colonial”.

Toàn cảnh cái nền thực tế đã hiện hình và hiện hình trong vóc dáng tương phản hoàn toàn với ý hướng coi thực tại xã hội Việt Nam hiện nay là hậu quả tình trạng đi lạc mục tiêu đề ra 60 năm trước.

Bởi, từ 1945 và xa hơn nữa, từ 1924, Hồ Chí Minh không hề đặt mình vào hướng phụng sự dân tộc. Mục tiêu thực sự của Hồ Chí Minh được chính ông nêu rõ từ năm 1923: “Chỉ có chủ nghĩa Cộng Sản mới cứu nhân loại, đem lại nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa là những vách tường dày ngăn cản người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau. Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới.”

Dưới mắt Hồ Chí Minh, dân tộc đã là một tập thể chứa đầy nọc độc bởi trong đó tồn tại cả các giai cấp phản động – kẻ đại thù cần tiêu diệt của giai cấp vô sản. Cho nên, nghị quyết trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương tháng 3/1931 xác định: “Cuộc đấu tranh giai cấp cần được mở rộng và mọi ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc phải được phá hủy tận gốc rễ”. Một lời nhắc mà Hồ Chí Minh luôn lập lại: “Chủ nghĩa Lênin là cẩm nang, địa bàn dành cho chúng ta, những người cách mạng và nhân dân; nó cũng là mặt trời rực sáng soi đường dẫn lối tới thắng lợi cuối cùng, tới xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa”.

Ước mong duy nhất hướng về dân tộc của Hồ Chí Minh, nếu có, không là gì khác ngoài việc đưa toàn dân tới tập họp dưới ngọn cờ Cộng Sản. Mọi khẩu hiệu tuyên xưng đường lối tranh thủ độc lập quốc gia, tự do hạnh phúc cho dân tộc chỉ là màu sắc của bộ áo chiến lược cần thiết nhất thời để tránh trở ngại và dễ dàng khai thác toàn bộ tài lực dân tộc. Cho tới nay, con đường này không hề chuyển đổi, vì giữa phong ba bão táp của chính tình thế giới, Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn kiên trung với tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết tâm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Do đó, đòi hỏi phản tỉnh để trở lại con đường do Hồ Chí Minh chỉ vạch là đòi hỏi thừa thãi và hài hước –– nếu không muốn coi là đòi hỏi mà chính tập thể đương quyền Việt Nam mong được đặt ra. Đòi hỏi này chỉ giúp tăng thêm độ dày của bộ áo chiến lược luôn cần thiết cho sự phát triển và củng cố vị thế của Đảng Cộng Sản. Bởi, cách đặt vấn đề đã kéo dài tình trạng ngộ nhận về một điều chưa bao giờ có thật là lòng yêu nước thương dân của Hồ Chí Minh cùng chủ trương đấu tranh vì dân tộc của người Cộng Sản. Tình trạng ngộ nhận này là nhu cầu tối thiết cho sự nắm quyền của người Cộng Sản và là yếu tố hàng đầu mang lại thành công cho Đảng Cộng Sản Việt Nam từ thuở khởi lập.

Triết gia Jean–Francois Revel từng nhận định: “Hồ Chí Minh là người thực hiện chặt chẽ nhất phương pháp mà chủ nghĩa cộng sản thi thố suốt thế kỷ 20. Đó là vận dụng sức mạnh trong mong ước tự nhiên của con người như các nguyện vọng tự do, độc lập, tiến bộ rồi xoay chuyển sức mạnh đó để phục vụ mục đích trái ngược với mục đích mà những người bị lợi dụng theo đuổi…Dựa vào mong ước tự do để nô lệ hóa là phương pháp của Lênin mà Hồ Chí Minh tuyệt đối tuân thủ.”

Cũng như Duncanson, triết gia Revel thấy “mục tiêu của Hồ Chí Minh không phải nền độc lập của Việt Nam mà là đưa quốc gia này vào Quốc Tế Cộng Sản”

Đây không phải khám phá công phu mà là điều vẫn được nhắc bởi chính người chủ trương. Giữa các tài liệu, Sophie Quinn–Judge đã đọc thấy một chỉ thị của Hồ Chí Minh: “Trong công tác quần chúng, Đảng cần truyền bá chương trình “cách mạng dân chủ tư sản” và dùng tình cảm dân tộc để lôi cuốn họ tán thành phong trào cách mạng của công nhân – nông dân và chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng”

Qua Giọt Nước Trong Biển Cả, Hoàng Văn Hoan ghi lại từng có người nghĩ Hồ Chí Minh có xu hướng dân tộc, muốn thoả hiệp với các phần tử yêu nước khi Hồ Chí Minh liên hệ với các nhân vật Quốc Dân Đảng Trung Hoa, các sĩ quan OSS Mỹ hay Sainteny… Hoàng Văn Hoan khẳng định không bao giờ có chuyện Hồ Chí Minh khuynh hữu và chê những người ngờ vực: “Cách nghĩ như vậy không phù hợp thực tế, không hiểu hết ý nghĩa chiến lược và sách lược của sự việc”.

Hoàng Tùng có thời cận kề Hồ Chí Minh, cho rằng khẩu hiệu chiến lược của Stalin –– Tất cả các Đảng Cộng Sản và công nhân, hãy giương cao ngọn cờ dân tộc, dân chủ mà tiến lên – chính là một sáng tạo về phương thức đấu tranh của Hồ Chí Minh từ cuối thập niên 1920. Theo Hoàng Tùng, sáng tạo này khiến một thời Hồ Chí Minh phải chịu hàm oan là có xu hướng thoả hiệp với chủ nghĩa dân tộc gây cho ông một nỗi buồn vì các đồng chí chưa hiểu thấu lòng tận trung của ông với lý tưởng Cộng Sản. Ngọn cờ dân tộc, ngọn cờ dân chủ mà ông hô hào giương cao chỉ là màu sắc để lôi cuốn mọi thành phần lao mình vào cuộc chiến phụng sự lý tưởng Cộng Sản chứ không bao giờ là biểu tượng thực sự của nỗ lực đấu tranh. Riêng Võ Nguyên Giáp kể lại, trọn đời Hồ Chí Minh chỉ có 3 ngày vui lớn: “Đó là ngày Bác được đọc bản Luận Cương Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đó là ngày thành lập Đảng Cộng Sản Pháp năm 1920. Và ngày lịch sử mồng 3 tháng Hai năm 1930 thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương”.

Diễn tả trọn vẹn về Hồ Chí Minh là những lời của lãnh tụ Cộng Sản Liên Xô Khrutschev trong hồi ký Nikita Khrutschev Remembers: “Hồ Chí Minh là tông đồ của Cách Mạng…, là vị thánh của chủ nghĩa Cộng Sản, người nhiệt thành xả thân vì đại nghĩa…đóng góp vô vị lợi cho chính nghĩa Cộng Sản.” Khrutshchev cụ thể hoá công lao đóng góp thần thánh của Hồ Chí Minh cho lý tưởng Cộng Sản là “người dân Việt Nam đang đổ máu và hiến dâng sinh mạng mình vì lợi ích của phong trào Cộng Sản thế giới.”

Một người nhiệt thành đem xương máu dân tộc mình hiến dâng cho lợi ích một chủ thuyết chính trị chắc chắn không ưu tư về nguyện vọng của dân tộc. Hơn nữa, chính Hồ Chí Minh đã nghĩ dân tộc là nơi chứa chấp đầy nọc độc, đã quả quyết ái quốc là điều nguy hiểm, đã chỉ thị phải huỷ diệt tận gốc rễ mọi hình thức dân tộc chủ nghĩa… thì càng không có lý do bận tâm tới độc lập của đất nước, tự do của người dân. Chính Hồ Chí Minh đã nói rõ chỉ mượn ngọn cờ dân tộc, ngọn cờ dân chủ để tiến tới chủ nghĩa Cộng Sản, hoàn thành cuộc cách mạng vô sản để đưa giai cấp lao động toàn thế giới tới với nhau. Vì thế, những người cận kề Hồ Chí Minh đã nhận thấy nỗi buồn lớn nhất của ông là chưa được thấu hiểu lòng tận trung với lý tưởng Cộng Sản và những ngày vui lớn nhất trong đời ông chỉ là những ngày ghi dấu bước tiến của phong trào Cộng Sản –– dù bước tiến thành lập đảng Cộng Sản Pháp không liên hệ đến vận mạng dân tộc Việt Nam.

Hướng đường đấu tranh mở ra bởi một người như thế không thể đưa tới thực tế xã hội phù hợp nguyện vọng của những người đi ngược chiều –– những người chọn mục tiêu phụng sự quốc gia dân tộc. Đích nhắm của Hồ Chí Minh là thế giới đại đồng của riêng giai cấp vô sản. Con đường đi tới là tiêu diệt các giai cấp tư sản, phá bỏ mọi biên giới quốc gia qua những bước bắt buộc. Bước đầu tiên là đoạt chính quyền vì theo Engels, chính quyền là bộ máy của một giai cấp để tiêu diệt giai cấp khác . Bước kế tiếp là tổ chức điều hành bộ máy, theo Lenin, phải tiến tới chế độ vô sản chuyên chính với định nghĩa: “Nền chuyên chính vô sản là quyền lực đoạt được và duy trì qua sử dụng bạo lực của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, đó là quyền lực không bị hạn chế bởi luật pháp nào.” Chiến lược đoạt chính quyền tại Đông Dương thì Jacques Doriot – một nhân vật Cộng Sản Quốc Tế mà Hồ Chí Minh luôn ngưỡng phục – chỉ rõ: “Chỉ có thể đi theo một con đường: đó là con đường đấu tranh cho Độc Lập”.

Vì thế độc lập trở thành chiêu bài vận dụng từ 1924 khi Hồ Chí Minh tới Quảng Châu. Trước hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã thấy mấy chữ độc lập quốc gia là vô nghĩa trong hệ thống quốc tế mà mọi đảng Cộng Sản chỉ là chi bộ của một đảng Quốc Tế duy nhất. Chính Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Việc gì chưa có lệnh và kế hoạch của Đệ Tam Quốc Tế thì các đảng không được làm.” Sở dĩ dựng ngọn cờ độc lập quốc gia bởi có chỉ thị của Doriot và cũng là chiến lược để truyền bá chủ nghĩa Cộng Sản mà Lenin đã vạch trong Luận Cương Các Vấn Để Dân Tộc và Thuộc Địa. Độc lập quốc gia càng vô nghĩa hơn khi Hồ Chí Minh là cán bộ lãnh lương từ Viễn Đông Vụ (FEB) và mọi phí tổn công tác đều do Quốc Tế Cộng Sản đài thọ. Cộng Sản Nga không thể từ tâm tới mức dễ dàng đổ tiền bạc và trí lực như thế để giành độc lập cho dân tộc Việt Nam. Bản chỉ thị ngày 25/11/1945 của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam có chi tiết sau: “Kẻ thù cụ thể trước mắt lúc này là bọn phản động Pháp. Chúng chủ trương câu kết với đế quốc Mỹ và đế quốc Anh để bao vây Liên Xô”. Thời điểm đó, quân Pháp đã chiếm Sài Gòn tròn hai tháng và đang tấn công tái chiếm miền Nam, nhưng đảng viên Cộng Sản Việt Nam được chỉ thị coi Pháp là kẻ thù chỉ bởi lý do Pháp đang âm mưu bao vây Liên Xô.

Những từ Tự Do Hạnh Phúc đứng kế sau hai chữ Độc Lập cũng mất điểm tựa bởi hành động trấn áp các đoàn thể yêu nước, đặc biệt là các sắc lệnh do Hồ Chí Minh ký sau chỉ hai tuần lễ nắm chính quyền. Sắc lệnh số 31 ký ngày 13/9/1945 cấm dân chúng hội họp hoặc tụ tập nếu không trình báo trước và có sự chấp thuận của chính quyền. Ngày 15/9/1945, một sắc lệnh khác công bố quyết định “đưa đi an trí” mọi phần tử được coi là “nguy hiểm cho cách mạng”… Đây là hai trong số các sắc lệnh đầu tiên Hồ Chí Minh ký với tư cách chủ tịch Nhà Nước vẫn giữ hiệu lực để đưa gần 1 triệu người miền Nam vào các trại tù sau 30/4/1975. Cũng không thể quên sắc lệnh 149–SL về ruộng đất và sắc lệnh 151–SL về trừng trị địa chủ do Hồ Chí Minh ký ngày 12/4/1953. Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số tháng 4/1993 ca ngợi ý nghĩa của các sắc lệnh trên: “Nhà Nước đã quyết định đưa đấu tranh phản phong tiến lên một bước mới, tiếp thu kinh nghiệm Trung Quốc sử dụng bạo lực chính trị của quần chúng đấu tranh đòi địa chủ phải giảm tô, giảm tức.”

Vài hoạt cảnh đấu tranh theo các sắc lệnh đó được tạp chí Cải Cách Ruộng Đất xuất bản tại Hà Nội năm 1956 ghi lại: “…Rất nhiều cán bộ dùng nhục hình: treo, đánh, bắt cởi quần áo đứng ngoài đêm rét…Đồng chí L. ở xã Đảng Cương bắt con địa chủ ra truy tố không được, bực quá ra lệnh cho anh em du kích trói chặt cánh khuỷu nó lại và treo lủng lẳng lên cành cây…

…Ở xã Hồng Phong, đồng chí T. bắt con địa chủ Thị Công ra truy tố. Đồng chí gọi đứa con nó mới 13 tuổi đến giải thích để phản hóa rồi cho nó về với mẹ nó không được. Đồng chí T. nổi giận cho trói đứa bé lại treo ngược lên xà nhà, kéo lên kéo xuống. Một mặt bắt mẹ nó quỳ xuống, dang hai tay ra, mỗi bên đeo một hòn đá nặng rồi đổ nước mắm vào mũi. Đồng chí tưởng nhục hình như thế là moi được tô nhưng rút cục chẳng ăn thua gì”
.

Cuốn Tiến Trình Lịch Sử Việt Nam in tại Hà Nội năm 2001 cho biết Cải Cách Ruộng Đất tiến hành trên 3653 xã liên quan 2 triệu hộ gồm khoảng 8 triệu dân với chỉ tiêu bắt buộc là trong 100 người phải đưa ra xử tội ít nhất 5 người – tức đã có ít nhất 400 ngàn nạn nhân bị hành hạ, thảm sát...

Có thể hình dung cảnh sống kinh hoàng của người dân qua các vần thơ phổ biến trên mọi phương tiện truyền thông lúc đó, đặc biệt từ những chiếc loa tại các đầu làng, ngõ xóm:

Anh em ơi! Quyết chung lòng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung kẻ thù
Địa hào, đối lập ra tro
Lưng chừng, phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đoạ đày chết thôi!

Xuân Diệu

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít–ta–lin bất diệt.

Tố Hữu


Cảnh sống kinh hoàng đó của người dân được Hồ Chí Minh đánh giá trong lá thư ngày 18/8/1956 gửi nông dân và cán bộ: “Sự hoàn thành thắng lợi của Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc… là một chiến thắng vĩ đại”. Dù ngưỡng mộ Hồ Chí Minh tới mức nào cũng khó gọi hành động của ông khởi từ ước mong vì dân vì nước và tin tưởng nổi tính trung thực của các khẩu hiệu đã đưa ra. Con đường do Hồ Chí Minh chỉ vạch rõ ràng luôn tận trung với lý tưởng Cộng Sản như Tố Hữu đã diễn tả – giết, giết nữa, cho Đảng bền lâu…

Con đường tiếp tục nối dài về miền Nam sau thời điểm 1956. Từ thời điểm này tới 1959, 6000 cán bộ tập kết được bí mật đưa trở về miền Nam để khuấy động bằng khủng bố mà thành tích ghi lại là “1700 viên chức nguỵ quyền bị hạ năm 1959 và năm 1960 có 4000 tên đền tội”

Năm 1959, Hồ Chí Minh cũng cho mở đường Trường Sơn đưa lực lượng vào Nam và cuối năm 1960, Đảng Cộng Sản dưới tên Đảng Lao Động Việt Nam thông qua quyết nghị thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam với bản huấn thị về chi tiết tổ chức: “Trong hiện tình, trung ương ủng hộ việc đưa những phần tử ngoài Đảng vào mặt trận, không phải vì Đảng sẽ giao cho họ những trọng trách… nhưng dùng tài năng và uy tín của họ để xúc tiến cách mạng và làm cho mặt trận thêm thanh thế hầu giải phóng miền Nam.” Hơn một năm sau, tháng 1/1962, quyết định thành lập trong lòng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam một chính đảng lấy tên là đảng Nhân Dân Cách Mạng với lời giải thích: “Việc thành lập đảng Nhân Dân Cách Mạng ở miền Nam chỉ là vấn đề chiến lược nhằm đánh lừa kẻ thù…. Trong đảng, cần giải thích rằng, lập nên đảng Nhân Dân Cách Mạng nhắm cô lập Mỹ với chế độ Diệm, để ngăn không cho chúng tố cáo miền Bắc chúng ta xâm lăng miền Nam. Đó là cách tiến hành kế hoạch xâm chiếm miền Nam đồng thời cho phép Mặt Trận Giải Phóng tuyển thêm đảng viên và thu phục thiện cảm của các nước không liên kết ở Đông Nam Á.”

Tóm lại, ngọn cờ dân tộc lại được giương cao để tiếp tục làm chiêu bài cho mục tiêu bành trướng cách mạng vô sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Con đường Trường Sơn ròng rã ngót hai mươi năm đưa những đoàn người nối tiếp vào Nam đã thấm đẫm máu xương và ngập ngụa đoạ đày hơn bất cứ hình ảnh địa ngục nào. Nhưng hàng hàng lớp lớp con dân Việt Nam dưới tác động của những lời lẽ đường mật đã bước trên đó với tâm nguyện sắt son dâng hiến thân mình ngăn chống ngoại xâm để phá bỏ gông xiềng cho dân tộc. Chỉ khi đã đến cuối đường, đã gặt hái thành công tất cả mới ngỡ ngàng vì thực tế trước mắt hoàn toàn khác với những gì từng nghe và càng khác xa với những gì mong đợi.

Người ta lớn, bởi vì mi quì xuống
Hỡi nhân dân, hãy đứng thẳng lên!

Douglas Pike trong nỗ lực biện bạch cho nhân vật thần tượng của mình đã gọi đây là công lệ lịch sử. Theo Douglas Pike, bất kỳ phong trào tranh đấu nào thành công cũng chuyển sang thời kỳ củng cố quyền lực mà kẻ địch lúc này chính là nhân dân. Dù Hồ Chí Minh không hề mong muốn thì theo số phận lịch sử, cái chính nghĩa chống thực dân vẫn bắt buộc phải biến tính để đi vào thời kỳ chuyên chế chống lại chính những người từng hy sinh giành thắng lợi cho nó. Trút trách nhiệm cho tiến trình lịch sử, Douglas Pike cố xoá bỏ tính chiêu bài của những ngọn cờ dân tộc, dân chủ mà người Cộng Sản dựng lên từ 1945 để đặt Hồ Chí Minh vào hàng ngũ yêu nước. Trên thực tế, Hồ Chí Minh đã chọn xong hàng ngũ từ thập niên 1920 và chỉ vận dụng những người yêu nước theo cái cách mà Jean–Francois Revel đã nhận định: “Vận dụng sức mạnh trong mong ước tự nhiên của con người như các nguyện vọng tự do, độc lập, tiến bộ rồi xoay chuyển sức mạnh đó để phục vụ mục đích trái ngược với mục đích mà những người bị lợi dụng theo đuổi”. Cho nên, đòi hỏi phản tỉnh để trở lại con đường mà lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ vạch đã vượt xa tính hài hước để trở thành quái đản vì chỉ có thể hình dung bằng việc chui đầu vào sợi dây treo cổ với ý nghĩ đó là cách duy trì sự sống.



Một đoạn đường lịch sử đã qua.

Đòi hỏi cần thiết là phá tan những đám sa mù để nhìn rõ thực tế. Điểm nổi bật trong thực tế là Việt Nam đã lao vào ngõ cụt theo con đường thảm hoạ chồng chất máu xương vạch ra và dẫn dắt bởi những người Cộng Sản ẩn mình dưới bộ áo yêu nước. Những người yêu nước đã choáng mắt trước bộ áo đó nên bị lợi dụng thảm hại như Jean–Francois Revel diễn tả.

Nhưng sẽ bất công và vô ích, khi oán hận và trút trách nhiệm về thực tế này cho sự tệ hại của chủ nghĩa Cộng Sản, cho ảo vọng u mê của Hồ Chí Minh và những người Cộng Sản hay nhẫn tâm của các đồng minh trong trận tuyến tự do. Chủ nghĩa Cộng Sản tệ hại tới mức nào, Hồ Chí Minh và những người tôn thờ Cộng Sản u mê tới mức nào, các đồng minh trong trận tuyến tự do nhẫn tâm tới mức nào đều vô nghĩa. Trách nhiệm về tình trạng đất nước đi vào ngõ cụt để ngột ngạt dưới gông xiềng hiện nay không thuộc về bất kỳ thứ tệ hại, u mê, nhẫn tâm nào. Hết thẩy những thứ đó chỉ nỗ lực đi theo hướng đã chọn và nỗ lực hoàn tất trách nhiệm để đạt mục tiêu đã chọn. Không thể oán trách kẻ kiên trì đi theo hướng đi của họ, nhất là oán trách họ khai thác sức lực của mình để thu ngắn nẻo đường dẫn họ tới đích –– dù đích tới của họ là xô mình xuống vực thẳm.

Điều duy nhất có ý nghĩa là nhìn thẳng vào chọn lựa của bản thân mình. Hơn nửa thế kỷ qua, hàng hàng lớp lớp con dân Việt Nam bởi nhiều lý do thúc đẩy đã tự đặt mình dưới sự sai khiến của những thứ tệ hại, u mê hoặc đã trao vận mạng cho những thứ nhẫn tâm và thảm cảnh dân tộc lầm than hiện nay là hậu quả tất yếu. Chính hàng hàng lớp lớp con dân Việt Nam đã tự động bước lên đối đầu với mọi khó nguy, chấp nhận mọi gian khổ, sẵn sàng hy sinh mạng sống để làm cái công việc hoả thiêu tổ ấm của chính mình hầu xây nền dựng móng cho những nguồn tai họa chi phối và ngự trị đời sống Việt Nam.

Thời gian đã quá dài và không còn lý do nào chính đáng để trì hoãn cái nhìn thằng vào thực tế đau xót này. Ảnh hưởng và tác động khách quan dù lớn tới mức nào thì con người vẫn chủ động khi chọn lựa một quyết định, đồng thời luôn phải lãnh trọn trách nhiệm về chọn lựa đó. Mọi biện bạch để trút bỏ trách nhiệm về thực tại đổ dốc của xã hội Việt Nam hiện nay khỏi vai chính những con dân Việt Nam đã hết lý do tồn tại.
Nhưng nhìn nhận trách nhiệm chỉ để gục đầu thở dài hối tiếc đã lỡ bước cũng vô nghĩa không khác ngồi nguyền rủa giận hờn các thế lực gieo tai rắc hoạ đã phá tan mọi ước nguyện chính đáng của mình thành tro bụi hoặc trông chờ các thế lực đó tự cải hoá để biến màu.

Gửi Lại Trước Khi Về Cõi của Vũ Cao Quận gợi nhắc nhiều sự việc, nhiều tâm tư, nhưng gợi nhắc chân thành và khẩn thiết nhất có lẽ chỉ gom trong 2 câu thơ ngắn của Marat:

Người ta lớn, bởi vì mi quì xuống
Hỡi nhân dân, hãy đứng thẳng lên!

Virginia 01/2006

Copyright © 2006 DCVOnline

Chú thích:
1. Tủ sách Tiếng Quê Hương P.O. Box 4653 – Falls Church, VA 22044
Phát hành trong tháng 4/2006:
Gửi Lại Trước Khi Về Cõi — Tâm bút của Vũ Cao Quận (250 trang, 15 USD)
Vũng Lầy Của Bạch Ốc — Người Mỹ và chiến tranh VN 1945-75, Biên khảo của Nguyễn Kỳ Phong (650 trang, 30 USD)


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_mot_gui_nhac_to_goi_lai_truoc.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.