Nhân đọc: Mùa xuân bên ấy… (1/2)
Theo Đàn Chim Việt - Nguyễn văn Lục - 30-05-2006
Tôi không có cái bề dày quá khứ như một số người bạn của
Thái Kim Lan để ngày nay có dịp cùng nhau ôn lại dĩ vãng, nhắc lại
những kỷ niệm, những tâm tình, những hoài bão tuổi trẻ. Và ở vào cái
tuổi nghiêng, tuổi xế, họ chợt tỉnh như một gấp gáp, vì thời gian cho
họ chẳng còn bao nhiêu nữa, tìm lại nhau sống lại dĩ vãng tình bạn và
ngay cả những tình cảm đầu đời tuổi trẻ hụt hẫng. Những phôi pha thuở
ban đầu chưa kịp kết thành hoa trái nay như những trái chín muộn. Họ ở
cái thế thuận lợi hơn tôi khi muốn viết về một người con gái Huế. Cái
dĩ vãng làm nên họ thời tuổi trẻ thì nay là cái cớ cho họ tụ lại thời
tuổi nghiêng. Tôi chẳng có cái cơ duyên đó, nhưng vẫn mạo muội đưa ra
một số nhận xét về bài viết này của Thái Kim Lan.
Tôi cũng chẳng cùng một tần số, hay cái cốt Huế thường rất sô vanh
(Chauvinisme, để chỉ những người ái quốc cực đoan và quá khích). Sô
Vanh theo nghĩa Huế cái gi cũng nhất, cũng ngon, ngay cái dở, nói riết
một hồi cũng thành cái hay. Ngôn ngữ thông tục người ta gọi là nói lấy
được. Hay nói tán cũng vậy. Trong phê bình văn học, có danh từ chỉ định
việc này là cái Kitsch (tạm dịch cái rởm) (1)
Sô vanh Hànội đã là một lẽ, nhưng so ra với cái sô vanh Huế thì chả ăn
thua gì, mặc dầu Hànội có ngàn năm lịch sử.. Cái vài trăm năm Huế dù
chưa đủ tầm cỡ, vẫn muốn vươn lên, thu ráp lại, gom ít, gom nhiều cách
này cách khác. Giả dĩ đã không thiếu người tự nhận là nhà Huế Học.
Đến cứ như thế thì bao giờ sẽ có Hànội học, Lục Châu học? Hãy cứ bỏ ra
ngoài một vài tham vọng riêng tư đó đi thì vẫn còn lại vô số Huế khác.
Vô số món ăn Huế lấy cay làm trọng, rồi tà áo Huế, cái nếp quần con gái
Huế là thẳnng tắp như lưỡi dao cạo, nón Huế nghiêng, giọng con gái Huế,
cái liếc trộm của con gái Huế quay 180 độ, tâm tình Huế, địa lý Huế,
lịch sử vua chúa Phú Xuân , dòng họ, tinh thần, văn chương Huế, và sô
vanh nhất vẫn là con trai Huế. Huế là như thế đấy. Tôi đã viết đôi lần,
nay nhắc lại cũng không thừa. Trai gái Huế lớn lên, tầm nhìn nguỡng
vọng tương lai vươn ra khỏi khung trời Huế hẹp, muốn bỏ mà đi.. Nhưng
đi rồi thì khắc khoải tìm về. Đủ thứ xa hoa phủ đầy giấc mộng lúc bỏ mà
đi vẫn tiếc nuối nắm cơm phiếu mẫu. Đó là cái mâu thuẫn nghịch lý của
con người. Đến có thể nói, phải đi xa Huế mới nói về Huế được.
Tôi đã chẳng mấy khi được ăn một cọng rau muống Huế xanh ngắt đến đắng,
cũng hiếm được ăn một con cá bống kho mặn đến chát miệng và cay xè, tê
lưỡi, vội lùa ba bát cơm vẫn còn suýt xoa. Thêm hai ly nước rau muống.
Thiếu những kinh nghiệm trong miếng ăn, miếng uống, trong cái thanh
bạch mà đẹp của nếp sống sinh hoạt Huế là thiếu cái nền đấy. Bất lợi
như thế, vậy mà tôi đã viết rồi, nay thì viết cho đủ, cho trọn.
 |
Hải Đường dưới đất — Nguồn: ttvnol.com
|
Trong cuộc rong chơi chữ nghĩa, tôi đã bắt gặp Thái Kim Lan, như một tình cờ định mệnh, chỉ vì tên một bài viết: Phượng trên Trời, Hải Đường dưới đất.
Chỉ chừng đó cái tiêu đề, tôi cũng chưa nắm rõ chủ đích của người viết.
Nhưng tôi đã tìm thấy một cái gì đó, khác người, họa hiếm. Đó là cái
chất người tinh tế, bao dung, trải rộng đã cuốn lôi tôi vào một lộ
trình của một số bài viết khác của Thái Kim Lan. Đã hẳn có những bài
nghiên cứu chuyên sâu của một giáo sư Triết Đại học. Cái đó tôi không
màng tới. Đọc lướt qua để rồi quên. Đã hẳn có những bài nghịch ngợm,
vui tếu và sô vanh như bài Đàn ông Huế. Chàng trai xa lạ ấy…
Đang là đàn ông lại biến ra chàng trai lúc nào không hay?. Rồi xa lạ
ấy? Nghe như có mùi Triết hiện sinh ngửi thấy đâu đây. Theo cái kiểu: Đàn bà, kẻ xa lạ ấy.
Nói là xa lạ mà viết có vẻ rạch ròi, chi li, biết từng cái sợi tóc, cái
trứng cá tuổi dậy thì, thì xa lạ ở chỗ nào? Đã có đàn ông Huế, chàng
trai xa lạ ấy.. Cứ ngồi mà xem thể nào cũng có đáp trả đúng lễ: Đàn bà Huế, người con gái xa lạ ấy.
Có lẽ đây là bài viết dở nhất thì phải? Vậy mà người ta cứ nhao nhao
lên. Phần tôi, chỉ để ý và chắt lọc ra những bài có tính chất người.
Mới đây, tôi đã đọc bài Mùa xuân bên ấy.Tôi đã bắt gặp lại mình những xúc động lần đầu khi đọc Thái Kim Lan… và đó là cái cớ của bài viết này.
Tôi vẫn tự đặt cho mình một đòi hỏi khe khắt là muốn đọc Thái Kim Lan,
phải tự đặt mình vào trong tâm thức, vào dòng cảm nghiệm của tác giả.
Nếu không chỉ thấy được những bèo bọt, những điều chi li đến tầm
thường... Nhưng chính ở chỗ đó mà ta bắt được những giao cảm tinh ròng,
trong suốt và trân quý.
1.- Giao cảm với đất trời
Ta sống với đất trời như trong một bọc. Từ đó, ta giao cảm với thiên nhiên. Đó là những cảm nghiệm thể lý đầu đời và hiện sinh
ai ai cũng đã có lúc trải nghiệm. Chẳng hạn ta cảm nghiệm dẫm chân trần
trên cát nóng, gió mát mơn chớn da thịt, nước biển len lỏi vào cơ thể
như soi mói, tìm tòi. Cái rét căm, cái nóng nung người. Cơn mưa đầu
mùa. Gió heo may về. Đó là những giao cảm thể lý với đất trời.
Tôi gọi là giao cảm tầng một. Giao cam do va chạm thể lý. Như có một
lần, tôi đọc một truyện ngoại quốc, tác giả mô tả một người nông dân
vốc một nắm đất lên tay.. Người nông dân đó cảm nghiệm được sự sống như
linh hồn của nắm đất để có thể tỏ bầy. Nắm đất và người như có chiều
giao cảm tâm linh, giao cảm siêu hình, gửi gắm nhắn nhe, chia xẻ và
tình tự. Tôi đọc mà sững sờ. Cũng một thể thức ấy khi Hàn Mạc Tử nói
tới giây phút linh thiêng, trăng mờ Đàlạt, cảnh huyền mơ. Đó là
những giao cảm hiện sinh giửa đất trời và con người. Tôi gọi là giao
cảm tầng hai. Giao cảm biến sự vật thành như có một sự sống, một linh
hồn, một tâm cảm. Đọc Gaston Bachelard, ta cũng nghe ông nói về lửa, về
nước. Tôi đã có thời say mê những tiểu luận đó. Nhưng nay xét ra cũng
vẫn chỉ là những phân tích hiện tượng luận (analyse phénoménologique),
phân tích rốt ráo nhiều mặt nhiều bề, nhưng vẫn thiếu chiều giao cảm và
nhất là thiếu chiều kích giao cảm tâm linh giữa thiên nhiên và con
người. Thiếu cái mà tốt hơn hết, ta chỉ có thể trưng dẫn bằng lời: Hôm nay, trời nhẹ lên cao, tôi buồn. Hay như:
Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt.
Xa nhau chỉ biết nhớ vơi đầy
Chiều chân không ấm người nằm một
Thương bạn chiều hôm sầu gối tay..
(nhớ Huy Cận vừa mất)…
 |
Cầu Tràng Tiền — Nguồn: xuquang.com
|
Cũng đã chẳng thiếu người viết về chất Huế, về Huế đẹp, Huế thơ, Huế mộng, về sông Hương mấy khúc, về cầu Trường Tiền mấy nhịp, viết theo cái kiểu trăng thanh gió mát., viết theo cái lối kể truyện...
Viết như thế, vẫn là những mô tả bên ngoài, cùng lắm là cái đẹp đạt tới
giao cảm thể lý. Giao cảm tầng một. Ấy là chưa nói tới chỗ xa đà, sáo
ngữ với những hoa từ. Ngay một số nhà văn Việt Nam khi viết cũng chỉ
đạt tới cảnh giới văn chương mô tả. Văn chương mô tả vận dụng nhiều
tĩnh từ như tô son trát phấn, khỏa lấp khoảng trống cho nội dung. Nên
càng nhiều tĩnh từ, như những hoa từ, bài văn càng xa đà trống rỗng. Mà
sự trống rỗng là một trong những điều tối kỵ trong văn chương.
Cái điều đầu tiên tôi bắt gặp, ngay từ những dòng đầu trong Mùa Xuân
bên ấy.. của Thái Kim Lan là giao điệu con người với thiên nhiên ở tầng
cấp hiện sinh, đẩy cao lên nữa là những giao hòa siêu vượt. Giao cam
tầng một và tầng hai. Nào ta hãy xem: Đêm
đã sâu hơn giờ thường.. hình như cái đêm trước ngày lên đường thường
sâu hoắm như thế.. vì giấc ngủ không an.. thấp thỏm mầu đen lún xuống
quầng thâm của mắt như chìm vào vũng lầy bùn non của cơn lụt vừa qua..
giấc ngủ chập chờn quẩn quanh , lãng đãng những ý tưởng gần xa không rõ
nét.
Cảnh giới của đêm trường và của cõi lòng chứa đựng trong đôi mắt hõm
sâu vì không ngủ. Cái băn khoăn chập chờn, cái suy nghĩ loanh quanh vẩn
vơ bao giờ cũng có đêm khuya làm bạn và đồng lõa. Rồi mưa Huế gõ nhịp
vào đúng lúc ban đêm, hoặc những kinh nghiệm bị mắc mưa
như không một lối thoát. Phải là dân Huế với suốt 3 tháng trời mưa dầm
dề lê thê, ảm đạm, mưa đến thối đất mới thấm và cảm nhận được hai chữ
mắc mưa. Mưa đến độ căn nhà mái ngói mới lợp còn đỏ au mà thoáng chốc
phù du bắt đầu có rêu xanh ngả sang mầu nâu. Mưa bất tận. Mưa thấm vào
làn áo lụa mỏng dính ướt mượt thân con gái tuổi dậy thì nổi gai da thịt
và môi lạnh. Phải là Huế % mới cảm nghiệm được: trong màn nước miên
man đổ xuống từ bầu trời trắng đục thoáng hiện đằng xa như một nét thở
dài u uẩn còn nén lại, lẩn quẩn chập chùng, tưởng như đã tan biến vào
chốn hư không, nhưng lại còn vương vất còn đó như một tiếng thưa dạ có sẽ sàng của người con gái Huế gia phong (trích Một ngày vui trên ngọn… sầu đông).
Mưa Huế để lại dấu ấn khó phai nơi tâm thức của người con gái Huế: Đêm
đêm hai chị em chung nhau một giường, ôm nhau trong cơn mưa rầu rĩ của
huế, ru nhau khi gió đông phần phật rít qua liếp cửa lá sách, tóc xanh
quấn quít một thời với nhau trên cùng gối mộng, quen thuộc ngạt ngào
hơi áo, hơi chăn
Mưa như những ám ảnh da diết, dẩn đưa đến cả những ám ảnh siêu hình với thời gian vô thường: Trời càng mưa mái nhà càng trần thân
ở đó chịu mưa, ngửa mặt hứng mưa, thầm lặng nghe mưa, quấn quít với
mưa… Cơn mưa như dấu hiệu thời gian vô thường đến thí nghiệm sự bền bỉ
của đời người mà mái nhà đang che chở.. Ngoài tiếng mưa hình như chỉ
còn lại sự yên tĩnh bơ vơ của căn nhà khép kín, mờ nhạt hiện hữu trong
khu phố cổ… (Trích Một ngày vui trên ngọn sầu đông.)
Dấn thêm bước nữa, mưa Huế như một lời níu kéo giữa hai bản thể, giữa kẻ ở, người đi. Mưa thay người ở lại năn nỉ , cầm chân: A
cái cơn mưa Huế ấy, đố ai mà gỡ được cho ra.. khi đã mắc vào, nhỏ nhẹ
thiết tha mà tinh quái gớm. Cứ không hẹn mà đến thật đúng giờ.. cái giờ
ngắc ngoải sắp lên đường xa Huế.. đó .. thế là mưa xuống đúng thì, cứ
như một lời níu áo cầm chân… và vu vơ kể lể xa gần, thủ thỉ nào là nào
là, năm nay xuân sắp đến rồi, lạnh cũng qua đi, răng không ở lại đón
xuân quê hương một lần, tết Huế thân thương như áo xanh áo đỏ một thời…
Nì đã hơn 10 năm không ăn tết, không nhớ nỗi bánh chưng bên bếp lửa hay
răng, mà bỏ đi đành đi đoạn… Răng không ở lại thêm, chỉ còn mươi ngày
nữa là đến tết mà bỏ Huế mà đi. (trích Mùa xuân bên ấy.)
Đã mấy ai có được giao cảm về mưa như thế không? Đó là những kinh
nghiệm hiện sinh về mưa, kinh nghiệm vượt bức tường thể lý giao hoà
giữa đất trời và con người. Kinh nghiệm thiết thân, sống động và gần
kề. Kinh nghiệm đó biến thành cuộc đối thoại nội tâm (dialogue
intérieur) của Thái Kim Lan. Đây là nét độc đáo trong văn thức của Thái
Kim Lan. Tất cả là lối viết, lối nhìn trở về nội tâm, quay về cái bên
trong. Một thể nghiệm tâm linh, một soi dọi vào mình. Cảnh giới đối
thoại nội tâm đi xa vào tâm thức, chiếu dọi vào chiều sâu của cõi lòng
và tâm tưởng, lục tìm những trăn trở khúc mắc của cái ngày sắp lên
đường. Và nó đã vỡ òa ra, khi xe chạy ở khúc quẹo Giàng Xay. Khúc quẹo
của xe là có thật, nhưng khúc quẹo của tâm linh vỡ òa ra cũng là có
thật. Chuẩn bị lên đường bao giờ cũng là một hành trình xoay chiều vào
nội tâm, tra hỏi và vấn tìm, ưu tư và khắc khoải, miệt mài và do dự.
Cho nên, mưa chỉ là cái cớ đi sâu vào tận cùng bản thể với trăm mối,
trăm bề.
Tưởng rằng đã thoát nợ mưa, để rộng lòng xa Huế mà không buồn. Nhưng không. Kinh nghiệm giao cảm về mưa một lần nữa vương mắc vào vũng nước bên đường: Xe
chạy không nhanh còn đủ vài giây để thấy những hòn cuội lăn lóc xung
quanh vũng nước, khoanh tròn nét một con mắt long lanh. Con mắt nhìn
theo khi xe đã qua một đỗi đường, con mắt ấy tuồng như vướng ánh sáng
của một chút bầu trời vẩn đục ở trong (Trích Mùa xuân bên ấy.)
Viết đến như thế là ở một gam cao độ, biến vũng nước thành con mắt dõi
theo người bỏ ra đi. Kinh nghiệm đắt giá quá. Tất cả như focus vào vũng
nước nhỏ như con mắt của linh hồn, như một nhắc nhở, như một lời trách
cứ mà bắt buộc phải cắt lìa (un reproche feinte). Nhưng đôi lần không
khỏi ngạc nhiên lại đành đoạn ra đi như thế (Surprise feinte). Cảm
nghiệm hiếm hoi của khoảnh khắc chợt đến và đã bắt kịp. Chỉ trong
thoáng giây thôi, chậm một tý là không nắm bắt được. Cái giao cảm là ở
phút giây ấy. Có thể nói đến một nhân bản hoá, một hoá thân sự vật
(métamorphose). Tôi chợt cảm nghĩ rằng những khung cảnh địa lý của Huế,
đặc biệt mưa Huế đã ảnh hưởng trực tiếp trên những suy tư và tâm tư của
Thái Kim Lan. Tôi hy vọng là tôi đã không lầm. Bởi vì cũng có những nhà
văn như A.Camus đã có những kinh nghiệm đầu đời ghi dấu mãi như thế.
Ong đã để cái nóng, ánh sáng chói chang của mặt trời Địa Trung Hải lúc
thiếu thời rơi rớt lại trong các tác phẩm của ông.
Với Thái Kim Lan, sự ra đi như một hoài cảm tiếc nuối để rồi nhìn thấy
mọi sự, mọi vật như đều cùng cất lên tiếng nói, cùng một tâm cảm, cùng
một cõi lòng. Và nếu có cái nhìn toàn diện bài viết thì từng chi tiết,
nhỏ nhoi đến li ti, đến không đáng nói, và càng những chi tiết không
đáng nói lại là cái gợi lòng, gợi ý.. Bài viết đến đây có thể tóm vào
một ý. Nó hơn là một cuộc đối thoại nội tâm, nó là một hành trình của
một con người đi tìm lại chân diện mục của mình, đi tìm lại chính cái
bản thể ở chiều sâu thăm thẳm của chính mình, với những băn khoăn, khúc
mắc và trăn trở.. Đó là một hành trình nội tâm (voyage intérieur), tự
soi bóng mình, nhìn lại cả một hành trình nhân thế với những ưu phiền
đa đoan, chỗ nào là về, chỗ nào là quê hương với những o ép của đời
sống mà không có chọn lựa nào khác. Có cái qua lại hầu như nửa bên này,
nửa bên kia, của dăng dở ( un va-et-vient quasi dialectique) giữa những
hồi ức, những kỷ niệm, những đòi hỏi thúc bách nửa muốn đi, nửa muốn ở
lại, những trăn trở, những réo gọi bên trong sâu kín và những câu thúc
của thực tế bên ngoài, những dùng dẵng qua lại nghiêng ngả... Chính ở
chỗ đó mà lòng trĩu nặng ưu tư mỗi khi đi và mỗi khi về.
(Còn tiếp)
Copyright © 2006 DCVOnline
(1): Chữ Kitsch,
một danh từ cổ xưa từ thế kỷ 19, có thể bắt nguồn từ chữ Keetcheetsya
của tiếng Nga với nghĩa là ngạo mạn và rỗng tuếch. Nhưng thực sự khái
niệm này bắt đầu xuất hiện từ Hội chợ Munich vào năm 1660. Trích dẫn
bài của Sam Binkey, trong Gate Encyclopedia of Popular. Nhu Huy dịch.
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: