Theo Đàn Chim Việt - Tuệ Chương - 20-06-2006
Tiếp theo Phần I, ngày 19/06/2006
Khoảng sau 12 giờ đêm, một chiếc xe của ty Thông tin - xe trên mui có
loa - từ hướng đài phát thanh chậm chậm đi lên, có tiếng TT Trí Quang
từ trên loa phát ra, yêu cầu đồng bào Phật tử ai về nhà nấy. Có nhiều
tiếng la lên, lính ở đầu cầu, làm sao mà về. TT Trí Quang nói: “Đồng
bào đi theo thầy (ông tự gọi là thầy, theo phong tục, tiếng đồng bào
thường gọi các nhà sư một cách thân mật) xe thầy đi trước, đồng bào đi
theo sau”. Nhờ đó mà đồng bào bên hữu ngạn về bên tả ngạn, hay ngược
lại, ai về nhà nấy, mọi việc bình thường trở lại. Đêm đó, nếu không có
TT Trí Quang làm việc đó, không biết tình thế sẽ như thế nào!
Khi thấy hơi êm, tôi bước ra xa cổng nhà một chút thì có ông Bàng, một
người trước kia từng theo “cụ” Ngô, rất thân cận với “cậu” Cẩn, nay đã
về hưu, nhà ở ngay sau nhà tôi, đứng nói chuyện với tôi. Ông ta than
phiền, “Làm chi rứa không biết. Mai mốt đài phát thanh ngoại quốc họ
nói um lên, thiệt là kỳ cục”. Tới lúc đó, những ngưới quanh tôi cũng
chưa ai biết rõ về việc lựu đạn nổ và có người chết.
Sáng hôm sau - tôi không nhớ vì sao lúc đó chưa tới hè mà tôi không đi
dạy, vì nếu đi dạy, thế nào vào trường cũng nghe học sinh nói rất nhiều
về chuyện đàn áp đêm qua, học trò là “chúa” nhiều chuyện - Em gái đi
phố về nói là có một số thanh thiếu niên, mang băng vàng chéo qua
người, mang hàng chữ “Hãy giết chúng tôi” vừa đi vừa hô khẩu hiệu, từ
chợ Đông Ba lên chùa Từ Đàm và ngược lại. Cảnh sát, quân đội chẳng ai
đụng tới chúng hết. Theo em tôi tình hình Huế ngày hôm đó rất sôi động,
đi đâu cũng nghe bàn tán vụ đàn áp đài phát thanh, người bị lựu đạn
chết, lời oán trách chế độ. Lúc đó, không có ai nói tới việc xe “tăng”
cán chết người ở sân đài phát thanh. Đêm đó, ở sân đài phát thanh chỉ
có xe thiết giáp loại nhỏ, không có xe “tăng”, và việc xe “tăng” cán
chết người có lẽ sau nầy người ta thêm thắt vào cho lâm li mà thôi. Tuy
nhiên, mấy ngày sau, đi ngang đài phát thanh, tôi còn thấy trước sân
ngỗn ngang guốc giép, do đồng bào hốt hoảng bỏ lại, chạy chân không cho
lẹ.
Chiều hôm đó (ngày 9 tháng 5), người ta báo cho nhau hay có thông báo
của chùa Từ Đàm, sáng mai, lúc 10giờ, ngày 10 tháng 5, có biểu tình ở
chùa Từ Đàm, về việc đàn áp tối hôm qua.
Tôi và người bạn rũ nhau “đi coi” cuộc biểu tình đó. TT Trí Quang đứng
trên sân khấu điều khiển, đọc diễn văn, đưa ra 5 nguyện vọng v.v...
Nhìn TT, tôi bỗng nhớ tới hình ảnh Hitler mà tôi đã thấy, mặc dù TT
không có bộ râu đặc biệt như nhà độc tài Phátxít, không đưa chân múa
tay như Hitler, tôi vẫn thấy có nét gì đó rất khó nói, có thể là một sự
khôn ngoan sắc sảo, khéo léo, rất mềm mỏng mà rất cương quyết, một cục
đường rất ngọt nhưng lại rất khó nuốt đối với nhà cầm quyền, núp dưới
chiếc áo nâu quê mùa, gian khó. Tôi và người bạn nói với nhau về những
nhận xét về ông ta - người bạn đó sau nầy vào ngồi ở phủ đầu rồng, là
linh hồn của đảng Dân Chủ - và anh ấy cùng đồng ý với tôi là tiếng nói
của TT Trí Quang có vẽ như là một nhà chính trị, cách mạng hơn là nhà
tu hành và ông ta phải là một “tay” chiến lược.
Dù sao, tình hình lúc đó cũng chưa có gì gọi là “căng”, 5 nguyện vọng
đưa ra không có gì quá đáng. Phải chi chính quyền sáng suốt, thực tâm
giải quyết ngay lúc đó thì hay biết bao nhiêu. Chỉ chừng đó thôi, cũng
có thể coi như ông Ngô Đình Diệm đáp lại ân tình cùa người dân Huế đã
nặng lòng với ông từ hàng chục năm nay, từ khi ông rủ áo từ quan, đâu
thành chuyện lấy oán báo ân như sau nầy. Thành ra giữa nhà “chí sĩ” và
những người từng ủng hộ ông chỉ còn oán hận mà thôi. Điều đó, đáng
trách là ở ông Diệm, chính ông phản bội tấm lòng của họ đói với ông vậy.
Sau này có một số sách báo, cũng như thông báo của chính quyền nói rằng
đêm đó Việt cộng lợi dụng cơ hội đồng bào tụ tập, ném lựu đạn làm chết
người. Dĩ nhiên tôi không tin. Nhà cầm quyền nói lựu đạn nổ hôm đó là
loại MK-3, loại tấn công, Việt cộng mới có, quân đội VN lúc này không
có thứ đó. Điều đó trẻ con và buồn cười. Người lính trên xe thiết giáp
hôm đó có thể không có MK-3, nhưng người nhận lệnh từ ông Ngô Đình
Thục, hay Ngô Đình Cẩn, hay từ một cơ quan nào đó dưới tay hai ông này,
không thể không có MK-3. Những tổ chức đặc vụ, tình báo, ám sát, thủ
tiêu thì có đủ loại vũ khí họ muốn.
Như tôi đã nói, là ba phát súng lệnh nổ trước, lựu đạn nổ sau,
đìều đó có nghĩa là sau khi nghe súng lệnh, người quăng lựu đán mới làm
nhiệm vụ đã giao. Nếu Việt cộng (như thông báo của chính quyền) hay một
tay đại úy Mỹ nào đó, nói như trong sách của Cao Thế Dung (Làm thế nào để giết một tổng thống)
thì sao lại có sự ngẫu hợp nhịp nhàng đến độ vừa có súng lệnh của Đặng
Sĩ thì bên kia lợi dụng tức thì cơ hội để ném lựu đạn. Vả lại, Mỹ hay
Việt cộng ném lựu đạn thì không cần súng lệnh. Vậy Đặng Sĩ bắn 3 phát
súng lệnh để làm gì. Mấu chốt vấn đề ở đây là súng lệnh và lựu đạn nổ,
cái nào trước, cái nào sau. Rõ ràng hôm đó, tôi thấy người chỉ huy trên
chiếc xe thiết giáp mang tên Ngô Đình Khôi bắn ba phát súng lệnh trưóc, lựu đạn nổ sau,
tiếng nổ khá lớn. Thiên hạ, có tôi trong đó mới bỏ chạy. Ai cũng chạy
vì tiếng lựu đạn nổ lớn làm cho hoảng hồn, chứ không chạy vì ba phát
súng lệnh. Nếu lựu đạn nổ trước thì tôi đã hoảng hồn chạy trước, đâu
còn đứng lại đó để thấy lửa từ nòng súng lệnh phụt ra. Tôi nhớ rõ hình
ảnh nầy bởi vì ánh lửa đỏ trong đêm đen bao giờ cũng là hình ảnh rất dễ
gây ấn tượng cho người nhìn thấy nó.
Thêm vào đó, súng lệnh của Đặng Sĩ có ý nghĩa gì? Chắc chắn lệnh đó là
lệnh đàn áp, lệnh tấn công. Đàn áp ai, tấn công ai? Không lý hôm đó
Đặng Sĩ thấy tên Việt cộng hay tên đại úy Mỹ ném lựu đạn mà ra lệnh tấn
công chúng để “bảo vệ” dân? Hỏi như thế là có câu trả lời rồi.
