Ngôn đạo
Theo Đàn Chim Việt - Tuệ Chương - 14-05-2006
Lời tác giả:
Gởi bài cho Đàn Chim Việt thích một điều là có nhiều độc giả góp ý, dù khen hay chê, điều đó không quan trọng.
Độc giả phê bình tác giả và phê phán nhau, làm cho người viết thấy điều
mình viết ra được “sống”, hơn là nó chìm ngỉm đâu đó, không ai hay.
Tuy nhiên, điều đáng buồn là việc đả kích và đôi khi mạt sát nhau nặng
lời. Do đó, tác giả lục lại bài viết nầy đã viết từ lâu trong lưu trữ
của mình, bổ sung thêm vài chi tiết của ngày hôm nay, để hầu quí độc
giả. Kính.
Nói
là là một phương tiện truyền thông đặc biệt diễn đạt bằng âm thanh chỉ
có con người mới có. Các loài động vật khác cũng có phương tiện diễn
đạt bằng âm thanh nhưng rất hạn chế trong một số ít thanh âm nào đó mà
thôi. Ví dụ chó thì sủa; tiếng sủa của chó giới hạn trong một số tiếng;
sủa gâu gâu, sủa ông ổng, và tru. Chỉ có vậy thôi. Loài chim tuy có
tiếng hót hay hơn tiếng sủa, tuy nhiên cũng có giới hạn như chó. Tiếng
hót hay dở cũng tùy ở một số loài. Dĩ nhiên quạ kêu thì không có gì
hay. Tiếng cú kêu làm cho người Việt tin dị đoan sợ ma. Còn tiếng chim
hoàng oanh, chim sơn sa thì hay tuyệt trần. Tiếng vượn hú thì nghe rầu
rĩ lắm!
Tùy theo âm thanh của mỗi loài, người ta đặt cho nó một cái tên về sự
diễn đạt âm thanh của chúng: quạ thì kêu, (loài nào tiếng của nó hay
thì gọi là hót), cho sủa (tiếng kêu dài trong đêm thì gọi là tru), vượn
hú; trâu, bò hay voi thì rống; ngựa thì hí; cọp, beo, sư tử (loài ăn
thịt) thì gầm; rắn cũng gọi là gầm. Thông thường những âm thanh của nó
được phát ra từ miệng của chúng như con người vậy. Riêng có vài loại
côn trùng thì âm thanh phát ra từ cánh như con dế, con giặc sành…
Tạo hóa cho loài vật âm thanh như tiếng nói, tiếng kêu, tiếng sủa để
làm gì? Có lẽ đó là phương tiện truyền tin của loài vật. Truyền thông
là phương cách thông tin giữa một con vật với một con vật hay giữa một
con vật với đoàn của nó. Người ta thường nói “Tiếng chim gọi đàn”,
“vượn gọi bầy”… Đó là cách truyền đạt tin tức giữa một con vật với
nhiều con khác; có khi nó chỉ là phương cách diễn đạt giữa một con đực
với một con cái hay ngược lại, và rất nhiều khi đó là lời chỉ huy,
hướng dẫn của con vật đầu đàn hoặc báo động, cảnh giác về một sự nguy
hiểm sắp xẩy tới.
Con người thì không sủa, không rống, không gầm, không tru hay không hí
ngoại trừ khi bị người ta mắng, ví người với loài vật. Con người thì
nói. Nói là phương tiện diễn đạt tư tưởng, tình cảm bằng âm thanh. Nói
là cách diễn đạt trong trạng thái bình thường, thông thường. Trong
trường hợp người ta muốn diễn đạt tư tưởng, tình cảm một cách sâu sắc
hơn, phong phú hơn, truyền cảm hơn thì người ta ngâm, - như ngâm thơ -
hoặc ca hoặc hát. Khi ngâm hay ca hát, người ta dùng thêm một hay nhiều
dụng cụ phát âm như đàn, trống, sáo hoặc kèn, v.v… để phụ họa thêm.
Khi ca hát, thậm chí cả khi ngâm, có thể một hay ba bốn hay nhiều người
cùng hoạt động một lúc, người ta gọi là họp ngâm, song ca, hợp ca hay
hợp xướng, thậm chí đại hợp xướng (cả trăm người cùng hát một lúc).
Người ca hay hát (ca sĩ) phải có hai yếu tố quan trọng: Một là giọng,
hai là hơi. Có giọng hát thì hát mới hay. Nhiều khi người ta nghe hát
tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tàu, tiếng Ấn, v.v… không hiểu lời ca
nhưng nghe giọng ta cũng thấy thích vì giọng ca hay. Nghe người Việt
hát thì người ta ưa nghe cả giọng lẫn lời. Nhiều nhạc sĩ đặt lời ca
thật hay, nghe như thơ. Nhạc sĩ bây giờ đặt lời nghe như thiếu… muối
(lạt lẽo). Ngoài giọng, ca sĩ cần có hơi; hơi phải mạnh và dài. Không
có giọng, không có hơi thì nên… nghỉ hát!
Còn nói thì chỉ có một người nói. Hết người nầy nói tới phiên người
khác. Thậm chí khi cãi nhau thì cũng nên từng người một, có khi tranh
hơn thua thì gọi là tranh cãi. Còn như hai người cùng nói thì chẳng ai
nghe được. Người ta có hai lỗ tai nhưng chỉ nghe được một người nói,
không thể có tai nầy thì nghe người nầy, tai kia thì nghe người kia.
Hai người cùng nói một lúc như vợ chồng cãi nhau thì chỉ có… hàng xóm
nghe. Thậm chí vợ chồng cãi nhau ồn ào quá khiến hàng xóm phải gọi cảnh
sát tới can thiệp.
Nói hay ngôn ngữ cũng có nhiều loại khác nhau. Ngôn ngữ nước nào cũng
vậy, thường có hai loại. Một loại nói văn vẻ và một loại thông tục. Có
người phân tích rằng có một loại ngôn ngữ trong các dinh thự (hàn lâm)
và một loại ngôn ngữ ngoài đường phố. Loại trong dinh thự thường văn vẻ
(đôi khi thâm trầm, có chiều sâu) và loại ngoài đường phố thì thông
tục. Đó chưa kể tới những tiếng tục, chưởi tục mà người lịch sự không
mấy khi nói ra. Loại văn vẻ chứng tỏ người có học, có giáo dục, v.v…
nghe thanh tao nhẹ nhàng, còn loại thông tục thì có người cho rằng “Dùi đục chấm mắm nêm”.
Rất nhiều người có học, có giáo dục nhưng cũng ưa cách nói thông tục vì
cách nói thông tục truyền đạt ý tưởng, tình cảm một cách dễ dàng hơn,
mối liên hệ hiểu biết cũng dễ dàng thuận tiện hơn. Người ta cũng gọi
cách nói như thế là bình dân. Chửi tục cũng khác với chửi thề!
Người ta cũng dùng tiếng nói để mà chửi khi giận dữ ai. Tiếng chửi
thường thì to, nhiều người cùng nghe được. Muốn chửi để đối tượng hay
nhiều khác cùng nghe thì người ta phải nói to, âm thanh lớn, làm cho
gân cổ nổi lên nên có thành ngữ “Gân cổ lên chửi”.
Ít khi có tiếng chửi thanh tao mà thường là tiếng chưởi tục, đ. mẹ hay
đ. cha, có khi kêu cả ông bà ông vải ra chửi. Có người cho rằng biết
chửi cũng là một nghệ thuật, nó khác với loại “chửi thẳng vào mặt” mà
lại tránh né, lắc léo làm cho người bị chửi khó phản ứng lại được. Đó
là loại chửi khéo, chửi mé, xách mé, v.v… Vì chửi là một nghệ thuật nên
phải có tài mới sử dụng được nghệ thuật đó. Tôi chưa từng nghe người
Nam chửi “hay” như người Trung, người Bắc. Câu chửi của họ có âm điệu
trầm bỗng lên xuống, có câu kéo đàng hoàng như một loại “khuôn mẫu” và
để cho tiện người ta cứ học thuộc và cứ theo “khuôn mẫu” đó đem ra áp
dụng mỗi khi chửi nhau. Câu nầy người ta nghe thường nhất: “Cha ông cha bà cha vạn họ, họ nội, họ ngoại họ ngái họ gần mầy ăn cắp gà nhà bà”. Đó cũng là câu chửi mất gà
có khi chúng ta đã nghe người ta chửi ở nhà quê. Kèm theo tiếng chửi là
tiếng “nộp” có nghĩa là mắng cho đối tượng đau mà chết, bệnh mà chết,
ăn gà mắc xương, đau bụng, đau ngực, v.v… mà chết cho sớm, v.v…. Tuy
nhiên, không phải ai cũng biết chửi như vậy. Vì vậy, khi có người bị
chửi mà chửi không lại người ta thì cũng phải cầu viện nhờ người đến
chửi giúp.
Người đàng hoàng đứng đắn thì hầu như không chửi bao giờ. Họ chỉ dùng
lời nói để phân bua, lấy cái đúng sai về ai để phân biệt hơn thua, phải
trái. Nhiều khi người ta cũng không cần hơn thua mà chỉ cần phải trái
mà thôi. Đó là những người tử tế, lịch thiệp trong xã hội.
Nhiều người không cần lẽ phải mà chỉ cần những cách nói lắt léo để ăn
người ta, cố nói lấy được. Những người nầy thường bị mắng là lẹo lưỡi.
Trong hòa đàm Paris 1973, khi báo chí hỏi lãnh thổ của chính phủ Mặt
trận Giải phóng Miền Nam VN ở đâu thì bà Nguyễn Thị Bình trả lời rằng
nơi nào quân đội Cộng Hòa bắn phá đến thì nơi đó là lãnh thổ của chính
phủ bà. Có người cho rằng trả lời như thế là hay nhưng cũng có người
dẫn chứng rằng đó là cách nói “lẹo lưỡi”.
Nói nhanh là một thói quen, nhiều khi người ta cho là vì cái gène. Cha
hay mẹ nói nhanh, con cái cũng nói nhanh. Nói nhanh là điều không nên
vì nhiều khi người nghe không nghe kịp. Nói chậm cũng bị chê vì người
nghe phải chờ đợi lâu nhất là khi có chuyện gì đó gay cấn, hấp dẫn. Nói
rõ ràng từng lời chớ không nói lắp bắp, tức là nói tiếng nào không rõ
tiếng đó. Vậy nên thông thường nên nói vừa phải, không nhanh, không
chậm, nói rõ ràng là hơn hết. Nói không rõ người ta gọi là nói lua.
Nói điều gì cũng phảu có đầu có đuôi, không được nói hụt chạc, không ra
đầu ra đuôi người khác không thể hiểu được. Có ông chủ nhà dặn thằng ở
như thế: “Mày nói cái gì cũng phải có đầu có đuôi mới được nghe chưa?”
Hôm sau, thằng ở đứng hầu ông chủ hút thuốc. Thằng ở vòng tay lễ phép:
- “Thưa ông chủ. Hôm qua ông sai con đi mua thuốc lá về để ông hút. Hôm
nay, ông vấn một điếu, ông châm lửa, ngồi hút. Thưa ông chủ. Khi châm
lửa, ông để tàn rớt xuống đang cháy áo ông kìa!”
Ông chủ bèn hốt hoảng la thằng ở:
- “Mày thấy áo tao cháy sao mầy không nói ngay?”
- “Thưa ông chủ. Con cũng muốn nói ngay nhưng ông chủ đã dặn con là nói cái gì cũng phải có đầu có đuôi!”
Khi muốn ai nghe theo lời mình, người ta thường nói to, nói nhỏ. Nói
nhỏ là khuyến dụ, nói to là hăm dọa, tỏ sự căng thẳng, cương quyết. Nói
nhỏ cũng gọi là mật ngọt, nói như “Rót mật vào tai” hay “Nói ngọt lọt
lỗ tai” hay “Nói ngọt lọt đến xương”. Người Bắc thì gọi là “Ngọt nhạt”.
Ca dao cũng có câu: “Thả giọng trầm nhiều nỗi mê man.” Đi “cua” gái,
những người thả giọng trầm dễ “ăn” hơn mấy người “Ăn to nói lớn” ồn ào.
Hồ Tôn Hiến đem quân đánh Từ Hải, liệu bề không thắng được Từ bèn chọn
việc cho người đi ngõ sau: Hối lộ và dụ dỗ, ngon ngọt với Kiều để Kiều
khuyên Từ Hải ra hàng:
Nàng thời thật dạ tin người
Lễ nhiều, nói ngọt nghe lời dễ xiêu
Nói lanh chanh là nói không rõ, cướp lời người khác. Trẻ con thường có
tật nói leo. Nói leo là nói với người lớn mà chưa được phép nói, người
lớn chưa nói xong đã cướp lời.
Nói nhiều, hay nói, là điều bất lợi, nói hớ dễ bị người lớn bắt lỗi.
Khi ai hỏi việc gì đó, người nào nói lộp chộp, chưa chịu suy nghĩ cho
kỹ thì dễ bị nói hớ, để lộ công việc. Vì vậy, tục ngữ có câu:
Vạ bởi miệng ra, bệnh chẳng qua miệng vào.
Miệng ra tức là nói; miệng vào tức là ăn. Nói bậy dễ bị vạ (tai vạ), ăn bậy, ăn nhiều dễ sinh bệnh.
Vì dễ bị hớ, bị vạ nên ông bà ta dạy:
Ăn phải nhai, nói phải nghĩ.
Câu nầy nghĩa rõ lắm. Khi ăn phải nhai thức ăn cho nhuyễn rồi mới nuốt,
cũng như trước khi nói phải suy nghĩ thật kỹ điều mình muốn nói ra.
Cũng cùng một ý như thế, người Tàu dạy rằng: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”.
Tổ tiên cúng ta có một câu tục ngữ khá hay:
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Nhiều người có tật ưa nói nhiều, đi đâu cũng nói. Những người đó bị người ta gọi là “Chân ngoài ngõ, miệng trong nhà”, có nghĩa là chân mới tới ngoài cửa ngõ mà tiếng nói đã vang tới trong nhà.
Nhà văn Vũ Thư Hiên có lần chê ông thủ tướng Phạm Văn Đồng của chính
phủ Bắc Việt Nam trước kia là người ưa nói. Bất cứ ở hội nghị nào, hễ
có mặt ông là ông cũng sẽ lên nói. Ông ta nói lan man việc nọ xọ việc
kia khiến nhiều người bực mình. Nói nhiều, hay nói, là một cái bệnh,
rất nhiều người bị. Những người đó bị chê là “nói dài, nói dai, nói
dại.”
Vì là người có quyền nên nói chi người ta cũng nghe, không nghe thì
ngồi ngáp vặt chớ không dám phản đối. Vì vậy, xưa có câu tục ngữ nghe
rất khó chịu nhưng phải nhận là hay. Câu đó là:
Miệng nhà quan có gang có thép.
L. nhà khó vừa lọ vừa thâm.
Hai câu nầy dụng phép đối (Xưa gọi là văn biền ngẫu) vừa đối cả ý lẫn
lời. Gang thép thì đối lại là lọ thâm, còng miệng thì đối lại là l. Đối
như thế thì người xưa gọi là thâm; thâm thật!
Câu nầy cũng tương tự như câu của Tây: “Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”.
Nói là biểu lộ ý nghĩ, tình cảm, cũng có khi tỏ rõ lập trường. Khi bị
điều tra, nhất là khi Công An Cộng Sản điều tra, chúng thường gặng để
biết lập trường chính trị của đối tượng nên nhiều khi rất khó trả lời.
Trả lời theo chúng thì là… hèn, khiếp nhược. Nghịch với chúng thì… khó
sống.
Người xưa cũng nhiều khi gặp trường hợp khó nói nên dạy một câu rất mất lập trường: “Làm trai cứ nước hai mà nói”. Ở Huế cũng có câu hò rất “ba phải” về việc nầy:
Chào bên nam mất lòng bên nữ,
Chào người quân tử bỏ bụng thuyền quyên
Cho tôi xin chào chung một tiếng
kẻo chào riêng khó chào.
Nguy hiểm nhất là nói nịnh. Tán gia bại sản cũng vì nịnh, nước mất nhà
tan cũng vì nịnh. Nếu chung quanh nhà vua có nhiều nịnh thần thì thế
nào vua cũng bị mất ngôi. Lạ một điều, người ta ai ai cũng ưa nghe
người ta nói nịnh mình. Thậm chí nhiều khi mình biết người ta nói nịnh
mà mình vẫn thích. Có phải đó là cá tính của con người. Người ta chết
vì cái thích đó! Vua thì thích bọn nịnh thần hơn trung thần; quan cũng
vậy. Nhứt là mấy bà. Ai khen mấy bà nào là trẻ, là đẹp, là phúc đức,
nhân hậu thôi thì mấy bà thấy mình lên tới mây xanh.
Chung quanh những người cầm quyền thường lúc nhúc một lũ dua nịnh. Ở
Huế, người ta có chê “Cậu Cẩn” nhưng người ta ghê tởm đám nịnh hót
chung quanh “Cậu”.
Đọc truyện Kiều, nhận xét nhân vật, người đọc thấy cụ Nguyễn Du mô tả
nhân vật, cách ăn mặc, bộ điệu, trang phục, nói năng mỗi người mỗi nét,
nói lên cái cá tính của họ, hay vô cùng:
Cô Kiều đẹp thì đã đành, nhưng cách nói năng của cô Kiều thì:
Lặng nghe lời nói như ru
Chiều thu dễ khiến nét thu ngại ngùng
Khi chàng Kim Trọng tỏ ra sàm sở với Kiều, bị Kiều “sửa lưng” nhưng
cách sửa lưng của Cô Kiều không những không làm cho Kim Trọng tự ái bất
mãn mà còn:
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể, thêm vì mười phân
Hoặc:
Khen cho: “Phật đã nên rằng:
Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời
Với cảnh ồn ào, hung dữ như sau, không biết có khác gì với cảnh công an
và “nhân dân” của chúng khi xét nhà dân chúng, hoặc như khi chúng tấn
công gia đình Cụ Hoàng Minh Chính:
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh
Rụng rời giọt liễu, tan tành gối mai
Đức Khổng Tử có nói đại khái rằng người nào ăn mặc chải chuốt qua, lời
nói trơn tru dịu dàng quá, có thể bụng dạ không thật. Có phải đó là
“nguyên tắc” để Cụ Nguyễn Du mô tả Sở Khanh:
Một chàng vừa trạc thanh xuân
Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng
Về Hoạn Thư, “con quan lại bộ”, dòng dõi, giai cấp thống trị ngày xưa thì:
Ở ăn thì nết cũng hay
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già
Con người như thế thì có hai bộ mặt:
Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao
Nói là bản năng tự nhiên thiên phú nên không chế độ nào có đạo luật
“Cấm nói” như chế độ độc tài Cộng Sản. Tự do nói tức là tự do ngôn luận.
Cấm ngôn luận, theo nhà văn Vũ Thư Hiên và nhà thơ Nguyễn Chí Thiện,
trong một buổi phỏng vấn mới đây của đài truyền hình SBTN thì chỉ có
chế độ Cộng Sản mới có. Ngay cả dưới chế độ phong kiến cách đây cả mấy
trăm năm ở nước ta cũng không khắc nghiệt như dưới chế độ Cộng Sản bây
giờ. Nếu chế độ phong kiến cấm ngôn luận khắt khe lắm thì sao có tác
phẩm “Cung Oán Ngâm Khúc” nói lên tâm trạng của một cung nữ oán trách
nhà vua vì bị nhà vua bỏ bê, làm sao có “Chinh Phụ Ngâm” diễn tả tâm
trạng của một người đàn bà oán trách vua chúa gây nên chiến tranh để
người chồng phải đi chinh chiến ở xa, hay như gần đây, mới đầu thế kỷ
20, dưới triều vua Thành Thái, một nhà vua yêu nước bị Pháp bắt đi đày
bên Châu Phi thế mà cũng bị nhà thơ Trần Tế Xương chê một câu:
Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết cả trên đời
Vua, quan, sĩ tứ, người muôn nước,
Sao được cho ra một giống Người
Trần Tế Xương chê vua Thành Thái (hay Duy Tân – vua Thành Thái bị truất
ngôi năm 1908, con là Vĩnh San lên ngôi, lấy hiệu là Duy Tân): “Sao
được cho ra một giống Người” thì Trần Tế Xương chẳng mất một sợi lông
chân, còn Trần Dần viết hai câu thơ sau đây thì bị gì:
Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn kinh hoàng trước tương lai
Chỉ một chữ Người viết hoa mà Trần Dần chịu một đời tù.
Về cá nhân, người ta thường dùng những lời nặng nề để mạt sát, nhục mạ
nhau. Đó là ngày xưa. Ngày nay, việc nhục mạ nầy phát triển thành chính
sách của nhà nước, chính phủ. Ở miền Nam, trước 1975, những lãnh tụ như
ông Ngô Đình Diệm, ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Dương Văn Minh cũng có
người thương, người ghét, phê bình, đả kích, hoan hô tùy theo hoàn cảnh
hay xem xét con người lăng kính chính trị của họ. Điều đó là tự nhiên,
nhưng không ai gọi họ bằng thằng.
Sau 1975, trong các buổi họp phường, khóm hay học tập, v.v… bỗng người
ta nghe cán bộ Cộng Sản gọi “Thằng Diệm”, “Thằng Thiệu”, “Thằng Kỳ “,
“Thằng Dương Văn Minh”, và đôi khi cả “Thằng Ních-Xơn”, “Thằng
Giôn-Xơn”… thì người ta bỗng thấy hơi lạ lẫm với cách xưng hô của người
Nam. Qua đó, nếu ai gọi “Ông Ngô Đình Diệm”, “Ông Thiệu” thì bị cán bộ
Cộng Sản “chỉnh” ngay. Họ cấm, không cho gọi bằng ông mà phải gọi bằng
thằng như họ vậy. Nếu gọi Ông Thiệu thì gọi Xít-ta-Lin bằng gì? Chỉ có
mấy ông bên Liên Xô, bên Tàu (Trung Quốc) mới gọi bằng ông. Với người
Cộng Sản, cùng đảng với nhau thì cũng có khi họ gọi “Đồng chí
Xít-ta-Lin”, “Đồng chí Mao Trạch Đông” hoặc “Đồng chí Mao Trạch Đông vĩ
đại”. Người ngoài đảng thì không được gọi bằng “đồng chí” (dĩ nhiên) và
phải gọi bằng ông; chung chung, tổng quát là như vậy, giống như Tố Hữu
gọi “Trời ơi Ông mất đất trời có không?!” Không lý gọi Xít-Ta-Lin bằng
ông rồi cũng gọi Ngô Đình Diệm bằng ông?! Thế là không xong rồi, “không
vững lập truờng” nên cho đi “học tập” ở trại cải tạo. Có lẽ cùng vì lý
do này, để đáp lại cách gọi của “đảng và nhà nước” Cộng Sản, ngày nay
người ta cũng thấy nhan nhãn trên báo chí hải ngoại tiếng “Hồ tặc”,
“già Hồ”, “cáo Hồ”. Trước 1975, rất hiếm hoi khi thấy báo chí miền Nam
gọi ông Hồ Chí Minh như thế. Đó cũng là “Răng trả răng, mắt trả mắt” mà thôi!
Hay nhứt là nên “Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” như tổ
tiên chúng ta đã dạy. Lời nói hay, tốt đẹp thì người ta nhớ lâu, thích
thú và thậm chí cả kính trọng người nói. Lời nói dở, xấu, thiếu lịch
sự, thậm chí thiếu giáo dục thì người ta chê, ghét, bỏ đi.
Xin đưa một ví dụ như: Tây có câu tục ngữ như tôi vừa nói trên “Mắt trả mắt, răng trả răng”.
Thế la sòng phẳng. Ai tốt với mình, mình tốt lại; ai khen mình, mình
khen lại; ai chê mình, mình chê lại; ai chửi mình, mình chửi lại. Đó là
thế gian thường tình. Nhưng có lẽ từ câu tục ngữ đó mà ông Thánh Gandhi
bên Ấn Độ mới nói câu sau đây: “Mắt trả mắt thì cuối cùng sẽ làm cho cả thế giới mù lòa”.
Câu ông Gandhi nói mới thật là hay, mới thấm thía. Có lẽ đó là một nét
đặc sắc của văn hóa Ấn Độ. Những người theo Phật có lẽ biết câu Phật
dạy: “Lấy oán trả oán, oán chồng chất; lấy ân trả oán, oán tiêu tan”.
Hồi tôi còn học lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ), ông thầy dạy Việt văn của
tôi có biểu chúng tôi cứ mỗi tuần, một toán ( khoảng 10 học sinh) tìm
cho ông một câu thuộc loại “Lời hay ý đẹp”. Toán nào tìm được nhiều
câu, câu càng hay, thì chúng tôi càng được điểm tốt. Tôi không rõ ông
thầy tôi muốn làm một bộ sưu tập hay ông muốn dạy khéo chúng tôi vì khi
đi tìm tức là có học hỏi. Vào thư viện, tôi thấy ở Mỹ bây giờ có rất
nhiều loại sách sưu tập những lời hay ý đẹp như thế. Theo kinh nghiệm
của tôi, nên khuyến khích giới trẻ đọc sách nầy.
Vì vậy mà có người không nói. Không nói có nhiều nghĩa. Không nói trước
người điều tra có nghĩa la bất hợp tác. Trong một nước tự do, người ta
có quyền im lặng, để cho luật sư của họ làm việc. Với Công An Việt Nam,
họ hỏi mình mà mình không nói thì có nghĩa là “bầm mình”, tuy rằng
trong chế độ cũ, Việt Cộng hướng dẫn cho những người theo chúng khi bị
chính quyền quốc gia bắt thì phải ba không: Không thấy, không nghe,
không nói.
Người ta kể môt câu chuyện ngày trước nhà văn Pháp Anatole France tranh
luận với một ông đại tá về một vấn đề gì đó. Ông đại tá dùng những lời
nặng nề, thô bỉ để mạt sát nhà văn nên A. France không trả lời những gì
ông đại tá viết nữa. Thấy nhà văn không nói gì nữa, ông đại tá giận
quá, một hôm đến tận nhà của nhà văn hỏi một câu: “Này thằng nhà văn
chó chết kia! Tại sao màu không trả lời tao?” A. France chậm rãi trả
lời: “Thưa đại tá! Vì mồm đại tá thối quá!”
Về việc không nói, người Tây phương cũng nói một câu khá hay: “Người ta chỉ cần một năm để tập nói nhưng phải tập ba năm để ngậm miệng lại”.
Về mặt tôn giáo thì đó là một cách tu cái miệng của mình: tịnh khẩu.
Nói, nhất là nói bậy thì theo Phật là tạo cho mình một cái nghiệp, tạo
một “Khẩu Nghiệp”. Nói bậy, nói điều ác, điều xấu là tạo cho mình một
khẩu nghiệp xấu. Vì vậy tịnh khẩu là tránh cho mình một cái nghiệp.
Ông “Bác Vật Lang” hồi xưa ở Sa Đéc, du học bên Tây và đậu kỹ sư sinh
vật, khi về nước, ông chẳng làm việc gì, ngày ngày “ngao du sơn thủy”.
Một lần ông lên thăm Thạch Động ở Hà Tiên. Nơi nầy có một con đường đi
xuống một cái hang mà người ta gọi là đường xuống âm phủ. Ông ta thấy
cái gì ở đó mà người ta bảo rằng Phật thánh cấm ông nói cho nên từ đó
về sau, cho đến khi qua đời, ông tịnh khẩu.
Về tôn giáo, vua Trần Nhân Tôn có một bài thơ khá hay nói về việc không nói. Bài thơ như sau:
Oanh hót dề dà liễu tả tơi
Thềm hoa mây phủ bóng hiên dài
Khách đến chẳng thăm niềm tâm sự
Tựa bức lan can chỉ ngắm trời
(Hoàng Vũ dịch)
Hiểu theo văn chương thông thường thì đây là một bài thơ hay, một bài
thơ đẹp. Buổi chiều (hay buổi trưa, buổi sáng) có nắng chiếu làm bóng
mây che phủ thềm nhà (hay chùa), có những cành liễu buông dài, tiếng
chim oanh hót trên cành cây. Vậy mà khách đến thăm, chẳng nói một lời
tâm sự. Khách đứng tựa bức lan can ngắm trời. Ngắm trời để làm gì? Để
nhìm một cảnh đẹp hay để suy tưởng. Điều suy tưởng đó chắc có chiều
rộng lẫn chiều sâu làm cho khách đắm chìm trong vòng suy tưởng đó mà
chẳng nói một lời. Dĩ nhiên đây là một bài thơ thiền nên xin để cho các
nhà thiền học giải thích mới hay.
Bài thơ sau đây cũng là một bài thơ “Không nói” nhưng không phải là một bài thơ thiền, mà chính là một tâm sự về con người, về cuộc đời, về đảo điên thế sự.
Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Nguyễn Chánh Thi đảo chánh lật đổ ông Ngô
Đình Diệm. Cuộc đảo chánh thất bại, một số nhà hoạt động chính trị bị
bắt vì có dính líu đến cuộc đảo chánh đó. Một trong số những người nầy
có nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam (Tức nhà văn Nhất Linh).
Năm 1963, vì vụ Phật giáo đồ đứng lên biểu tình chống đối nhà Ngô, để
dằn mặt, Ngô Triều mở một phiên tòa xử tội những người trước đó chống
đối chế độ. Nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam có tên trong số những người
bị đưa ra tòa lần nầy. Trước hôm ra tòa một ngày, đúng ngày 7 tháng 7
năm 1963, thường gọi là ngày Song Thất, mỗi năm đều có lễ kỷ niệm “Ngô
tổng thống chấp chánh”, Nhất Linh dùng độc dược tự tử. Việc làm của ông
làm chấn động dư luận trong cũng như ngoài nước.
Thời gian trước khi vụ án xảy ra, nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam thường
đến thăm bạn bè, trong đó có nhà thơ Bùi Khánh Đản. Một lần đến thăm
bạn, Nhất Linh chỉ nói vài câu chào hỏi thường lệ, rồi ngồi trầm ngâm
chẳng nói lời nào. Xong rồi, nhà văn chào bạn ra về, không nói thêm môt
lời nào khác. Điều không nói của Nhất Linh đã gây một ấn tượng sâu sắc
cho nhà thơ. Sau khi Nhất Linh ra về, nhà thơ Bùi Khánh Đản làm bài thơ
sau đây:
Thiếu Một Lời
 |
Ngôn đạo — Nguồn: wallpaper.net.au
|
Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi
Anh đã quên không nói một lời
Tám hướng dần buông vào tịch mịch
Hai lòng vẫn ngã chốn xa xôi
Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện
Tai lắng thời gian thánh thót rơi
Tất cả chìm sâu sâu xuống mãi
Vì anh chỉ thiếu một lời thôi
(Bùi Khánh Đản)
Thành ra, thưa quí vị, cái không nói lại quí hơn cái nói hàng vạn lần.
Nói là một ân huệ đặc biệt tạo hóa chỉ cho con người mới có. Tất cả các
loài vật khác không thể có được. Nếu biết đó là một ân huệ đặc biệt,
tại sao chúng ta không cố gắng gìn giữ nó, dùng nó một cách trong sáng
đẹp đẽ, đem lại cho nhau những điều hay đẹp tươi vui. Gia tỉ có một số
loài vật nào đó cũng không ngoan như người nhưng chúng không được cái
đặc ân của Tạo hóa cho chúng có tiếng nói như người thì chúng sẽ suy
nghĩ như thế nào khi chúng thấy loài người dùng tiếng nói để chưởi rủa
nhau?! Chúng sẽ chê cười chúng ta đấy, cho rằng chúng ta không biết cái
giá trị đặc biệt của tiếng nói mà dùng cho đúng cách.
Người Nhật cũng uống trà như các dân tộc khác như người Tàu, người
Việt, nhưng họ biến cải cách dùng trà như một nghệ thuật, biến nó thành
một cái đạo mà họ gọi là trà đạo. Cũng với một ý hướng muốn bắt chước
người Nhật, tôi nghĩ rằng tại sao chúng ta lại không gìn giữ, trân
trọng tiếng nói, cách nói, v.v… như thế nào để biến nó thành một… ngôn
đạo. Đó cũng là cái ý chính khi tôi đặt tên cho bài viết nầy.
Worcester MA, 12/05/2006
Copyright © 2006 DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: