Một nhân chứng bất đắc dĩ (II)

Theo Đàn Chim Việt - Tuệ Chương - 20-06-2006

Tiếp theo Phần I, ngày 19/06/2006

Khoảng sau 12 giờ đêm, một chiếc xe của ty Thông tin - xe trên mui có loa - từ hướng đài phát thanh chậm chậm đi lên, có tiếng TT Trí Quang từ trên loa phát ra, yêu cầu đồng bào Phật tử ai về nhà nấy. Có nhiều tiếng la lên, lính ở đầu cầu, làm sao mà về. TT Trí Quang nói: “Đồng bào đi theo thầy (ông tự gọi là thầy, theo phong tục, tiếng đồng bào thường gọi các nhà sư một cách thân mật) xe thầy đi trước, đồng bào đi theo sau”. Nhờ đó mà đồng bào bên hữu ngạn về bên tả ngạn, hay ngược lại, ai về nhà nấy, mọi việc bình thường trở lại. Đêm đó, nếu không có TT Trí Quang làm việc đó, không biết tình thế sẽ như thế nào!

Khi thấy hơi êm, tôi bước ra xa cổng nhà một chút thì có ông Bàng, một người trước kia từng theo “cụ” Ngô, rất thân cận với “cậu” Cẩn, nay đã về hưu, nhà ở ngay sau nhà tôi, đứng nói chuyện với tôi. Ông ta than phiền, “Làm chi rứa không biết. Mai mốt đài phát thanh ngoại quốc họ nói um lên, thiệt là kỳ cục”. Tới lúc đó, những ngưới quanh tôi cũng chưa ai biết rõ về việc lựu đạn nổ và có người chết.

Sáng hôm sau - tôi không nhớ vì sao lúc đó chưa tới hè mà tôi không đi dạy, vì nếu đi dạy, thế nào vào trường cũng nghe học sinh nói rất nhiều về chuyện đàn áp đêm qua, học trò là “chúa” nhiều chuyện - Em gái đi phố về nói là có một số thanh thiếu niên, mang băng vàng chéo qua người, mang hàng chữ “Hãy giết chúng tôi” vừa đi vừa hô khẩu hiệu, từ chợ Đông Ba lên chùa Từ Đàm và ngược lại. Cảnh sát, quân đội chẳng ai đụng tới chúng hết. Theo em tôi tình hình Huế ngày hôm đó rất sôi động, đi đâu cũng nghe bàn tán vụ đàn áp đài phát thanh, người bị lựu đạn chết, lời oán trách chế độ. Lúc đó, không có ai nói tới việc xe “tăng” cán chết người ở sân đài phát thanh. Đêm đó, ở sân đài phát thanh chỉ có xe thiết giáp loại nhỏ, không có xe “tăng”, và việc xe “tăng” cán chết người có lẽ sau nầy người ta thêm thắt vào cho lâm li mà thôi. Tuy nhiên, mấy ngày sau, đi ngang đài phát thanh, tôi còn thấy trước sân ngỗn ngang guốc giép, do đồng bào hốt hoảng bỏ lại, chạy chân không cho lẹ.

Chiều hôm đó (ngày 9 tháng 5), người ta báo cho nhau hay có thông báo của chùa Từ Đàm, sáng mai, lúc 10giờ, ngày 10 tháng 5, có biểu tình ở chùa Từ Đàm, về việc đàn áp tối hôm qua.

Tôi và người bạn rũ nhau “đi coi” cuộc biểu tình đó. TT Trí Quang đứng trên sân khấu điều khiển, đọc diễn văn, đưa ra 5 nguyện vọng v.v...

Nhìn TT, tôi bỗng nhớ tới hình ảnh Hitler mà tôi đã thấy, mặc dù TT không có bộ râu đặc biệt như nhà độc tài Phátxít, không đưa chân múa tay như Hitler, tôi vẫn thấy có nét gì đó rất khó nói, có thể là một sự khôn ngoan sắc sảo, khéo léo, rất mềm mỏng mà rất cương quyết, một cục đường rất ngọt nhưng lại rất khó nuốt đối với nhà cầm quyền, núp dưới chiếc áo nâu quê mùa, gian khó. Tôi và người bạn nói với nhau về những nhận xét về ông ta - người bạn đó sau nầy vào ngồi ở phủ đầu rồng, là linh hồn của đảng Dân Chủ - và anh ấy cùng đồng ý với tôi là tiếng nói của TT Trí Quang có vẽ như là một nhà chính trị, cách mạng hơn là nhà tu hành và ông ta phải là một “tay” chiến lược.

Dù sao, tình hình lúc đó cũng chưa có gì gọi là “căng”, 5 nguyện vọng đưa ra không có gì quá đáng. Phải chi chính quyền sáng suốt, thực tâm giải quyết ngay lúc đó thì hay biết bao nhiêu. Chỉ chừng đó thôi, cũng có thể coi như ông Ngô Đình Diệm đáp lại ân tình cùa người dân Huế đã nặng lòng với ông từ hàng chục năm nay, từ khi ông rủ áo từ quan, đâu thành chuyện lấy oán báo ân như sau nầy. Thành ra giữa nhà “chí sĩ” và những người từng ủng hộ ông chỉ còn oán hận mà thôi. Điều đó, đáng trách là ở ông Diệm, chính ông phản bội tấm lòng của họ đói với ông vậy.

Sau này có một số sách báo, cũng như thông báo của chính quyền nói rằng đêm đó Việt cộng lợi dụng cơ hội đồng bào tụ tập, ném lựu đạn làm chết người. Dĩ nhiên tôi không tin. Nhà cầm quyền nói lựu đạn nổ hôm đó là loại MK-3, loại tấn công, Việt cộng mới có, quân đội VN lúc này không có thứ đó. Điều đó trẻ con và buồn cười. Người lính trên xe thiết giáp hôm đó có thể không có MK-3, nhưng người nhận lệnh từ ông Ngô Đình Thục, hay Ngô Đình Cẩn, hay từ một cơ quan nào đó dưới tay hai ông này, không thể không có MK-3. Những tổ chức đặc vụ, tình báo, ám sát, thủ tiêu thì có đủ loại vũ khí họ muốn.

Như tôi đã nói, là ba phát súng lệnh nổ trước, lựu đạn nổ sau, đìều đó có nghĩa là sau khi nghe súng lệnh, người quăng lựu đán mới làm nhiệm vụ đã giao. Nếu Việt cộng (như thông báo của chính quyền) hay một tay đại úy Mỹ nào đó, nói như trong sách của Cao Thế Dung (Làm thế nào để giết một tổng thống) thì sao lại có sự ngẫu hợp nhịp nhàng đến độ vừa có súng lệnh của Đặng Sĩ thì bên kia lợi dụng tức thì cơ hội để ném lựu đạn. Vả lại, Mỹ hay Việt cộng ném lựu đạn thì không cần súng lệnh. Vậy Đặng Sĩ bắn 3 phát súng lệnh để làm gì. Mấu chốt vấn đề ở đây là súng lệnh và lựu đạn nổ, cái nào trước, cái nào sau. Rõ ràng hôm đó, tôi thấy người chỉ huy trên chiếc xe thiết giáp mang tên Ngô Đình Khôi bắn ba phát súng lệnh trưóc, lựu đạn nổ sau, tiếng nổ khá lớn. Thiên hạ, có tôi trong đó mới bỏ chạy. Ai cũng chạy vì tiếng lựu đạn nổ lớn làm cho hoảng hồn, chứ không chạy vì ba phát súng lệnh. Nếu lựu đạn nổ trước thì tôi đã hoảng hồn chạy trước, đâu còn đứng lại đó để thấy lửa từ nòng súng lệnh phụt ra. Tôi nhớ rõ hình ảnh nầy bởi vì ánh lửa đỏ trong đêm đen bao giờ cũng là hình ảnh rất dễ gây ấn tượng cho người nhìn thấy nó.

Thêm vào đó, súng lệnh của Đặng Sĩ có ý nghĩa gì? Chắc chắn lệnh đó là lệnh đàn áp, lệnh tấn công. Đàn áp ai, tấn công ai? Không lý hôm đó Đặng Sĩ thấy tên Việt cộng hay tên đại úy Mỹ ném lựu đạn mà ra lệnh tấn công chúng để “bảo vệ” dân? Hỏi như thế là có câu trả lời rồi.

Thêm một điều nữa, như tôi đã nói, cuộc biểu tình hôm đó là tự phát, không chuẩn bị hay có thông báo trước, nên phía Việt cộng hay Mỹ không thể chuẩn bị trước để quăng lựu đạn. Khi đồng bào tụ tập đông đảo, phía chính quyền muốn đàn áp thì cứ vạch kế hoạch rồi dàn cảnh ra như thế. Phát súng lệnh là lệnh chung cho cả hai phía: phía binh lính trên xe thiết giáp và phía một hay hai, ba người) được lệnh ném lựu đạn vào dân.

Người nào ra lệnh đàn áp?

Dĩ nhiên là chính quyền, nhưng chính quyền lúc đó nằm trong tay ai? Đại biểu chính phủ Hồ Đắc Khương? Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẵng, Tiểu khu trưởng Đặng Sĩ hay Cố vấn chỉ đạo Ngô Đình Cẩn?

Không !

Có lẽ Hồ Đắc Khương, Nguyễn văn Đẵng chẳng biết mô tê gì! Đặng Sĩ là người nhận lệnh và chỉ huy trực tiếp cuộc đàn áp. Ngô Đình Cẩn thì đã bị “cướp chính quyền”.

Từ khi “đức” Tổng giám mục Ngô Đình Thục rời Vĩnh Long về “làm vua” ở Huế (địa phận Huế) thì ông ta giành mất quyền hành trước đây của ông em út. Văn phòng Cố vấn chỉ đạo (trước nhà thờ Phú Cam) bị đóng cửa, các ông tỉnh, ông quận, tướng tá thay vì ra vào “chầu” ở nhà “cậu” như trước kia thì nay thậm thụt ở tòa Tổng giám mục. Giũa anh em Thục-Cẩn nay đã có sự tranh giành, ganh ghét nhau, điều mà ông Ngô Đình Diệm nói với ông Võ Như Nguyện là “bì oa trữ nhục”, không có gì hàn gắn lại được. Ông Nguyện là con cụ cử Võ Bá Hạp, đồng chí của cụ Phan Bội Châu. Ông Nguyện là “đại công thần”, theo “cụ” Ngô hồi đầu thập niên 1940, sau này cũng bị ra rìa.

Nói thế là rõ Đặng Sĩ nhận lệnh từ ai rồi!

Sau vụ Ba Lòng, vụ Bình xuyên Ba Cụt; việc đàn áp đảng phái, tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã mất chính nghĩa. Chính sách độc tài đảng trị được đem ra áp dụng rất mất lòng dân. Tôi chỉ nói hai sự việc mà tôi thấy tận mắt.

Mùa hè năm 1957, tôi về cửa Việt chơi, khi đạp xe đạp ngang qua làng Tường Vân, gần cửa Việt, tôi thấy một ông già ngồi kế hàng rào ngoài ngõ, mân mê mấy bát hương (nhang) mà khóc. Hỏi, mới biết chuyện như thế này:

Ông già bị tội có 3 người con trai tập kết ngoài Bắc. Do đó, ông thường bị Chi Công An quận Triệu Phong, tỉnh Quảng trị gọi lên điều tra, giam giữ đôi ba ngày. Lâu lâu, công an lại gọi điều tra, giam giữ như thế. Ông linh mục ở làng Du Lý, cách làng Tường Vân không xa, cho người đến khuyên ông, hễ “rửa tội” đi, cha sẽ “giúp đỡ”, công an không làm khó dễ nữa. Ông già không chịu, “Tui khôông bỏ “ôn” bà được”. Thế là Công An lại bắt. Ai ai cũng nghĩ rằng giữa công an và ông cha đạo hợp đồng chơi trò xa luân chiến, cuối cùng ông già chịu thua, theo đạo, bưng bát nhang ông bà bỏ ra ngoài hàng rào, rước tượng chúa, tượng mẹ đặt lên bàn thờ. Tháng vài lần, ức tình, ông uống rượu, ra ngồi bên hàng rào ôm bát nhang ông bà mà mà khóc, mượn rượu mà chưởi chính quyền, chưởi ông cha đạo. Công an lại bắt, ông lại cam kết, ông cha đạo lại ‘giúp đỡ, ông lại được tha về. Tôi đoán là sau này, khi Việt cộng mạnh lên, chiếm vùng này, chắc chắn ông ta là người hoan hô cộng sản. Vậy đó, chung ra thì chính quyền và ông cha đạo đã “vô tình xúi dân theo Việt cộng”.

Cũng khoảng năm 1957-58, có bầu cử quốc hội, ở thị xã Quảng trị có hai người ra ứng cử. Một là ông Hồ Duy Tình, công giáo, người làng Hội Yên, phủ Hải Lăng, nơi trước kia ông Diệm đã làm tri phủ. Chỗ quen biết của “cụ” hồi xưa, nên năm 1954, khi cụ còn là thủ tướng, lần đầu tiên về thăm Quảng Trị, “cụ” đã gắn cho ông Hồ Duy Tình Bảo Quốc huân chương đệ tam đẳng. Thế cũng tạm được đi. Sau đó, ông Hồ Duy Tình làm dân biểu theo cung cách đầu phiếu như tôi sẽ kể sau đây.

Năm đó, ông Hồ Duy Tình ra ứng cử lần 2, uy tín của ông xuống lắm vì trình độ ông đã thấp (hương sư - tức là thầy giáo làng), vào nghị trường không thấy nói năng gì cho ra lẽ, phim thời sự của bộ Thông tin thì chiếu hình ông đang de lúa. Người tranh cừ với ông là bà Lê Thị Ng. phu nhân ông TTDT, trường ty Tiểu học, nhờ uy tín của chồng, nhờ là một Phật tử thuần thành (rất chăm đi chùa Tỉnh hội) bà có thể đắc cử.

Tôi được gọi làm thư ký viết biên bản kiểm phiếu vì có chút chữ nghĩa. Hễ người kiểm phiếu đọc tên ai (Hồ Duy Tình hay Lê Thị Ng. thì gạch một gạch lên ô có dấu chấm in sẵn. Người cùng làm thư ký như tôi là ông Hoành, thượng sĩ đã giải ngũ, sau này là bố vợ trung tá Lê Đức Kh. Ông Tống Viết Lệ (thầy Lệ, cựu y tá, lúc đó là xếp xòng “Tập Đoàn Công Dân” ở Phường tôi, phường Đệ Tứ, thị xã Quảng Trị), ngồi kiểm phiếu. Ông mở phong bì, lôi phiếu ra, hễ phiếu ai thì ông đọc tên người đó. Chỉ được một lúc, một số người, dĩ nhiên là phe “Tập đoàn Công Dân” của ông Lệ giả bộ kêu ‘nóng quá, trong này nóng quá. Ra sân một chút cho mát’. Rồi tất cả kéo nhau ra sân, cháo gà nấu sẵn bưng tới “giải lao”. Trong phòng chỉ còn lại ba người, hai người thư ký cắm cúi gạch cho đúng, sợ trật; còn ông Lệ, ngồi đố diện với chúng tôi, phiếu Lê Thị Ng. hay phiếu Hồ Duy Tình, ông đều đọc là Hồ Duy Tình hết, thỉnh thoảng ông nhắc thư ký rán gạch cho trúng để cuối cùng hai biên bản khớp nhau. Thế là tôi ráng nghe ông đọc mà viết. Dĩ nhiên, ông Hồ Duy Tình đắc cử là chắc trăm phần trăm.

Phiếu bầu, gom lại đem đốt, chỉ giữ 2 cọc phong bì, một bầu cho Lê thị Ng. và một cho Hồ Duy Tình. Phong bì có ghi số thứ tự giống như số thứ tự trên danh sách cử tri, nhìn số thứ tự đó, công an biết ai bỏ phiếu cho ai, vào sổ đen, trị dễ như không !!!

Dân chủ kiểu Ngô Đình Diệm đấy!!!

Thời gian tiếp theo sau đó là những cuộc đàn áp Phật giáo càng ngày càng khốc liệt. Tôi chẳng tham gia bất cứ cuộc đấu tranh nào. Đêm 20 tháng 8, đêm tấn công chùa Từ Đàm, tôi ngủ lại nhà một người bạn ở Ga Huế. Tôi và người bạn đứng trên mui một toa xe lửa, ngóng về hướng chùa, nghe tiếng súng nổ, tiếng la, tiếng mõ, tiếng thùng thiếc đánh inh ỏi, tiếng cầu cứu mà thấy kinh hoàng. Ông Ngô Đình Diệm, người mà người dân Huế tôn vinh là chí sĩ, là nhà cách mạng, là vị cứu tinh của dân tộc, từ những ngày đầu khi ông mới về nước, người dân Huế lập bàn, kết hoa, chưng đèn, đốt trầm hương đón ông như đón một vị cha già của dân tộc, một quốc phụ như Tôn Văn của Trung hoa thì nay ông Ngô Đình Diệm đối xử với người dân Huế như thế đãy, sau khi đã tròng lên đầu họ một chế độ độc tài, kỳ thị tôn giáo tàn tệ nhất trong ịch sử dân tộc. Ai phản bội ai ? Người dân Huế không tự tay giết ông Diệm nhưng nếu có cơ hội, không chắc họ có đủ can đảm làm được việc đó, đới với một người họ đã từng yêu mến, kính trọng, nhưng hậu quả ông nhận sau ngày 2 tháng 11 năm đó há không phải là cái quả do những việc anh em ông cũng như đệ tử ông đã gây ra cho đồng bào Huế hay sao?! Nhân quả, ân oán ở cõi đời này là vậy. Quan Công đòi “Trả đầu cho ta!”. Vậy thì ai trả đầu cho Văn Xú?

Xin hãy để cho ông Ngô Đình Diệm nằm yên dưới đáy mồ.


Phần II

Sau khi ông Ngô Đình Diệm chết rồi, những người chống đối ông, “những nhà cách mạng ăn theo”, trong một khoảng thởi gian ngắn ngủi, nắm được quyền lực thì đã làm được gì?

"Cách mạng thành công”, trong một cuộc biểu tình ở tỉnh lỵ Quảng trị, một anh đại diện sinh viên lên sân khấu vừa đọc diễn văn vừa khóc “các thầy có tội tình gì mà Diệm Nhu đóng đinh vào đầu thầy, đánh chết các thầy rồi đem chôn dưới gốc cây để làm phân bón trên 9 hầm (Trước kia là nơi Pháp cất dấu võ khí phòng khi đánh nhau với Nhật, sau này là đồn điền của ông Ngô Đình Cẩn). Như thế cứ mỗi gốc cây thì có ít nhất một hồn ma của một thầy. Đồn điền này của ‘cậu’ có tới hàng chục, hàng trăm gốc cây thì có hàng chục hàng trăm thầy bị chôn ở đó. Như thế thì thầy ở các chùa bị chôn hết rồi, chẳng còn ai sống sót. Nghe anh sinh viên vừa đọc diễn văn vừa khóc như thế, các bà già cũng khóc theo. Không khóc thế nào được. Nam nhi chi chí còn rơi nước mắt trên sân khấu huống chi các bà già rất dễ mũi lòng! Tôi chỉ tiếc là anh sinh viên này theo Phật mà vu oan giá họa cho người ta, thêm thắt những việc người ta làm, có ít xít cho nhiều thì anh ta chỉ là kẻ thờ Phật ăn oản mà thôi. Học hành để làm gì ???!!!

Cũng chính anh sinh viên đó sau này hướng dẫn một cuộc biểu tình ở Đànẵng, kéo đoàn biểu tình lên hướng Thanh Bồ Đức Lợi, khiêu khích đồng bào theo Thiên Chúa giáo trên đó, khiến xảy ra một cuộc ẩu đã, đâm chém nhau cả chục người chết, vậy mà khi về Huế, anh ta còn lên đài phát thanh khoe khoang “chiến công” của mình!!!

Các nhà lãnh đạo mới đâu có phải chừng đó đã hết. Bỗng dưng họ trở thành lãnh tụ, vào ra chùa Từ Đàm hằng ngày, và có quyền ra lệnh cho Cảnh sát. Ngày tướng Huỳnh Văn Cao bị mưu sát ở sân bộ Tư lệnh Sư Đoàn 1, trước đó 1 tiếng đồng hồ, tôi “đi coi” một cuộc biểu tình tại Thương Bạc, thấy một lãnh tụ của “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc”, ông NVB, “giáo sư” viện đại học Huế (mặc dù ông ta mới đậu cử nhân), ra lệnh cho cảnh sát cấm đồng bào qua lại trên đoạn đường Trần Hưng Đạo trước Thương Bạc, làm trở ngại cuộc biểu tình của ông ta.

Người có phe phái có nhiều cái lợi, trước hết là có công ăn việc làm ngon. Trong khi ở Saigon biết bao nhiêu người đậu cử nhân, không kiếm ra công ăn việc làm, thì ở Huế, chỉ cần ghi danh học cao học, nhờ một thế lực nào đó, nhảy vào làn giáo sư đại học Huế dễ như không. Đã có nghề ngỗng, lại khỏi bị động viên, ra trận dễ chết? Tuy nhiên, họ lại là những nhà cách mạng, nhà đại cách mạng, lãnh đạo dân tộc, tranh đấu cho... tự do dân chủ, mưu cầu hạnh phúc cho... nhân dân v.v... và v.v...


Phần III

Nhiều người Việt Nam ở hải ngoại bây giờ đang hô hào đấu tranh cho tự do dân chủ. Họ thắt càvạt, đọc diễn văn, nhồm nhoàm ăn tiệc, uống rượu sâm-banh, tới đâu cũng có sẵn kẻ đưa người rước rất nồng nhiệt, vui vẻ, có đồng bào đứng dậy vỗ tay hoan hô v.v... và v.v... Đấu tranh kiểu đó chắc... không có gian khổ. Bài bản họ thuyết giảng cũng... vui, nghe qua rồi... bỏ. Mới đây, ở Boston, có mấy ông lớn (cấp Tổng hội) tới giảng về “Vai trò của người cựu tù nhân chính trị trong tương lai” - nhưng giấy mời thì nói là hội thảo). Tôi có đi nghe, rất chăm chú, nghe xong, chẳng thấy vai mà chỉ thấy... trò. Ai đi nghe, nhớ chuẩn bị tiền mua sách của mấy ổng, lời vàng ý ngọc, bỏ qua rất... uổng.

Người ta tính đường đi cũng hay. Hễ mai mốt cộng sản Hà Nội vì sức ép của Mỹ mà “bố thí” đa nguyên đa đảng, quý ông dựa vào thế lực Mỹ nên được cộng sản Hà Nội chia cho ít ghế. Vậy rồi thầy trò chia nhau mà ngồi để... phục vụ nhân dân, “công tư vẹn cả đôi bề...”.

Karl Marx, khi còn trẻ, có mấy câu thơ khá hay:

Chỉ có ai bằng chiến đấu hiên ngang,
Giành cuộc sống tự do từng giờ, từng phút
Mới đáng hưởng tự do và cuộc đời chân thật.


Phùng Quán, một đêm đọc thơ Đỗ Phủ cho vợ nghe, thấy cảnh khổ người xưa mà vợ ông khóc. Phùng Quán nói với vợ:

Em ơi đừng khóc nữa,
Chuyện ngàn năm, ngàn năm


(ngàn năm trước và ngàn năm sau người dân cũng khốn khổ thế thôi, dù nhân loại đã kinh qua nhiều cuộc “cách mạng” - tg)

Hễ đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khôn cùng
Thơ chết áo đắp mặt.


Xin đừng hiểu Thơ đây là Thi ca. Thơ đây có nghĩa là những người làm cách mạng thật sự, những người hy sinh hạnh phúc của mình mà lo hạnh phúc chung cho dân tộc. Những người đó không thể là những người thắt càvạt, đọc "đít-cua" và ăn tiệc nhồm nhoàm. Chúa Giêsu vì nhân loại mà phải vác thánh giá đi trên "con đường khổ nạn". Người chịu hy sinh hạnh phúc riêng của mình mà lo hạnh phúc chung, hạnh phúc dân tộc, không thể có con đường nhung lụa mà đi. Họ phải đi trên “con đường khổ nạn” như Chúa, chỉ khác là không bằng cái khổ nạn của Chúa mà thôi. Con đường đó là con đường “đi với nhân dân”, mà nhân dân bây giờ ở quê nhà đang chịu cảnh “máu lệ khốn cùng” thì ai trong chúng ta “hễ đi với nhân dân” chỉ có “chết áo đắp mặt”.

Tháng 6/2006

Copyright © 2006 by DCVOnline


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_mot_nhan_chung_bat_dac_di_2_.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.