(Nguồn: “Translator for the Buddha: An Interview with Bhikkhu Bodhi”.)
Tỳ
khưu Bodhi (Bhikkhu Bodhi) là một tu sĩ người Mỹ và là một dịch giả nổi
tiếng về kinh điển Pali nguyên thủy. Các bản dịch Anh ngữ của ngài về
Trung Bộ (Majjhima Nikaya) và Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya) đã trở
thành những quyển sách tham chiếu căn bản của giới Phật học ở phương
Tây. Vào đầu năm 2006, chuyên san Phật giáo Inquiring Mind
(http://www.inquiringmind.com) thực hiện một cuộc phỏng vấn được ghi
lại dưới đây.
*
- Hỏi: Do duyên cớ gì Sư chú tâm vào việc dịch kinh?
-
Tỳ khưu Bodhi: Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch
giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với
thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm
quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt
đầu là tiếng Pali, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi
đến Sri Lanka và thọ giới tỳ khưu trong truyền thống Phật giáo Nguyên
thủy (Theravada) vào năm 1972, tôi tích cực học tiếng Pali để có thể
trực tiếp đọc và hiểu được những bài kinh nguyên thủy của Đức Phật. Tôi
quyết định theo học với Hòa thượng Balangoda Ananda Maitreya, vì lúc ấy
ngài là một trong các vị học giả giỏi nhất ở Sri Lanka. Ngài cũng rất
thông thạo tiếng Anh, và là một người rất hiền hòa và từ bi.
Vào
năm 1974, tôi có dịp làm việc chung với vị sư người Đức, Hòa thượng
Nyanaponika, chủ nhiệm và chủ bút của Hội Xuất bản Phật giáo (Buddhist
Publication Society), thành phố Kandy. Trong thời gian đó, tôi sử dụng
cuốn sổ tay của Hòa thượng, do ngài ghi chép từ thập niên 1950, để tăng
cường sự hiểu biết về tiếng Pali chú giải. Cuối năm 1975, tôi đến Kandy
và sống với ngài Nyanaponika. Ngài xem qua vài bài dịch riêng của tôi
và khuyên tôi nên dịch bài kinh Phạm Võng (Brahmajala Sutta, bài kinh
đầu tiên trong Trường Bộ), cùng với những chú giải và phụ chú giải. Bản
dịch đó được xuất bản trong tập sách Chú giải kinh Phạm Võng (The
Discourse on the All-Embracing Net of View) vào năm 1978, đánh dấu khởi
điểm cho “sự nghiệp” dịch thuật của tôi.
- Hỏi: Sư có những nhận
xét gì về vai trò của kinh điển đối với các người phương Tây theo học
Phật Pháp? Và lý do gì đã thúc đẩy Sư phổ biến những bản dịch Anh ngữ
đến với họ?
- Tỳ khưu Bodhi: Khoảng năm 1972, trước khi tôi rời
Hoa Kỳ đi sang châu Á để thọ giới tỳ khưu, quan tâm về đạo Phật của
giới trẻ Hoa Kỳ có khuynh hướng phản trí thức (anti-intellectual) –
nghĩa là ít chú ý đến việc nghiên cứu kinh sách. Lúc đó, trong khi đa
số những người Tây phương đi tu học tại các tự viện Phật giáo Nguyên
thủy trong vùng rừng núi ở Thái Lan hoặc tại các trung tâm thiền tập ở
Miến Điện; duyên nghiệp lại đưa đẩy tôi đến Sri Lanka, đến với những vị
thầy có hiểu biết thâm sâu về kinh điển và sẵn sàng hết lòng dạy tôi.
Khi
tôi bắt đầu tìm đọc các bài kinh bằng tiếng Pali, tôi rất hồ hởi bởi
tính chất rõ ràng, lý luận sâu sắc, vẻ đẹp tế nhị và tình cảm tinh tế,
nằm ngay bên dưới bề mặt trầm lặng của chúng. Tôi bắt đầu phiên dịch
những bài kinh và các đoạn chú giải với mục đích duy nhất là để giúp
cho mình thông hiểu, chứ không có ý định xuất bản. Nhưng sau một thời
gian, tôi nhận thấy rằng người học Phật phương Tây có một khoảng trống
rất lớn: đó là thiếu một sự hiểu biết rõ ràng về những lời dạy của Đức
Phật. Do đó, tôi nghĩ rằng, điều cực kỳ quan trọng là làm sao phiên
dịch những bài kinh này ra một thứ ngôn ngữ hiện đại, trong sáng, kèm
theo với những chú thích để trình bày những nghĩa lý thâm sâu và gia;
trị thực tiễn. Đó là sự nghiệp của tôi cho đến ngày hôm nay.
- Hỏi: Sự uyên bác và công việc nghiên cứu kinh điển đã giúp ích được gì trong sự hành trì và phát triển tâm linh của Sư?
-
Tỳ khưu Bodhi: Nhiều Phật tử phương Tây thường cho rằng hành trì đồng
một nghĩa với thiền tập, và rồi họ tách biệt, phân chia giữa hai lãnh
vực học hỏi và thực hành. Họ cho rằng, khi một vị tu sĩ chuyên tâm
nghiên cứu Phật học, vị ấy không thể nào là một hành giả nghiêm túc;
như thể công việc học Phật là đối chọi lại với công phu hành trì chân
thật. Tôi phải công nhận rằng sự hành thiền của tôi cũng chưa hoàn toàn
như ý mong muốn, nhưng đó là vì điều kiện sức khoẻ của tôi (đây là trở
ngại do nghiệp quả mà tôi phải trực diện); chứ hoàn toàn không phải vì
tôi chú tâm quá nhiều cho trong việc nghiên cứu và phiên dịch kinh điển.
Chúng
ta nên nhớ rằng, ở các quốc gia Phật giáo tại châu Á, từ nhiều thế kỷ
và hầu như trong mọi tông phái, công tác chính yếu của Tăng đoàn là gìn
giữ và quảng bá Phật pháp, bằng cách nghiên cứu, học hỏi và truyền bá
giáo lý và kinh điển. Công việc ấy đã dựng nên một nền móng vững chắc,
từ đó, những thành đạt cao hơn trong việc tu tập được xây đắp; như thể
bộ xương nâng đở bắp thịt và các cơ quan khác trong thân thể Phật pháp.
Mặc dù trong mọi truyền thống đều có những tích truyện về những vị
thiền giả tuy ít học mà vẫn đạt được những thực chứng thâm sâu, nhưng
nổi bật nhất vẫn là những vị có thể phối hợp được cả hai pháp học và
pháp hành. Ta cũng có thể nghi ngờ những câu chuyện tiểu sử các bậc
hiền triết ít học, như là những phóng đại do tôn sùng quá đáng.
Mối
tương quan giữa sự học Phật uyên bác và sự thực hành, theo tôi, là một
vấn đề rất phức tạp, mà ta không thể nào tìm được một câu trả lời duy
nhất có thể thích hợp cho tất cả mọi người. Mỗi người có một khuynh
hướng tự nhiên thiên về một phía nào đó. Có một điều ta có thể nói dứt
khoát rằng, kiến thức uyên bác mà không có áp dụng thực tế là trở thành
cằn cỗi, và hành thiền tinh tấn nhưng thiếu sự hướng dẫn để hiểu rõ các
nguyên tắc là trở thành vô hiệu quả. Tôi e rằng nếu không có hiểu biết
sâu sắc về kinh điển, chỉ trong vòng vài thế hệ nữa, truyền thống tu
tập của chúng ta sẽ bị pha loãng, lấn áp, và nuốt trọn bởi nền văn hóa
vây quanh, nhất là nền văn hóa ấy có tính duy thần hay có hướng chuộng
vật chất.
- Hỏi: Xin Sư cho biết ý kiến về giá trị của việc học kinh điển trong sự tu tập của Phật tử Âu Mỹ ngày nay.
-
Tỳ khưu Bodhi: Trước khi giải thích về giá trị của việc học kinh điển
trong sự tu tập của mình, ta nên đặt câu hỏi: Thế nào là tu tập? Tu tập
có nghĩa là gì? Nếu ta không nhấn mạnh về những câu hỏi này, ta có
khuynh hướng mang những giả thuyết không được xem xét rõ ràng vào mục
đích của sự tu tập. Từ đó, sự tu tập của ta sẽ dễ dàng trở nên tùy tiện
cho những ý đồ riêng tư, hoặc là những thiên kiến văn hóa, thay vì là
một phương tiện đưa đến mục tiêu giải thoát mà Đức Phật đã đề ra. Theo
tôi thấy, đó là điều đang xảy ra cho Phật giáo phương Tây, và đó cũng
giải thích được lý do vì sao Phật giáo Âu Mỹ đã thay đổi truyền thống,
và có người xem rằng đó như thể đã thỏa hiệp với ngành tâm lý học hiện
đại hay với chủ nghĩa nhân bản thế tục.
Học Phật pháp không phải
là việc khuân vác một mớ văn hóa từ một xứ Ấn Độ cổ xưa đem về đổ xuống
sau vườn nhà mình. Nó phải được xem xét, phân tích cẩn thận. Nếu thực
hiện nghiêm túc, nghiên cứu Phật học là phương cách để ta học hỏi và
hấp thu cơ cấu của Phật Pháp. Đây là cách để ta có được một sự thông
hiểu tường tận về các nguyên lý nền tảng của giáo pháp. Quan trọng hơn
nữa, đây là cách để ta nuôi dưỡng những hạt giống tuệ giác trong tâm
mình.
Công việc đầu tiên ta cần làm khi đi theo con đường của
Đức Phật là phải có Chánh Kiến, chi đầu tiên của Bát Chánh Đạo, đó là
kim chỉ nam cho suốt hành trình tâm linh của ta. Chánh kiến được bắt
đầu bằng "văn", gồm có đọc kinh điển, nghe và học hỏi từ những vị thầy
có khả năng. Kế đến là "tư", nghĩa là suy tư, quán chiếu về thực chất
của giáo lý, liên quan đến cuộc sống của chính mình. Khi quan kiến của
ta được sáng tỏ và sâu sắc, niềm tin nơi Đức Phật trở nên kiên cố. Lúc
đó, dựa trên chánh kiến và lòng tín thành này, công phu hành thiền của
ta, "tu", sẽ tiến đến đúng mục tiêu.
Trí tuệ chân thật chỉ xuất
hiện khi ta thẩm sát những gì thiện và những gì bất thiện, nghĩa là
những gì đưa ta đến bình an hạnh phúc và đem an vui đến cho người khác,
và những gì gây tai hại và đau khổ cho ta và cho người khác. Điều này
phát nguồn từ việc học kinh điển nghiêm túc, và đó chỉ là một phần nhỏ
những gì ta tìm được trong nguồn kinh điển. Ta cần phải thẩm tra những
gì ta học được, suy tư và hấp thu vào nội tâm, và xuyên suốt qua tuệ
quán.
- Hỏi: Bằng cách nào chúng ta có thể kết hợp việc nghiên cứu các bài kinh với sự tu tập của mình?
-
Tỳ Khưu Bodhi: Trước hết, ta cần phải biết bắt đầu từ đâu. Cho người
mới bắt đầu học kinh, tôi đề nghị tìm đọc tập sách trích lục kinh điển
của Hòa thượng Nyanatiloka, “Phật ngôn” (The Word of the Buddha). Hoặc
tìm đọc theo hệ thống các bài kinh căn bản trình bày tại trang web
“Truy cập Tuệ quán” (Access to Insight, www.accesstoinsight.org); và
tôi cũng đề nghị đọc bài “Làm bạn với kinh điển” (“Befriending the
Suttas”) của ông John Bullitt, chủ biên trang web. Kế đến, bạn có thể
đọc cuốn “Những Lời Dạy của Đức Phật” (In the Buddha’s Words), do tôi
trích lục từ kinh tạng. Sau đó, cho những ai muốn đọc đầy đủ hơn, tôi
đề nghị tìm đọc Trung Bộ (Majjhima Nikaya). Trang web của Tu viện Bodhi
(Bodhi Monastery, www.bodhimonastery.net) có lưu trữ các bài giảng kinh
Trung Bộ của tôi, thu âm trong suốt ba năm thuyết giảng, có thể tải
xuống để nghe. Như thế, sẽ giúp người nào muốn tìm hiểu nghiêm túc chi
tiết các kinh văn này.
Phương pháp học tập: Tôi đề nghị là trong
lần đầu, ta gắng đọc lướt qua toàn bài kinh để làm quen với mạch văn.
Sau đó, đọc lại lần thứ nhì cẩn thận hơn và ghi chú các chi tiết. Khi
đã quen với nhiều bài kinh, liệt kê một số các đề tài có vẻ vượt trội
và các chủ đề trùng lặp, và dùng chúng như là các đề mục cho việc học
kinh trong tương lai. Khi ta tiếp tục đọc kinh, nên lấy ghi chú và sắp
xếp chúng theo từng chủ đề, tạo thêm chủ đề mới nếu cần thiết; nhưng
luôn luôn ghi rõ xuất xứ các đoạn kinh. Dần dần – sau một năm hay vài
năm – ta sẽ có được một cái nhìn tổng thể về Phật Pháp; cuối cùng, ta
sẽ thấy các bài pháp ấy kết hợp với nhau thành một khối đồng nhất, như
thể các mảnh hình nhỏ được kết nối lại trong trò chơi ráp hình.
Tôi
cũng muốn nhấn mạnh ở đây là các bản kinh Pali bắt nguồn từ thời kỳ cổ
xưa nhất của lịch sử kinh văn Phật giáo và vì thế, là một di sản chung
cho mọi truyền thống Phật giáo. Vì vậy, học tập các bản kinh này không
phải là công việc dành riêng cho Phật tử Nam tông hay những hành giả
thiền Minh sát; đó là công việc, và cũng là nhiệm vụ, của mọi Phật tử
thuộc tất cả các tông phái, nếu họ thật tâm muốn thông hiểu cội rể của
Đạo Phật.
- Hỏi: Có những cạm bẫy hay nguy cơ nào trong việc sử dụng kinh điển không?
-
Tỳ Khưu Bodhi: Có một điều nguy hiểm trong việc sử dụng kinh điển đã
được Đức Phật chỉ ra rất rõ ràng trong bài kinh Xà dụ (kinh “Người bắt
rắn”, Trung Bộ, 22). Đức Phật nói về những người học kinh điển, thay vì
đem ra thực hành các lời giảng dạy, lại sử dụng những kiến thức ấy để
phê phán kẻ khác, hoặc để khoe tài năng của mình khi tranh luận với kẻ
khác. Đức Phật ví dụ họ như người bắt rắn nhưng nắm ở đằng đuôi, họ sẽ
bị con rắn quay đầu lại cắn, gây đau đớn trầm trọng hoặc mất mạng. Tôi
thấy nhiều Phật tử Tây phương đã rơi vào cạm bẫy này, nhiều lúc có cả
chính tôi. Mặc dù ta bắt đầu với ý định tốt nhất, nhưng ta lại nắm bắt
Phật Pháp bằng thái độ giáo điều cố chấp, dùng học thức của mình để
tranh cãi với kẻ khác, và rồi, dính mắc vào "trận chiến diễn dịch" với
những ai có sự giải thích kinh văn khác với mình.
Một nguy hiểm
khác là ta buông bỏ khả năng suy xét của mình và hoàn toàn tin vào bất
cứ những gì ghi lại trong kinh. Thật ra, cũng có những điều trong kinh
không còn đúng và thích hợp nữa, qua kiến thức khoa học hiện đại. Ta
không thể phê bình những người tin theo thuyết sáng tạo của Ky-tô giáo
để rồi mình cũng bị chấp dính vào những thái độ tương tự.
- Hỏi: Có những đoạn kinh nào mà Sư ưa thích nhất?
-
Tỳ Khưu Bodhi: Khi tôi mới bắt đầu đọc kinh điển Phật giáo, lúc còn học
đại học, tôi cảm thấy rất hứng khởi với những lời dạy của Đức Phật về
lý nhân duyên, ngũ uẩn, vô ngã,v.v., vì chúng đưa ta thẳng vào trọng
tâm của Pháp. Nhưng một trong những bài kinh gây ấn tượng nhất cho tôi
lại không phải là những bài kinh giảng thâm sâu về hành thiền hoặc về
thực chứng giải thoát. Khi đọc những bài kinh giảng về lý duyên khởi và
vô ngã, tôi nghĩ: Đức Phật quả là một bậc giác ngộ, nhưng có lẽ cũng
chưa toàn vẹn lắm. Nhưng khi tôi đọc đến bài kinh Giáo thọ
Thi-ca-la-việt (Sigalovada Sutta, Trường Bộ, 31), những nghi ngờ của
tôi hoàn toàn tan biến. Khi tôi đọc bài kinh này, đặc biệt là đoạn kinh
giảng về “cách lễ lạy sáu phương”, tôi nhận thấy rằng mặc dù đã thấu
đạt những chân lý sâu xa nhất về sự hiện hữu, Đức Phật vẫn có thể giảng
dạy rất chi tiết cho bậc cha mẹ về cách dạy con cái, cho vợ chồng về
cách thương yêu tương kính, cho người chủ về cách chăm sóc người làm
của mình, v.v.; khi ấy, tôi chợt hiểu rằng, vị Thầy này quả là một bậc
giác ngộ hoàn toàn. Trong tâm tôi, bài kinh này chứng minh rằng, Đức
Phật không những đã đạt được một “trí tuệ siêu thế” cao quý nhất, mà
Ngài còn có cả “ trí tuệ hiện thế” với lòng từ bi trùm khắp thế gian,
mang sự hiểu biết của mình hòa nhập với trình độ của thế tục, để dạy dỗ
và hướng dẫn mọi người bằng những phương cách phù hợp với căn cơ của họ.
Một
trong những đặc điểm của kinh điển mà tôi có ấn tượng nhất, ngay từ khi
bắt đầu học kinh và mãi cho đến bây giờ, là các ví dụ so sánh. Dường
như Đức Phật có thể đem bất cứ một hiện tượng thiên nhiên nào, hay là
bất cứ một việc gì trong đời sống hằng ngày, biến thành một ví dụ sâu
sắc để làm sáng tỏ một điểm quan trọng nào đó trong bài giảng. Mặt
trời, trăng sao, hoa lá, cỏ cây, sông núi, biển hồ; bốn mùa thay đổi;
sư tử, khỉ, voi, ngựa; vua, quan và chiến sĩ; nghệ nhân, y sĩ và đạo
tặc – danh sách về những đề tài ví dụ của Đức Phật hầu như nhiều vô
tận. Đôi khi chúng ta đọc một loạt những bài kinh có vẻ rất khô khan,
rồi đột nhiên ta gặp một ví dụ rất tươi mới và sáng rõ, và hình ảnh ấy
không bao giờ phai nhạt trong tâm ta, ngay cả sau nhiều thập niên.
- Hỏi: Khi dịch kinh điển, Sư gặp những khó khăn đặc biệt nào?
-
Tỳ Khưu Bodhi: Tôi nghĩ rằng bất cứ ngôn ngữ nào cũng có một cấu trúc
nhận thức cơ bản của mỗi nền văn hóa, chứa đựng những ẩn dụ để tạo dựng
từ ngữ, và bao gồm các ý nghĩa phụ thuộc và sắc thái riêng của từ ngữ.
Vi thế, khi chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, lúc nào ta
cũng gặp vấn đề không hòa hợp giữa hai cấu trúc nhận thức đó. Điều này
dẫn đến các xung đột mà thông thường chỉ giải quyết được bằng cách hy
sinh những liên hệ quan trọng về khái niệm trong ngữ văn gốc để chuyển
dịch sao cho suông sẻ và dễ hiểu. Vấn đề này trở nên trầm trọng hơn khi
ta phải chuyển dịch từ một cổ ngữ, với những ẩn dụ cổ xưa, sang ngôn
ngữ hiện đại với một nền văn hóa rất khác biệt.
Ta có thể thấy
vấn đề này ngay ở những từ Pali đơn giản. Thí dụ như từ “samadhi”
(định), tiếng Anh dịch là: concentration - tập trung; composure - an
tĩnh; collectedness - tự chủ, mental unification - hợp nhất tâm, v.v.
nhưng các từ này không chuyển tải được ý nghĩa của samadhi để chỉ một
trạng thái luyện tâm đặc biệt, hay một hệ thống các trạng thái luyện
tâm, trong hệ thống huân tập tâm ý của đạo Phật (và trong các đạo giáo
Ấn Độ).
Ngay cả từ “sati” (niệm), tiếng Anh thường dịch là
“mindfulness”, cũng không phải là không có vấn đề. Từ này phát nguồn từ
động từ “sarati”, nghĩa là “ghi nhớ”, và đôi khi trong ngữ văn Pali,
sati vẫn được hiểu như có liên quan đến ý nghĩa về sự ghi nhớ. Nhưng
khi từ ngữ đó được dùng trong các pháp hành thiền, chúng ta không có
chữ tiếng Anh nào để dịch cho chính xác. Một dịch giả nào đó đã tạo ra
chữ “mindfulness”, lúc đó chưa xuất hiện trong cuốn tự điển của tôi.
Chữ dịch này cũng khá hay, nhưng tự nó không bảo tồn được ý nghĩa về sự
ghi nhớ, đôi khi rất cần thiết để thông hiểu một đoạn kinh.
Từ
“satipatthana” thường được dịch là “foundation of mindfulness” (niệm
xứ, nền tảng của niệm), nghe có vẻ thanh lịch; nhưng nếu ta hiểu Pali,
ta có thể nghi ngờ, hợp từ ấy không bắt nguồn từ sati + patthana (từ
đó, dịch là niệm xứ), mà là sati + upatthana, nghĩa là “establishment
of mindfulness” (sự thiết lập niệm). Rồi, nếu ta hiểu kinh văn gốc, ta
sẽ thấy có rất nhiều câu, trong đó, sati được dùng với những từ có liên
hệ đến upatthana, như upatthitassati (người có niệm được thiết lập), mà
không có câu nào kết hợp sati với các từ có liên hệ đến patthana. Điều
này xác minh cho việc chúng ta nên dịch satipatthana là “sự thiết lập
niệm - establishment of mindfulness”, hơn là dịch “nền tảng của niệm,
niệm xứ”. Cho dù từ “niệm xứ - foundation of mindfulness” nghe có vẻ
thanh lịch, điểm quan trọng ở đây là tiến trình nội tâm để thiết lập
chánh niệm, chứ không phải là về đối tượng của quán niệm.
- Hỏi:
Khi Sư thấy truyền thống Phật giáo Nguyên thủy đang được các vị giáo
thọ Tây phương biến đổi để thích nghi trong thời đại mới, những điều
nào Sư nghĩ là có ích lợi và những điều nào không có ích lợi?
-
Tỳ Khưu Bodhi: Tôi rất ngần ngại khi phê bình về việc làm của các vị
thầy khác, nhưng tôi chỉ xin đề cập đến một vấn đề quan trọng đang xảy
ra trong việc giảng dạy thiền quán Vipassana, mà có thể ta không chú ý
đến. Tôi có cảm tưởng rằng mục đích của thiền quán niệm, đang được dạy
ở Tây phương, đã bị biến đổi rất nhiều, khác xa chức năng truyền thống
của nó. Có lẽ là vì đa số các vị giáo thọ Âu Mỹ giảng dạy ra ngoài
khuôn khổ của giáo lý Phật giáo cổ điển. Ngày nay, dường như pháp thiền
quán niệm được dạy như là một cách thức để làm tăng trưởng kinh nghiệm
của ta trong giây phút hiện tại. Mục đích của pháp hành là để giúp ta
chấp nhận tất cả những gì xảy đến cho mình mà không phân biệt. Qua sự
nâng cao chánh niệm trong giây phút hiện tại, ta học cách chấp nhận mọi
việc như tự bản chất chúng là tốt đẹp, nhìn thấy mọi vấn đề như đáng để
học hỏi, thể nghiệm mọi sự như đáng ân thưởng. Vì vậy mà ta chỉ cần an
trú trong hiện tại, sẵn sàng tiếp nhận bất cứ việc gì xảy ra, hoàn toàn
cởi mở đón nhận dòng chảy của các sự kiện luôn tươi mới và luôn bất
định.
Ở một cấp độ nào đó, đường lối giảng dạy ấy cho ta nhiều
bài học giá trị. Đương nhiên, chấp nhận bất cứ những gì xảy đến cho ta
bao giờ cũng tốt hơn là sống mà cứ náo nức đeo đuổi lạc thú và sợ sệt
trốn tránh khổ đau. Càng khôn ngoan hơn nếu ta thấy được các bài học
tích cực trong những nỗi đau, mất mát và đổi thay, thay vì than van,
trách móc cho số phận. Thế nhưng, theo quan kiến của tôi, nếu chỉ trình
bày những điều này như là điểm chính của lời Phật dạy, thì đó là một sự
suy diễn sai lầm về Pháp. Lời dạy của Đức Phật, ghi lại trong các bài
kinh, có những luận cứ khác biệt. Mục đích tối hậu của Giáo pháp không
phải là để chấp nhận cuộc đời, nhưng là để giúp ta vượt qua giới hạn
của kinh nghiệm hữu vi, để thăng hoa cuộc đời, đạt đến trạng thái không
có già, không có chết, nghĩa là chấm dứt mọi khổ đau. Nếu ta chỉ đơn
giản duy trì nhận thức trong hiện tại để có một sự chấp nhận không ràng
buộc về hiện tại, nó có thể gián tiếp đưa ta đến sự thỏa hiệp với cõi
Ta-bà luân hồi (samsara), nghĩa là sẽ lại dính mắc vào Ta-bà, chứ không
giải thoát khỏi nó.
Trong giáo pháp truyền thống, qua chú tâm
tỉnh giác trong hiện tại, ta tập trung quán sát tiến trình sinh và diệt
của mọi hiện tượng để phát triển tuệ giác về đặc tính vô thường của
chúng. Nhưng nếu chúng ta dừng lại ở tính vô thường của mọi vật, vì đó
không phải là cách để ta chấm dứt khổ đau. Tuệ giác về vô thường
(anicca), phải là cửa ngõ đưa đến tuệ giác về khổ (dukkha), đặc tính
bất chu toàn của mọi pháp hữu vi, và về tính vô ngã (anatta) của mọi
pháp. Với tuệ giác về ba đặc tính này, ta nhàm chán về mọi pháp hữu vi.
Do nhàm chán, xả ly phát sinh. Do xả ly, giải thoát phát sinh, đưa đến
thực chứng Niết-bàn tại đây và ngay bây giờ.
Cốt lõi của Phật
pháp không phải chỉ là luận thuyết cho rằng tháo gỡ được sự dính mắc sẽ
giúp ta sống một cuộc đời không có lo sợ và đau buồn. Thật ra, luận
thuyết đó chỉ là một phần về sự liên hệ của hai Diệu Đế đầu – Khổ Đế và
Tập Đế, nhưng chưa đủ sâu sắc. Phân tích thâm sâu hơn về Tứ Diệu Đế là
phải thấy rõ rằng dính mắc của năm uẩn là ý nghĩa chính của Khổ Đế;
phải thấy rõ rằng hoạn khổ bắt nguồn từ sự thèm khát khoái lạc của các
giác quan và sự thèm khát vào một sự hiện hữu tiếp nối; và phải thấy rõ
rằng hoạn khổ – đau khổ của dính mắc vào vòng sinh tử luân hồi – chỉ
chấm dứt khi nào sự thèm khát hoàn toàn tàn diệt. Nếu không thấy được
như thế, giảng dạy về Tứ Diệu Đế, trọng tâm của Phật Pháp, sẽ không đầy
đủ.
Dĩ nhiên, mỗi vị giáo thọ phải tự quyết định lúc nào là
thích hợp để trình bày đầy đủ giáo thuyết ấy. Đức Phật ngày xưa, chỉ
giảng dạy Tứ Diệu Đế khi nào Ngài biết thính chúng có khả năng để lĩnh
hội. Nhưng nếu ta muốn Phật Pháp được hưng thịnh, ít ra, ta phải chấp
nhận ý nghĩa chân chính của các lời dạy trên; cho dù chúng ta quyết
định rằng bây giờ cần phải chuẩn bị trước với những phương cách khác,
thích nghi hơn, của con đường đưa đến giải thoát.
- Hỏi: Chúng
tôi rất ngạc nhiên khi thấy trong kinh điển, Đức Phật không bao giờ đề
nghị người nào đi theo con đường Bồ-tát của Ngài để đắc quả vị Phật,
nhưng Ngài chỉ dạy về đạo quả A-la-hán như là mục đích chính. Theo Sư,
tại sao như thế?
- Tỳ Khưu Bodhi: Đây là câu hỏi mà tôi đã từng
suy tư rất nhiều, nhưng vẫn chưa tìm được câu trả lời tối hậu. Có nhiều
ý tưởng về quả vị Phật tìm thấy trong kinh điển nguyên thủy hướng đến
giáo thuyết ban sơ về con đường Bồ-tát trong thời Đức Phật còn tại thế.
Trong thời đó, có lẽ cũng có những người hứng khởi về tấm gương của
Ngài như là một Bậc Giải thoát Từ bi, và họ, thay vì nhắm đến quả vị
A-la-hán, ước nguyện đắc quả vị Chánh Đẳng Giác trong một tương lai nào
đó. Cũng có thể họ có đến gặp Đức Phật để xin Ngài hướng dẫn để đạt mục
tiêu ấy, và Ngài đã giảng dạy cho họ.
Tuy nhiên, trong trường
hợp đó, sẽ phát sinh câu hỏi sau đây: -“Tại sao trong các bài kinh,
chúng ta không tìm thấy các lời giảng rõ ràng về con đường tiến đến quả
vị Phật? Tại sao các lời giảng ấy chỉ được ghi trong kinh văn hậu tác
như là Chuyện Tiền thân (Jatakas), Sử tích (Apadanas), và các bộ kinh
Đại thừa phát triển về sau?”
Tôi không có câu trả lời chính xác
về câu hỏi khó khăn nhưng thích thú này, nhưng tôi có thể tạm thời đưa
ra hai giả thuyết trái ngược, mặc dù tôi cũng chưa vừa lòng với giả
thuyết nào. Đó là: (i) Trong thời kỳ nguyên khai, Đức Phật chỉ được xem
như là vị A-la-hán đầu tiên, vượt trội hơn các vị A-la-hán khác về tài
năng giảng dạy và uy tín cá nhân của Ngài. Phản biện: Nếu như thế, giả
thuyết này ngầm hiểu rằng hầu như tất cả những gì ghi lại trong các bài
kinh về các uy lực của Đức Phật, các tuệ giác cao quý và phẩm hạnh cao
thượng của Ngài đều được ghi thêm vào sau này, như thế là gián tiếp làm
suy giảm giá trị khả tín của các bài kinh. (ii) Các kỳ Kết tập Kinh
điển đầu tiên là do các vị tu sĩ có khuynh hướng đi theo con đường
A-la-hán tổ chức trùng tuyên; vì thế, các vị ấy đã gạt bỏ những đoạn
kinh không liên quan đến con đường của mình, kể cả các bài kinh về con
đường Bồ-tát. Phản biện: Giả thuyết nầy không có cơ sở, vì trong kinh
tạng nguyên thủy lưu truyền đến ngày nay, có bao gồm nhiều bài giảng
của Đức Phật cho hàng cư sĩ tại gia, các bà nội trợ cũng như các vua
quan, để chu toàn nhiệm vụ thường ngày của họ, mà không liên quan gì
đến sự hành trì của hàng tu sĩ; và như thế, nếu có các bài giảng khác
cho những ai ước nguyện theo con đường Bồ-tát thì ắt hẳn chúng cũng
được trùng tuyên.
Cho nên, hai giả thuyết trên đều không đứng
vững. Câu trả lời dễ nhất mà tôi nghĩ ra – mặc dù không phải là lời
giải đáp mà tôi hoàn toàn ưng ý – qua đức hạnh của Ngài, Đức Phật là
một tấm gương cho những người muốn theo đường Bồ-tát, nhưng bởi vì giáo
pháp tối hậu của Ngài là đưa đến giải thoát, Ngài không thể dạy những
khái niệm tranh đua nhau để tiến đến mục tiêu cuối cùng. Ở đây, lời
giảng của Ngài là phải đề cao những vị đã thực chứng được mục tiêu tối
hậu, đó là các vị A-la-hán, và mô tả con đường đưa đến quả vị đó. Dù
trong bất cứ trường hợp nào, con đường A-la-hán như đã mô tả trong kinh
tạng nguyên thủy vẫn là nền tảng cho con đường Bồ-tát phát triển về sau
trong thời kỳ Phật giáo Bộ phái và Phật giáo Đại thừa; cho nên, con
đường sau không thể có được nếu không có con đường trước.
- Hỏi:
Vài người nhận định rằng các bản chú giải, nhất là các chú giải của
Luận sư Phật Âm (Buddhaghosa), trình bày một quan kiến khác với các bài
kinh – như là một sự diễn dịch hạn hẹp hơn về sự hành trì Pháp. Sư nghĩ
thế nào về sự thông hiểu căn bản về pháp nghĩa của các bài kinh, so với
các giải thích trong chú giải? Chúng giống nhau hay khác nhau như thế
nào?
- Tỳ Khưu Bodhi: Sự liên hệ giữa các bản kinh và các bản
chú giải cực kỳ phức tạp và đây là một điều nguy hiểm nếu ta có những
phê phán tổng quát cho sự liên hệ đó. Các chú giải thật ra không phải
là các tác phẩm nguyên gốc của ngài Phật Âm, mà là các phiên bản biên
tập của các chú giải cổ xưa đã được gìn giữ ở Sri Lanka. Nguồn gốc lịch
sử của chúng không rõ ràng, nhưng chắc là bắt nguồn từ chính các bản
kinh; nghĩa là có những bản kinh mang ý nghĩa chú giải cho các bản kinh
khác (thí dụ: Trung Bộ 141, Tương Ưng 12:31; Tương Ưng 22:3,4). Trong
thời kỳ ban đầu của sự truyền khẩu, các vị trưởng lão Phật giáo ắt hẳn
có triển khai một tập hợp chú giải đi kèm với bản văn gốc, và ắt hẳn
các chú giải này đã tích tụ qua nhiều thế hệ, như thể trái banh tuyết
lăn tròn và lớn rộng ra với nhiều lớp tuyết dính vào.
Các cổ bản
chú giải Sri Lanka – không còn hiện hữu – mà ngài Phật Âm dựa vào đó để
biên soạn, có lẽ là một kho tàng các tư liệu tích lũy qua nhiều thế kỷ,
và có lẽ bắt nguồn từ các vị đại đệ tử của Đức Phật. Ngay cả trong các
bản chú giải mà chúng ta thừa hưởng hôm nay, có những tầng lớp dường
như đã hiện hữu trước cả thời kỳ phân chia Tăng đoàn thành các bộ phái,
vì chúng có những tư liệu dùng chung cho các bản luận giải của nhiều
tông phái khác nhau. Những tư liệu mới hơn thì bắt nguồn các vị thầy tổ
của tông phái Theravada (Trưởng lão bộ) sau khi tông phái nầy thành
hình, và vì thế, phản ánh những phương cách diễn dịch riêng biệt. Ngoài
ra, còn có một khuynh hướng trao đổi tư liệu diễn giải giữa các tông
phái; tuy nhiên, nhờ tính bảo thủ, các vị tu sĩ Theravada đã nghiêm
ngặt tách rời các tư liệu mới nầy ra khỏi phần kinh văn ghi lời Đức
Phật giảng.
Để hiểu tác động của các chú giải ở cấp độ giáo
thuyết, chúng ta nên nhớ rằng các bài kinh thật ra không phải chỉ là
kinh văn của tông phái Theravada. Đây là sự truyền tải của các tu sĩ
Theravada về một hạng kinh điển chung cho các tông phái Phật giáo trong
thời kỳ nguyên khai, mỗi tông phái ắt hẳn có phương cách diễn dịch
riêng. Những bản chú giải mà chúng ta có được từ Luận sư Phật Âm (và
nhiều vị khác) tiếp tục nhiệm vụ diễn giải các kinh điển này qua quan
kiến của tông phái Theravada. Vì thế, quan kiến của các vị ấy dĩ nhiên
là phải hạn hẹp hơn là các kinh văn vì cần phải có tính đặc thù: họ
nhìn thế giới tâm ý của các bản kinh qua lăng kính của các phương pháp
bình luận thánh thư do các vị thầy tổ Theravada triển khai, dùng những
phương pháp nầy để giải thích chi tiết về các bài giảng của Đức Phật.
Nếu
ta so sánh ví dụ các bản kinh như là một vùng lãnh thổ đất đai rộng
lớn, quan sát từ trên cao để thấy các điểm chính của địa hình nhưng chi
tiết lại rất sơ sài; lúc đó, các chú giải có thể ví như một báo cáo chi
tiết về phương hướng, vị trí của lãnh thổ đó. Câu hỏi ở đây là: Các chú
giải này chỉ đi đến để mô tả phong cảnh với nhiều chi tiết, hay chúng
mang theo các toán thợ xây dựng và các dự án xây nhà, xây thương xá và
xa lộ trên vùng đất hoang sơ? Câu trả lời, theo tôi, là kết hợp cả hai.
Tóm
lại, có hai thái độ cực đoan khi chúng ta đánh giá các chú giải. Một
cực đoan, thường được các nhà Theravada chính thống chấp nhận, là xem
chúng có giá trị hầu như ngang hàng với các bản kinh. Một cực đoan khác
là hoàn toàn gạt bỏ chúng, và cho rằng chúng đại diện cho sự diễn dịch
khác với Pháp. Tôi nghĩ rằng thái độ cẩn thận trung dung là chúng ta
tham khảo các bản chú giải và sử dụng chúng, nhưng không chấp dính vào
chúng. Các diễn giải thường giúp làm sáng tỏ kinh văn, nhưng ta cũng
nên ghi nhận rằng chúng chỉ đại diện cho một sự hệ thống hóa đặc thù
của các bài kinh giảng nguyên sơ. Đôi khi, các bài kinh nầy không cần
có thêm các chú giải, và có vài điểm, các chú giải có vẻ không tương
thích với bài kinh giảng.
- Hỏi: Rất nhiều bài kinh khi kết thúc
có ghi rằng những người khi nghe các lời dạy của Đức Phật, thông hiểu,
rất hoan hỷ, và đôi khi được giác ngộ chỉ nhờ nghe và hiểu. Điều này
quả thật rất kỳ lạ, rất khó suy ngẫm!
- Tỳ Khưu Bodhi: Chính các
bản kinh cũng không giải thích rõ, chỉ nói rằng trong khi Đức Phật
giảng dạy, tâm của người nghe trở nên “sẵn sàng, tiếp nhận, không còn
những chướng ngại, hoan hỷ và tự tin.” Nhưng thông thường, kinh cũng
ghi rằng, Đức Phật giảng bài kinh đặc biệt cho một người hay một nhóm
người nào đó trong thính chúng, cho nên có thể Đức Phật đã biết trước
người ấy hay nhóm người ấy có khả năng thấu đạt chân lý. Theo tôi, sự
nhanh nhẹn thấu đạt Chân Pháp của họ là do ba yếu tố.
Thứ
nhất, họ đã tích lũy được đầy đủ các hạnh ba-la-mật (paramis), hay các
phẩm hạnh cao quý, trong nhiều kiếp trước. Tôi tin hoàn toàn vào nguyên
lý tái sinh, và tôi tin rằng sự giác ngộ là kết quả của công phu tu tập
qua nhiều kiếp sống, kiện toàn những phẩm hạnh như bố thí, trì giới,
nhẫn nại, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, từ bi, xả ly, cương quyết,
v.v. Vì thế, mặc dù những vị này có thể chưa hành trì Chánh Pháp trong
đời này trước họ gặp Đức Phật, nhưng họ đã chu toàn các hạnh ba-la-mật
với nhiều vị Phật trong quá khứ.
Thứ hai là một sự khát khao sâu
xa trong tiềm thức, mong đạt được sự thanh tịnh và thấu đạt chân lý. Sự
khát khao này có thể không hiển lộ trên bề mặt của tâm – có thể họ đang
sống như các thương gia bận rộn, các bà nội trợ khiêm tốn, những người
đầy tớ bình dị – nhưng vào những giây phút tĩnh lặng, một sự thúc đẩy
nào đó hướng về chân lý, về sự toàn thiện và hoàn mỹ tinh thần đã
choáng ngợp tâm các vị ấy, tạo nên một cảm giác bất an sâu đậm trong
lòng, một nỗi bức rức chỉ được dập tắt khi họ gặp Đức Phật và nghe Ngài
giảng dạy.
Thứ ba, trong vài trường hợp, có thể các vị ấy đã
trực diện với một khổ đau khắc nghiệt, thô tháo hay vi tế, và khổ đau
ấy đã xé toang được tấm màn vô minh trước mắt và thúc đẩy họ đi tìm một
con đường giải thoát tối hậu.
Khi hai hoặc ba yếu tố này được
trọn vẹn, các vị ấy như những đóa hoa sen trên mặt hồ, chờ mặt trời mọc
để bừng nở. Sự xuất hiện của Đức Phật là mặt trời mọc lên, và Giáo Pháp
của Ngài là những tia nắng sáng chói khai mở các đóa hoa sen trong tâm
thức để tiếp nhận chân lý tối hậu.
Bình Anson dịch
(Perth, Australia, tháng 7-2006)
- Tham khảo: “Tôi Nghe Như Vầy…”, bản dịch của Nguyễn Duy Nhiên.