Kỷ niệm ngày QLVNCH, đúng 8 giờ sáng Thứ Hai, 19-6-2006, Lễ Thượng Kỳ
và Đặt Vòng Hoa Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong tưởng nhớ các chiến sĩ
trận vong Việt Úc đã hy sinh trong cuộc chiến chống CS bảo vệ tự do cho
Miền Nam VN trước năm 1975, đã được cử hành trang nghiêm tại đài kỷ
niệm chiến sỹ Úc-Việt , Cabra Vale Park. Tham dự Lễ Thượng Kỳ và Đặt
Vòng Hoa, có sự hiện diện của Bs Nguyễn Mạnh Tiến (Chủ tịch CĐNVTD Liên
bang Úc Châu), ông Võ Trí Dũng (Chủ tịch CĐNVTD-NSW), ông Mai Đức Hoà
(Chủ tịch Tổng Hội CQNQLVNCH Úc Châu), Ông Trần Đức Nhuận (Chủ Tịch Hội
CQNQLVNCH/NSW) cùng một số hội đoàn đoàn thể, truyền thông báo chí và
anh em CQN đại diện các quân binh chủng, cùng khoảng 150 đồng hương
tham dự. Ngoài ra còn có một số quan khách và đại diện CQN thuộc quân
đội Hoàng Gia Úc.
Bước
vào buổi lễ, sau khi chào quốc kỳ, quân kỳ là nghi thức truy điệu,
tưởng niệm các bậc tiền nhân dựng nước, những anh hùng liệt sỹ và đồng
bào đã hy sinh cho chính nghĩa tự do. Kế đến là lời khấn do ông Nguyễn
Văn Sĩ (Gia đình Nguyễn Trãi) diễn đọc. Trong lời khấn, cũng nhắc nhở
nhiều đến tinh thần Danh dự - Tổ quốc -Trách nhiệm của người chiến sỹ
VNCH phải luôn được ghi nhớ và bảo tồn dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Chúng ta cũng không bao giờ quên công ơn các chiến sĩ Việt - Úc đã hy
sinh trong công cuộc bảo quốc an dân tại Miền Nam Việt Nam trước năm
1975 và nguyện xin những anh hồn linh thiêng phù hộ cho những người còn
sống được vững bền ý chí để có thể hoàn tất con đường chính nghĩa còn
dang dở....
Nhắc đến những chiến sỹ đã hy sinh, khiến cho những tâm
hồn còn tha thiết đến quê hương phải nghiêng mình ngưỡng phục mà cúi
đầu tự vấn lại chính mình.... Hơn nữa, bổn phận và trách nhiệm của
người lính VNCH chưa thể chấm dứt, mà còn phải tiếp tục tranh đấu cho
đến khi quê hương thực sự có tự do, dân chủ và thanh bình, bởi đối với
người lính VNCH thì dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể ra
khỏi quân đội, nhưng quân đội không thể ra khỏi trái tim chúng ta...
Sau khi đăt các vòng hoa tưởng niệm, mọi người lần lượt dâng hương và buổi lễ được kết thúc vào lúc 8 giờ 40 cùng ngày.
Ngoài
ra, theo truyền thống Kỷ Niệm Ngày Quân Lực hàng năm, năm nay BCH Hội
CQN/QLVNCH/NSW cũng đã tổ chức Dạ Tiệc Tiếp Tân tại nhà hàng Crystal
Palace với sự tham dự đông đủ quan khách đại diện CĐNVTD Liên Bang,
Tiểu Bang; các hội đoàn đoàn thể; các cơ quan truyền thông, cùng khoảng
trên dưới 600 quý đồng hương, bao gồm phần lớn cựu quân nhân và gia
đình.
Đặc biệt, nhân dịp Kỷ Niệm Ngày Quân Lực 19-6 năm nay, Sàigòn
Times hân hạnh được ông Võ Đại Tôn gửi cho bài viết nhan đề "Nghĩ Về
Người Vợ Lính", trong đó ông ghi lại một cách xúc động hình ảnh người
vợ lính VNCH trải qua những năm tháng binh lửa của quê hương đất nước.
SGT chân thành cảm ơn ông Võ Đại Tôn, và sau đây, xin trân trọng giới
thiệu cùng quý độc giả bài viết của ông.
*
Nghĩ Về Người Vợ Lính
Đêm
xứ người, trời bỗng nhiên trở lạnh. Chập chờn qua khói thuốc còn đọng
lại trong căn phòng âm u, tôi nghe tiếng nấc của bà quả phụ Thiếu Tướng
Lê Văn Hưng thoát ra từ cuộn băng ghi âm: “Xin mình cho em chứng kiến
giây phút cuối cùng của mình…”. Một tiếng đạn nổ, khô khắc vang lên từ
ống loa hay từ một thuở nào trong cơn biến loạn. Có lẽ cũng từ lòng
tôi. Ngậm ngùi, tôi đứng dậy tắt máy. Nhìn ra khung cửa mù sương, trí
tưởng nhạt nhòa lại đưa tôi về một vùng trời hẻo lánh Tiền Giang với
khu đồn Giồng Riềng bó rọ trong mấy vòng kẽm gai hoen rỉ và mười sáu
quả lựu đạn cuối cùng. Nghĩa Quân Lê Văn Hùng và người vợ lính Phạm Thị
Thàng....
Hơn 30 năm về trước, thuở tóc tôi chưa đau từng sợi bạc.
Tôi đã dẫn quân tăng viện, chiếm lại khu đồn sau trận tiến công biển
người của địch. Trong khói lửa ngập vùng, hỏa châu bừng sáng, tiếng nấc
của thương binh và tiếng vặn mình của gỗ sắt hòa lẫn với tiếng nổ rời
rạc của vài viên đạn gặp lửa bùng lên. Nghe anh phó đồn cụt chân kể
lại: "Sau khi chồng bị tử thương, chị Thàng ẵm hai con nhỏ núp sau ụ
đất với một thùng lựu đạn 16 quả. Cánh tay của người vợ lính vung lên,
từng tiếng nổ ầm, át cả tiếng khóc trẻ thơ. Mười lăm quả lựu đạn vút
đi, ngăn chân biển địch.
Thùng lựu đạn chỉ còn đây một quả
Em dâng anh với cả tình yêu …
Chị
Thàng đã tự sát cùng hai con để đi theo chồng là Nghĩa Quân Lê Văn Hùng
vào cõi vĩnh hằng, cô đơn, côi cút và âm thầm trong cuộc chiến. Người
vợ lính đã nuôi con bằng gạo Quân Tiếp Vụ, hạnh phúc bình thường qua
bữa cơm với cua đồng cá nội. Ảnh của chị đã được treo lên tại góc đường
Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt ở Saigon một thuở nào giữa dòng người thờ
ơ qua lại. Người phụ nữ miền Nam với nụ cười đơn sơ chất phác, e ấp qua
mảnh khăn rằn. Từ Bến Hải đến Cà Mau, bước chân của người vợ lính ẵm
con đã đi theo chồng khắp bốn vùng chiến thuật. Không có những móng
chân đỏ hồng nhưng đã tạo nên những vần Thơ dường như huyền sử.
Tôi
quay lại bấm máy. Tiếng của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn vang lên qua từng loạt
đạn nổ … “Thiếu Tướng biểu y lệnh hả Chị? Dạ, tôi sẵn sàng…” Tôi lại
tắt máy, không dám nghe nữa, có lẽ vì mặc cảm tự ti, thấy mình quá nhỏ
bé trước những tiếng vọng anh hùng. Lại châm thêm điếu thuốc, ngọn đồi
Chu-Prao hiện về. Người nữ sinh sắc tộc Thái Trắng, Đơn Dương, hoa khôi
Đà Lạt một thời với tên Đèo-Nàng-Hoa. Lấy chồng là trung sĩ Biệt Kích
Trường Sơn, tên Neo-Krông, da sạm đen với bắp tay cuồn cuộn như một
nhánh cây rừng. Trong một lần đi toán, Neo-Krông đã không về lại. Tặng
tiền tử của chồng cho một viện mồ côi, Đèo-Nàng-Hoa đã đi tu và xin
chuyển ra làm việc trong trại cùi ở Qui Nhơn. Có một lần tôi gặp lại
nàng khi tôi đến thăm mộ Hàn Mặc Tử. Người nữ sinh vợ lính thuở nào như
bóng của huyền thoại đã trở thành Dì Phước. Nhìn cặp mắt đen mà nghe cả
tiếng thông reo. Bàn tay của Dì Phước Đèo-Nàng-Hoa đã bắt đầu ửng đỏ
bệnh phong, sự thật hay do tôi tưởng tượng? Khi ra khỏi trại cùi, tôi
không dám quay nhìn lại, tâm hồn của người vợ lính bình thản đã nạm
vàng trong khi bóng tôi bên đường chỉ là hạt bụi. Tiếng thơ của Hàn Mặc
Tử lại vọng qua gió thổi rì rào:Run như run hơi thở chạm tơ vàng...
Tiếng
của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trầm buồn nhưng cương quyết: “Làm tướng
mà không giữ được nước được thành thì phải chết theo thành theo nước
…”. Tôi nghe mủi lòng rưng rưng. Hình ảnh của người vợ lính ven sông
Thu Bồn dắt con qua bao chuyến tàu chợ từ Quảng Nam ra miền Bắc tìm
chồng trong tù cải tạo. Nước mắt âm thầm chảy xuống dặm đường cay
nghiệt, chân giẫm lên sỏi đá hận thù. Một gói đường phèn, một lon muối
ớt, với tất cả tình thương mộc mạc, đơn sơ như thửa ruộng bờ đê, chắt
chiu từng đồng, lặn lội suốt gần tháng trường gian khổ để chỉ được vài
ba tiếng đồng hồ im lặng nhìn con, nhìn chồng tả tơi trong manh áo tù
không án. Tù của một giai đoạn lịch sử oan khiên, tù của một chế độ bạo
tàn, mà người mẹ và vợ lính không bao giờ hiểu nghĩa. Gần suốt đời cam
phận bóng mờ di chuyển theo chồng qua bao trại gia binh, sinh con trong
những khu đồn hẻo lánh, để rồi hôm nay bên cạnh tên cúng cơm lại bị ghi
thêm hai từ Vợ Ngụy! Từ ngữ sao mà cay nghiệt, nặng trĩu hận thù! Người
vợ lính cũng chẳng hiểu vì sao?
Có người cầm tấm thiệp mời dự Ngày
Quân Lực, hai mươi bảy năm rời xa Tổ Quốc, nhếch môi phán rằng : “Quân
với Lực làm gì nữa, phí một ngày đi chơi cuối tuần!!!” Tôi cũng cầm tấm
thiệp, vặn máy tăng âm cho tiếng vang từ cuộn băng bừng lên, căn phòng
dồn dập tiếng đạn xa xưa… Tôi ôm đầu, quặn đau cả lòng. Từ trong tâm
tưởng, tôi nghe có tiếng bước chân âm thầm của những người mẹ và vợ
lính. Phạm Thị Thàng, Đèo-Nàng-Hoa, … và hàng triệu bóng dáng phụ nữ
Việt Nam một thời khói lửa, son sắt thủy chung, đang nhìn tôi qua màn
sương lạnh. Nỡ nào quên tình đồng đội, quên những người mẹ và vợ lính
đạm bạc, không cần lịch sử ghi danh, đã và đang khóc, thương con thương
chồng cùng thương Nước với tấm lòng biển rộng trời cao! Hình ảnh của
người mẹ và vợ lính sống mãi trong Hồn Dân Tộc với niềm hãnh diện cô
đơn.
Rồi một ngày không xa, tôi sẽ được vô vàn diễm phúc đứng bên
cạnh đường lịch sử vinh quang rợp bóng cờ vàng để ngắm nhìn các mẹ, các
chị, các em, mỉm cười trong ân nghĩa Tình Người:
Gặp nhau biết nói gì hơn
Cười vui trong gió tóc vờn cờ bay!
Võ Đại Tôn