Thêm một điều nữa, như tôi đã nói, cuộc biểu tình hôm đó là tự phát,
không chuẩn bị hay có thông báo trước, nên phía Việt cộng hay Mỹ không
thể chuẩn bị trước để quăng lựu đạn. Khi đồng bào tụ tập đông đảo, phía
chính quyền muốn đàn áp thì cứ vạch kế hoạch rồi dàn cảnh ra như thế.
Phát súng lệnh là lệnh chung cho cả hai phía: phía binh lính trên xe
thiết giáp và phía một hay hai, ba người) được lệnh ném lựu đạn vào dân.
Người nào ra lệnh đàn áp?
Dĩ nhiên là chính quyền, nhưng chính quyền lúc đó nằm trong tay ai? Đại
biểu chính phủ Hồ Đắc Khương? Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẵng, Tiểu khu
trưởng Đặng Sĩ hay Cố vấn chỉ đạo Ngô Đình Cẩn?
Không !
Có lẽ Hồ Đắc Khương, Nguyễn văn Đẵng chẳng biết mô tê gì! Đặng Sĩ là
người nhận lệnh và chỉ huy trực tiếp cuộc đàn áp. Ngô Đình Cẩn thì đã
bị “cướp chính quyền”.
Từ khi “đức” Tổng giám mục Ngô Đình Thục rời Vĩnh Long về “làm vua” ở
Huế (địa phận Huế) thì ông ta giành mất quyền hành trước đây của ông em
út. Văn phòng Cố vấn chỉ đạo (trước nhà thờ Phú Cam) bị đóng cửa, các
ông tỉnh, ông quận, tướng tá thay vì ra vào “chầu” ở nhà “cậu” như
trước kia thì nay thậm thụt ở tòa Tổng giám mục. Giũa anh em Thục-Cẩn
nay đã có sự tranh giành, ganh ghét nhau, điều mà ông Ngô Đình Diệm nói
với ông Võ Như Nguyện là “bì oa trữ nhục”, không có gì hàn gắn lại
được. Ông Nguyện là con cụ cử Võ Bá Hạp, đồng chí của cụ Phan Bội Châu.
Ông Nguyện là “đại công thần”, theo “cụ” Ngô hồi đầu thập niên 1940,
sau này cũng bị ra rìa.
Nói thế là rõ Đặng Sĩ nhận lệnh từ ai rồi!
Sau vụ Ba Lòng, vụ Bình xuyên Ba Cụt; việc đàn áp đảng phái, tôn giáo
của chính quyền Ngô Đình Diệm đã mất chính nghĩa. Chính sách độc tài
đảng trị được đem ra áp dụng rất mất lòng dân. Tôi chỉ nói hai sự việc
mà tôi thấy tận mắt.
Mùa hè năm 1957, tôi về cửa Việt chơi, khi đạp xe đạp ngang qua làng
Tường Vân, gần cửa Việt, tôi thấy một ông già ngồi kế hàng rào ngoài
ngõ, mân mê mấy bát hương (nhang) mà khóc. Hỏi, mới biết chuyện như thế
này:
Ông già bị tội có 3 người con trai tập kết ngoài Bắc. Do đó, ông thường
bị Chi Công An quận Triệu Phong, tỉnh Quảng trị gọi lên điều tra, giam
giữ đôi ba ngày. Lâu lâu, công an lại gọi điều tra, giam giữ như thế.
Ông linh mục ở làng Du Lý, cách làng Tường Vân không xa, cho người đến
khuyên ông, hễ “rửa tội” đi, cha sẽ “giúp đỡ”, công an không làm khó dễ
nữa. Ông già không chịu, “Tui khôông bỏ “ôn” bà được”. Thế là Công An
lại bắt. Ai ai cũng nghĩ rằng giữa công an và ông cha đạo hợp đồng chơi
trò xa luân chiến, cuối cùng ông già chịu thua, theo đạo, bưng bát
nhang ông bà bỏ ra ngoài hàng rào, rước tượng chúa, tượng mẹ đặt lên
bàn thờ. Tháng vài lần, ức tình, ông uống rượu, ra ngồi bên hàng rào ôm
bát nhang ông bà mà mà khóc, mượn rượu mà chưởi chính quyền, chưởi ông
cha đạo. Công an lại bắt, ông lại cam kết, ông cha đạo lại ‘giúp đỡ,
ông lại được tha về. Tôi đoán là sau này, khi Việt cộng mạnh lên, chiếm
vùng này, chắc chắn ông ta là người hoan hô cộng sản. Vậy đó, chung ra
thì chính quyền và ông cha đạo đã “vô tình xúi dân theo Việt cộng”.
Cũng khoảng năm 1957-58, có bầu cử quốc hội, ở thị xã Quảng trị có hai
người ra ứng cử. Một là ông Hồ Duy Tình, công giáo, người làng Hội Yên,
phủ Hải Lăng, nơi trước kia ông Diệm đã làm tri phủ. Chỗ quen biết của
“cụ” hồi xưa, nên năm 1954, khi cụ còn là thủ tướng, lần đầu tiên về
thăm Quảng Trị, “cụ” đã gắn cho ông Hồ Duy Tình Bảo Quốc huân chương đệ
tam đẳng. Thế cũng tạm được đi. Sau đó, ông Hồ Duy Tình làm dân biểu
theo cung cách đầu phiếu như tôi sẽ kể sau đây.
Năm đó, ông Hồ Duy Tình ra ứng cử lần 2, uy tín của ông xuống lắm vì
trình độ ông đã thấp (hương sư - tức là thầy giáo làng), vào nghị
trường không thấy nói năng gì cho ra lẽ, phim thời sự của bộ Thông tin
thì chiếu hình ông đang de lúa. Người tranh cừ với ông là bà Lê Thị Ng.
phu nhân ông TTDT, trường ty Tiểu học, nhờ uy tín của chồng, nhờ là một
Phật tử thuần thành (rất chăm đi chùa Tỉnh hội) bà có thể đắc cử.
Tôi được gọi làm thư ký viết biên bản kiểm phiếu vì có chút chữ nghĩa.
Hễ người kiểm phiếu đọc tên ai (Hồ Duy Tình hay Lê Thị Ng. thì gạch một
gạch lên ô có dấu chấm in sẵn. Người cùng làm thư ký như tôi là ông
Hoành, thượng sĩ đã giải ngũ, sau này là bố vợ trung tá Lê Đức Kh. Ông
Tống Viết Lệ (thầy Lệ, cựu y tá, lúc đó là xếp xòng “Tập Đoàn Công Dân”
ở Phường tôi, phường Đệ Tứ, thị xã Quảng Trị), ngồi kiểm phiếu. Ông mở
phong bì, lôi phiếu ra, hễ phiếu ai thì ông đọc tên người đó. Chỉ được
một lúc, một số người, dĩ nhiên là phe “Tập đoàn Công Dân” của ông Lệ
giả bộ kêu ‘nóng quá, trong này nóng quá. Ra sân một chút cho mát’. Rồi
tất cả kéo nhau ra sân, cháo gà nấu sẵn bưng tới “giải lao”. Trong
phòng chỉ còn lại ba người, hai người thư ký cắm cúi gạch cho đúng, sợ
trật; còn ông Lệ, ngồi đố diện với chúng tôi, phiếu Lê Thị Ng. hay
phiếu Hồ Duy Tình, ông đều đọc là Hồ Duy Tình hết, thỉnh thoảng ông
nhắc thư ký rán gạch cho trúng để cuối cùng hai biên bản khớp nhau. Thế
là tôi ráng nghe ông đọc mà viết. Dĩ nhiên, ông Hồ Duy Tình đắc cử là
chắc trăm phần trăm.
Phiếu bầu, gom lại đem đốt, chỉ giữ 2 cọc phong bì, một bầu cho Lê thị
Ng. và một cho Hồ Duy Tình. Phong bì có ghi số thứ tự giống như số thứ
tự trên danh sách cử tri, nhìn số thứ tự đó, công an biết ai bỏ phiếu
cho ai, vào sổ đen, trị dễ như không !!!
Dân chủ kiểu Ngô Đình Diệm đấy!!!
Thời gian tiếp theo sau đó là những cuộc đàn áp Phật giáo càng ngày
càng khốc liệt. Tôi chẳng tham gia bất cứ cuộc đấu tranh nào. Đêm 20
tháng 8, đêm tấn công chùa Từ Đàm, tôi ngủ lại nhà một người bạn ở Ga
Huế. Tôi và người bạn đứng trên mui một toa xe lửa, ngóng về hướng
chùa, nghe tiếng súng nổ, tiếng la, tiếng mõ, tiếng thùng thiếc đánh
inh ỏi, tiếng cầu cứu mà thấy kinh hoàng. Ông Ngô Đình Diệm, người mà
người dân Huế tôn vinh là chí sĩ, là nhà cách mạng, là vị cứu tinh của
dân tộc, từ những ngày đầu khi ông mới về nước, người dân Huế lập bàn,
kết hoa, chưng đèn, đốt trầm hương đón ông như đón một vị cha già của
dân tộc, một quốc phụ như Tôn Văn của Trung hoa thì nay ông Ngô Đình
Diệm đối xử với người dân Huế như thế đãy, sau khi đã tròng lên đầu họ
một chế độ độc tài, kỳ thị tôn giáo tàn tệ nhất trong ịch sử dân tộc.
Ai phản bội ai ? Người dân Huế không tự tay giết ông Diệm nhưng nếu có
cơ hội, không chắc họ có đủ can đảm làm được việc đó, đới với một người
họ đã từng yêu mến, kính trọng, nhưng hậu quả ông nhận sau ngày 2 tháng
11 năm đó há không phải là cái quả do những việc anh em ông cũng như đệ
tử ông đã gây ra cho đồng bào Huế hay sao?! Nhân quả, ân oán ở cõi đời
này là vậy. Quan Công đòi “Trả đầu cho ta!”. Vậy thì ai trả đầu cho Văn
Xú?
Xin hãy để cho ông Ngô Đình Diệm nằm yên dưới đáy mồ.
Phần II
Sau khi ông Ngô Đình Diệm chết rồi, những người chống đối ông, “những
nhà cách mạng ăn theo”, trong một khoảng thởi gian ngắn ngủi, nắm được
quyền lực thì đã làm được gì?
"Cách mạng thành công”, trong một cuộc biểu tình ở tỉnh lỵ Quảng trị,
một anh đại diện sinh viên lên sân khấu vừa đọc diễn văn vừa khóc “các
thầy có tội tình gì mà Diệm Nhu đóng đinh vào đầu thầy, đánh chết các
thầy rồi đem chôn dưới gốc cây để làm phân bón trên 9 hầm (Trước kia là
nơi Pháp cất dấu võ khí phòng khi đánh nhau với Nhật, sau này là đồn
điền của ông Ngô Đình Cẩn). Như thế cứ mỗi gốc cây thì có ít nhất một
hồn ma của một thầy. Đồn điền này của ‘cậu’ có tới hàng chục, hàng trăm
gốc cây thì có hàng chục hàng trăm thầy bị chôn ở đó. Như thế thì thầy
ở các chùa bị chôn hết rồi, chẳng còn ai sống sót. Nghe anh sinh viên
vừa đọc diễn văn vừa khóc như thế, các bà già cũng khóc theo. Không
khóc thế nào được. Nam nhi chi chí còn rơi nước mắt trên sân khấu huống
chi các bà già rất dễ mũi lòng! Tôi chỉ tiếc là anh sinh viên này theo
Phật mà vu oan giá họa cho người ta, thêm thắt những việc người ta làm,
có ít xít cho nhiều thì anh ta chỉ là kẻ thờ Phật ăn oản mà thôi. Học
hành để làm gì ???!!!
Cũng chính anh sinh viên đó sau này hướng dẫn một cuộc biểu tình ở
Đànẵng, kéo đoàn biểu tình lên hướng Thanh Bồ Đức Lợi, khiêu khích đồng
bào theo Thiên Chúa giáo trên đó, khiến xảy ra một cuộc ẩu đã, đâm chém
nhau cả chục người chết, vậy mà khi về Huế, anh ta còn lên đài phát
thanh khoe khoang “chiến công” của mình!!!
Các nhà lãnh đạo mới đâu có phải chừng đó đã hết. Bỗng dưng họ trở
thành lãnh tụ, vào ra chùa Từ Đàm hằng ngày, và có quyền ra lệnh cho
Cảnh sát. Ngày tướng Huỳnh Văn Cao bị mưu sát ở sân bộ Tư lệnh Sư Đoàn
1, trước đó 1 tiếng đồng hồ, tôi “đi coi” một cuộc biểu tình tại Thương
Bạc, thấy một lãnh tụ của “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc”, ông NVB, “giáo
sư” viện đại học Huế (mặc dù ông ta mới đậu cử nhân), ra lệnh cho cảnh
sát cấm đồng bào qua lại trên đoạn đường Trần Hưng Đạo trước Thương
Bạc, làm trở ngại cuộc biểu tình của ông ta.
Người có phe phái có nhiều cái lợi, trước hết là có công ăn việc làm
ngon. Trong khi ở Saigon biết bao nhiêu người đậu cử nhân, không kiếm
ra công ăn việc làm, thì ở Huế, chỉ cần ghi danh học cao học, nhờ một
thế lực nào đó, nhảy vào làn giáo sư đại học Huế dễ như không. Đã có
nghề ngỗng, lại khỏi bị động viên, ra trận dễ chết? Tuy nhiên, họ lại
là những nhà cách mạng, nhà đại cách mạng, lãnh đạo dân tộc, tranh đấu
cho... tự do dân chủ, mưu cầu hạnh phúc cho... nhân dân v.v... và v.v...
Phần III
Nhiều người Việt Nam ở hải ngoại bây giờ đang hô hào đấu tranh cho tự
do dân chủ. Họ thắt càvạt, đọc diễn văn, nhồm nhoàm ăn tiệc, uống rượu
sâm-banh, tới đâu cũng có sẵn kẻ đưa người rước rất nồng nhiệt, vui vẻ,
có đồng bào đứng dậy vỗ tay hoan hô v.v... và v.v... Đấu tranh kiểu đó
chắc... không có gian khổ. Bài bản họ thuyết giảng cũng... vui, nghe
qua rồi... bỏ. Mới đây, ở Boston, có mấy ông lớn (cấp Tổng hội) tới
giảng về “Vai trò của người cựu tù nhân chính trị trong tương lai” -
nhưng giấy mời thì nói là hội thảo). Tôi có đi nghe, rất chăm chú, nghe
xong, chẳng thấy vai mà chỉ thấy... trò. Ai đi nghe, nhớ chuẩn bị tiền
mua sách của mấy ổng, lời vàng ý ngọc, bỏ qua rất... uổng.
Người ta tính đường đi cũng hay. Hễ mai mốt cộng sản Hà Nội vì sức ép
của Mỹ mà “bố thí” đa nguyên đa đảng, quý ông dựa vào thế lực Mỹ nên
được cộng sản Hà Nội chia cho ít ghế. Vậy rồi thầy trò chia nhau mà
ngồi để... phục vụ nhân dân, “công tư vẹn cả đôi bề...”.
Karl Marx, khi còn trẻ, có mấy câu thơ khá hay:
Chỉ có ai bằng chiến đấu hiên ngang,
Giành cuộc sống tự do từng giờ, từng phút
Mới đáng hưởng tự do và cuộc đời chân thật.
Phùng Quán, một đêm đọc thơ Đỗ Phủ cho vợ nghe, thấy cảnh khổ người xưa mà vợ ông khóc. Phùng Quán nói với vợ:
Em ơi đừng khóc nữa,
Chuyện ngàn năm, ngàn năm
(ngàn năm trước và ngàn năm sau người dân cũng khốn khổ thế thôi, dù nhân loại đã kinh qua nhiều cuộc “cách mạng” - tg)
Hễ đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khôn cùng
Thơ chết áo đắp mặt.
Xin đừng hiểu Thơ đây là Thi ca. Thơ đây có nghĩa
là những người làm cách mạng thật sự, những người hy sinh hạnh phúc của
mình mà lo hạnh phúc chung cho dân tộc. Những người đó không thể là
những người thắt càvạt, đọc "đít-cua" và ăn tiệc nhồm nhoàm. Chúa Giêsu
vì nhân loại mà phải vác thánh giá đi trên "con đường khổ nạn". Người
chịu hy sinh hạnh phúc riêng của mình mà lo hạnh phúc chung, hạnh phúc
dân tộc, không thể có con đường nhung lụa mà đi. Họ phải đi trên “con
đường khổ nạn” như Chúa, chỉ khác là không bằng cái khổ nạn của Chúa mà
thôi. Con đường đó là con đường “đi với nhân dân”, mà nhân dân bây giờ
ở quê nhà đang chịu cảnh “máu lệ khốn cùng” thì ai trong chúng ta “hễ
đi với nhân dân” chỉ có “chết áo đắp mặt”.
Tháng 6/2006
Copyright © 2006 by DCVOnline