Asia-51: Nhạc Vàng 30 Năm, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến
Theo Việt Báo - Việt Hải - 01-08-2006
Hình ảnh từ DVD.
Sau sự thành công vượt bực của bộ DVD Asia-50 "Vinh Danh Nhật Trường
Trần Thiện Thanh", Trung Tâm Asia thừa thắng tiến thêm bước mới nữa là
cho ra Asia-51 "Nhạc Vàng 30 Năm, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến". Mục tiêu
là trình bày những bài ca khúc hát sau chiến tranh, khi mà Cộng Sản cố
tình thủ tiêu dòng nhạc Vàng trong quốc nội. Nhạc Vàng lại ngoi lên
sung mãn hơn bao giờ. Mà "Nhạc Vàng" là gì cơ chứ? Theo định nghĩa của
những tay văn hóa bưng biền khi về thành trong men say chiến thắng
phạng ngay là nhạc của thời Việt Nam Cộng Hòa có nhuốm chất "lãng mạn",
có hơi hướm yêu thương thiên bẩm thì bị kết án là nhạc ủy mị, nhạc đồi
trụy, đấy là Nhạc Vàng.
Với
cái nhìn của tôi, như cái tên tiền định theo nghĩa đen, tức nghĩa rõ
ràng nhạc Vàng là nhạc cao quý nhất vì là "Golden music" thì nó sẽ
chẳng chết. Theo sách "Văn Hoá, Văn Nghệ... Nam Việt Nam 1954-1975" của
Trần Trọng Đăng Đàn, thì báo cáo của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại
kỳ họp thứ nhất của Quốc Hội, ngày 26 tháng 6, năm 1976 là: “Việc xây
dựng nền Văn Hoá mới đuợc tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch
những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ Văn Hoá nô dịch,
lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động...” , nên trong khoảng 20 năm của
VNCH tất cả văn hóa phẩm "nô dịch" và "đồi trụy" trong đó có nhạc Vàng
cần được tiêu hủy.
Thế là người ta cho thu gom các băng
cassett, dĩa hát, các sách nhạc,... đem đốt hết. Lý do tôi phải mất dài
dòng văn tự chỉ vì Asia-51 có chủ đích ôn lại cái quá khứ 30 năm, dài
hơn số tuổi của VNCH mà những dòng nhạc Vàng tình ca, vốn mang bản chất
con người đã phát triển mạnh tại hải ngoại và ngay cả trong quốc nội
khi chính sách bế quan tỏa cảng đã thất bại. Khi bị Cộng Sản kiềm kẹp,
người ta cất dấu nghe lén hay dấu kín trong tim. Đó là tính "phản động"
và "nguy hiểm" của hệ quả nhạc Vàng.
*
Buổi thu hình cho
Asia-51 đã được thực hiện tại thành phố Dallas Fortworth, tiểu bang
Texas. Sau đó Trung Tâm Asia (TT Asia) có nhã ý mời một số văn nghệ sĩ,
ký giả đến phòng họp Asia xem buổi chiếu Preview, nhờ vậy mà tôi đã ghi
nhận những nét hay của DVD mà tôi còn nhớ cho bài viết này.
Những
lời mở đầu của MC Nam Lộc giới thiệu mục tiêu của chủ đề (theme) show
hát này: "Thay mặt TTAsia và toàn thể nghệ sĩ, xin trân trọng kính chào
quý vị. Chúng tôi cũng rất hân hạnh lần đầu tiên được thực hiện chương
trình đại nhạc hội thu hình tại Dallas, Texas, một thành phố với cộng
đồng người Việt thật sinh động và khuôn mẫu, luôn luôn hỗ trợ các sinh
hoạt văn hóa, nghệ thuật dân tộc. Trong niềm hân hoan đó chúng tôi kính
mời quý vị cùng bước vào chương trình: "Nhạc Vàng 30 Năm - Tình Khúc
Sau Cuộc Chiến"”.
Anh nhắc lại là ở miền Nam Việt Nam trước năm
1975 thì danh từ Nhạc Vàng được dùng để nói về những ca khúc có nhiều
người yêu thích nhất, nó cũng tương tự như chữ Golden Hits ở các quốc
gia Âu Mỹ vậy. Tuy nhiên, sau mùa Xuân 1975 thì tình ca ở Việt Nam xem
như đã khuất dạng hoặc bị cấm hát, và danh từ Nhạc Vàng được người
trong nước sử dụng để nói về những tình khúc dù sáng tác trước hay sau
1975 mà họ vẫn lén lút lắng nghe. Đồng thời cũng để phân biệt với nhạc
đỏ, là những ca khúc được viết ra để ca ngợi chế độ hoặc cá nhân trong
hàng ngũ lãnh đạo của đảng hay nhà nước... Trong khi đó thì những tình
khúc được sáng tác tại hải ngoại cũng không những là nguồn rung động
thuần túy của hạnh phúc tâm tư lứa đôi, mà còn được san sẻ cho tình yêu
quê hương đất nước, cho tha nhân, cho gia đình và cho các chiến hữu.
Nam
Lộc và nhạc sĩ Trần Quảng Nam giới thiệu một liên khúc có tên "Tình Ca
Sau Cuộc Chiến" mở màn gồm 3 ca sĩ Lâm Nhật Tiến, Ngọc Hạ và Đặng Thế
Luân trình bày, gồm các nhạc phẩm: Em Còn Nhớ Mùa Xuân của Ngô Thụy
Miên, Người Di Tản Buồn của Nam Lộc, Lời Kinh Đêm của Việt Dzũng, Mưa
Sài Gòn Còn Buồn Không Anh của Nguyệt Ánh và Mười Năm Tình Cũ của Trần
Quảng Nam. Phải nói là top hit Mười Năm Tình Cũ đã đánh dấu cho một
giai đoạn chuyển đổi lớn, đã khuyến khích dòng nhạc vàng trở lại tại
Việt Nam.
Người ta nghe và hát bài này công khai ở nhiều tụ
điểm, cũng như ở khắp nơi có người Việt cư ngụ trên thế giới. Cùng hiện
diện với Trần Quảng Nam còn có phu nhân của anh, tức nữ nhạc sĩ Tú
Minh, tác giả của một top hit nhạc vàng "Hãy Cứ Là Tình Nhân". Kế đến
Trần Quảng Nam và Nam Lộc giới thiệu một liên khúc gồm 2 bài Rừng Lá
Thay Chưa, nhạc Huỳnh Anh, phổ thơ Hoàng Ngọc Ẩn. Và bài Xót Xa, sáng
tác của Lam Phương qua hai tiế[ng hát quen thuộc Phương Dung và Tuấn Vũ.
Tôi
nhớ trong bài viết của tôi về nhạc sĩ Ngô Thụy Miên với bài hát Em Còn
Nhớ Mùa Xuân, thì sau 1975 anh bị kẹt lại tại Sài Gòn, và người yêu của
anh là chị Đoàn Thanh Vân đã di tản ra xứ ngoài, những phút giây nhung
nhớ người yêu đã mang anh về dĩ vãng của mùa xuân yêu đương, dĩ vãng
không nhạt phai cho tâm tư lắng đọng trong trí tưởng qua bài tình ca
đầy lãng mạn “Em còn nhớ mùa xuân” này, trong một bài anh viết về mùa
xuân yêu đương và ký ức cũ của Sài Gòn từ những nhà hàng hò hẹn sang
phòng trà, những hộp đêm đến quán cơm Bà Cả Đọi như sau:
“Rồi
đến là những mùa Xuân của tuổi trẻ, của những háo hức, đợi chờ, của
những môi hôn vội vã, vòng tay quấn quít trao nhau trên đường phố thân
thương, quán hàng quen thuộc. Em nhớ không, La Pagode, Givral của những
sáng hẹn hò, Hoàng Gia, Pôle Nord của những chiều đưa đón, dạo phố tết
Nguyễn Huệ, Lê Lợi tấp nập người qua, và những tối ghé quán Bà Cả Đọi,
rồi Đêm Mầu Hồng. Cái không khí ấm áp tràn đầy tình thương của quê
hương đó, làm sao có thể ngờ được chỉ trong vài tháng đã chỉ còn để lại
một mùa Xuân, một mùa Xuân cuối cùng của những đổi thay, những mất mát,
tan tác cho cả một thế hệ trẻ chúng ta..."
“Em có bao giờ còn nhớ mùa Xuân
Nhớ tháng năm xưa của tuổi dại khờ
Nhớ tiếng dương cầm giọng hát trẻ thơ
Có thấy bơ vơ ngày tháng đợi chờ
Nơi ấy bây giờ còn có mùa Xuân
Có dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gần
Có mắt nai vàng ngời sáng tình xanh
Em có bao giờ thấu cho lòng anh..."
Rồi
một video clip thật cảm động do nhóm của Trịnh Hội thu hình lời tâm sự
của thân mẫu của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang. Trịnh Hội thuật lại niềm
đau của mẹ anh Nguyễn Trung Cang là nỗi thống khổ khi bà phải nói lại
về những ngày cuối đời của anh Cang. Cái đau của một người mẹ không có
tiền để mua cho con một ống thuốc chữa trị khi con bà bị lên cơn suyễn.
Bà vẫn khóc vì sự ra đi oan nghiệt của anh vì không khả năng chạy thuốc
để cứu anh, dù là sự kiện đã qua hơn 20 năm rồi. Nhạc phẩm Anh Vẫn Biết
của cố nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang, qua phần trình diễn của 7 tiếng hát
của Asia Four và Khải Tuấn, Minh Thông và Châu Tuấn.
Một liên
khúc gồm 2 bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ từ thơ của hai
thi sĩ nổi danh là Thái Can và Nguyễn Tất Nhiên. Việt Dzũng kể về hai
người thi sĩ này. Thái Can là một thi sĩ thời tiền chiến, sinh năm 1910
tại Hà Tĩnh, Bắc phần. Năm 1941, ông học chữ Hán và làm thơ cổ, nên có
nhiều người liệt thi sĩ Thái Can vào trường phái thơ cổ. Thế nhưng
trong thơ của ông có rất nhiều nét mới, được đăng trên các báo thời đó
và được nhiều người yêu mến. Sau này ông vào Nam, và tốt nghiệp Bác sĩ,
mở phòng mạch tại Đà Nẵng. Tập thơ của ông được nhiều người biết đến là
tập Những Nét Đan Thanh, và bài thơ nhiều người thuộc nhất là bài Anh
Biết Em Đi, mà nhạc sĩ Anh Bằng đã phổ thành ca khúc Anh biết em đi
chẳng trở về. Riêng về người thi sĩ đa tài nhưng lại vắn số Nguyễn Tất
Nhiên, thì ông là một thi sĩ nổi tiếng khi còn là một sinh viên trẻ,
với những bài thơ viết cho những cuộc tình của tuổi mộng mơ, nhưng mang
những nét phá cách ngỗ ngáo của tuổi trẻ. Những bài thơ của ông được
nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc và ngay lập tức được giới trẻ đặc
biệt yêu mến, những bài hát như Em hiền như Ma Soeur, Thà như giọt mưa,
Vì tôi là linh mục,… đã đưa tên tuổi ông lên đến đỉnh cao danh vọng.
Ông cùng với gia đình sang Hoa Kỳ tỵ nạn, nhưng lại lâm vào cảnh u uất
và qua đời rất tội nghiệp một mình lẻ loi trong một ngôi chùa ở miền
nam California, đúng như lời thơ ông đã viết: Người từ trăm năm về như
dao nhọn, ta chết âm thầm máu chưa kịp đổ... Về nhạc sĩ Anh Bằng thì
ông là một nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất từ trong nước ra đến hải ngoại,
ông viết đủ mọi thể loại, từ những bài tình ca quê hương, cho đến những
ca khúc đấu tranh, và đặc biệt là sau này ông chú trọng nhiều đến việc
phổ những bài thơ tuyệt tác thành những ca khúc.
Khán giả đã
được thưởng thức những bài hát như Chuyện Hoa Sim phổ thơ Hữu Loan,
Chuyện Giàn Thiên Lý phổ thơ Yên Thao, Khúc Thụy Du phổ thơ Du Tử Lê,…
, và sau đó một liên khúc gồm hai nhạc phẩm Trúc Đào, và Anh Biết Em Đi
Chẳng Trở Về, qua phần trình bày của nam ca sĩ Vũ Khanh.
Một
tiết mục khá lý thú trong Asia-51 là đề cập đến cố ca sĩ tài hoa Ngọc
Lan và TT Mây Productions của anh Trần Thăng. Ngọc Lan là giọng hát
được nhiều người thương mến, lưu luyến, để rồi luyến tiếc. Để vinh danh
và làm sống lại hình ảnh và tiếng hát Ngọc Lan thì Asia và Mây
Productions dự định phối hợp cho ra một DVD đặc biệt về Ngọc Lan sau
này. MC Nam Lộc và anh Giám đốc Mây Productions cho biết như vậy. Mây
Productions hiện tại thủ đắc bản quyền nhiều tác phẩm về ca sĩ Ngọc Lan
nhất. Người ta vẫn nhớ ca khúc Mưa Trên Biển Vắng, do nhạc sĩ Nhật Ngân
soạn lời Việt trong lần xuất hiện đầu tiên trên sân khấu Hollywood
Night, trong show Asia-51 này được đồng diễn rất độc đáo do kỹ thuật
ráp nối giữa hai tiếng hát Ngọc Lan và Lâm Thúy Vân, người nữ ca sĩ có
giọng ca xuất sắc đã thành danh ngay từ lần đầu tiên xuất hiện trong
chương trình Asia Đêm Saigon.
Ở trong nước hiện nay đã có phong
trào phản kháng của các văn nghệ sĩ, không phải là mới đây mà là từ cả
mấy chục năm về trước từ thời Nhân Văn Giai Phẩm, rồi đến phong trào
Trăm Hoa Đua Nở, trong văn chương và cả trong âm nhạc... Những gương
mặt nổi bật như Phan Khôi, Phùng Cung, Nguyễn Hữu Đang, Văn Cao, Hữu
Loan, Nguyễn Sáng, Sĩ Ngọc, Chu Ngọc, Hoàng Tích Linh, Đặng Đình Hưng,
Phùng Quán, Trần Dần,... và Hoàng Cầm. Nhà văn Phan Nhật Nam và Việt
Dzũng đề cập đến đề tài phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, phong trào Trăm
Hoa Đua Nở sau những năm 1954 khi Cộng Sản lên nắm quyền tại miền bắc.
Nhà
văn Phan Nhật Nam kể lại: "Phong trào do Nhân Văn-Giai Phẩm đã khởi
dựng ở Miền Bắc năm 1956. Vụ án văn hóa chống chế độ độc tài đảng trị
Hà Nội lớn nhất cách đây đúng nửa thế kỷ mà hiện nay đang tiếp diễn
cùng khắp cả nước dưới nhiều hình thức, với tinh thần quyết liệt hơn,
với nhiều thành phần tham dự hơn. Vì xã hội miền Bắc vẫn giữ nguyên
tình trạng bất công, áp bức dưới một chế độ còn tệ hại hơn cả tình thế
dưới chế độ thực dân của người Pháp. Tình hình tương tự hiện nay của
Việt Nam sau 30 tháng 4, 1975. Sau 1954 chỉ một nửa nước là nạn nhân;
sau 1975, cả nước lâm cảnh cùng khốn, đoạ đày. Những tạp chí, sách, báo
của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm viết năm 1956 đã gây nên tai họa cho
bản thân những người cầm bút trong suốt mấy mươi năm, là một biểu hiện
của ngọn lửa bất khuất của tầng lớp văn nghệ sĩ Việt Nam nói chung và
người Miền Bắc nói riêng. Riêng nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đã khởi động,
và lập nên thành tích đối kháng lừng lẫy với những kiện tướng Phan
Khôi, Hữu Loan, và Hoàng Cầm".
Theo tôi, khi nói về thơ quê
hương của thi sĩ Hoàng Cầm, người ta hẳn còn nhớ đến những bài thơ
tuyệt diệu, đầy tình tự quê hương của ông như Lá Diêu Bông, Bên Kia
Sông Đuống, Quả Vườn Ổi, Cây Tam Cúc, Chùa Hương, Về Với Ta,...
Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
Đi mãi tìm sim chẳng chín
Ta lên đồi thông nằm miếu Hai Cô
Gặm cỏ mưa phùn
(Về với ta)
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Chị gọi đôi cây
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa chị đến quê em.
Trong ký ức miên man của thơ Hoàng Cầm khi ta càng đi sâu vào sự mô tả
bằng chữ nghĩa, thì ta càng gần gủi với những miền quê xa xăm của quê
hương hơn, ví dụ ông nói về Kinh Bắc, rồi những cánh chuồn chuồn khiêng
nắng, đám cưới chuột tưng bừng rộn rã, các buổi hội hè thi ăn mía thổi
cơm, thi đánh đu, hát đúm, Hội Gióng, Hội Vân Hà đến trai đời nhà Trần,
gái Hậu Lê, Mưa Thuận Thành, và còn nhiều lắm những ký ức bừng dậy
trong mộng tưởng. Thơ ông huyền diệu, ẩn chứa nét đẹp đẽ trong những
làn sóng nước lăn tăn nô đùa từ ánh mắt nhớ về sông Thương, sông Cầu
hay sông Đuống.
Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc
Chiều xưa giẻ quạt voi lồng
Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc
Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông.
Thơ
Hoàng Cầm trải dài theo cuộc đời đầy đặc những tác phẩm của ông như:
Hận Nam Quan (kịch thơ, 1944, 1942), Kiều Loan (kịch thơ, 1945), 99
tình khúc (tập thơ tình, 1955); Những niềm tin (thơ dịch, 1965); Men đá
vàng (truyện thơ, 1989); Tương lai (kịch thơ, 1995); Bên kia sông Đuống
(tập thơ, 1993); Về Kinh Bắc (tập thơ, 1994);...và rồi những tác phẩm
văn như Hận ngày xanh (phóng tác theo Lamartine, 1940); Bông sen trắng
(phóng tác theo Andersen, 1940); Thoi mộng (truyện tiểu thuyết, 1941),
Cây đèn thần (phóng tác theo Nghìn lẻ một đêm, 1941); và Tỉnh giấc mơ
vua (phóng tác theo Nghìn lẻ một đêm, 1942).
Lược qua về tiểu sử
thì thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2
năm 1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã
Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Xuất thân trong gia đình nhà
nho lâu đời và cụ thân sinh của ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm
thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương:
Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học và trung học đều ở
Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, sau đó ông ra Hà Nội học trường
Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn,
viết lách dịch sách. Vì có kiến thức về dược thảo thuốc bắc, ông lấy
bút danh là tên một vị thuốc rất đắng là Hoàng Cầm. Về khía cạnh văn
chương như đã nói ở phần trên, ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam
Quan, bài thơ Bên Kia Sông Đuống, nhất là vở kịch thơ Kiều Loan và bài
thơ Lá Diêu Bông.
MC Trịnh Hội giới thiệu một đoạn video clip
đặc biệt vừa được thực hiện với tác giả của nhạc phẩm Sao Em Nở Vội Lấy
Chồng, và tác giả của bài thơ Lá Diêu Bông. Trịnh Hội đến thăm thi sĩ
Hoàng Cầm, khi đề cập về tình hình đất nước, ông có những suy nghĩ rất
lạc quan và tin tưởng mãnh liệt là xứ sở Việt Nam sẽ khá hơn trong
tương lai nếu tất cả chúng ta đều mạnh dạn làm điều gì ích lợi cho dân
tộc thì cứ làm. Tôi nghe như ngụ ý rằng hãy đứng lên với người trong
hay ngoài xứ. Sau video clip là đến bài thơ bất hủ Lá Diêu Bông của thi
sĩ Hoàng Cầm, qua dòng nhạc của Trần Tiến, là nhạc phẩm Sao Em Nỡ Vội
Lấy Chồng qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Tuyền trong tiết mục về nhà
thơ Hoàng Cầm.
Một trong những nhạc sĩ góp phần đắc lực vào
phong trào tạo ra nhạc Vàng từ những năm đầu 80's là Đức Huy. Nhạc sĩ
Đức Huy sáng tác nhiều bài tình ca nổi tiếng như: Đường Xa Ướt Mưa, Để
Quên Con Tim, Người Tình Trăm Năm, Bay Đi Cánh Chim Biển, Mùa Thu Ru
Em, Yêu Em Dài Lâu, Và Tôi Cũng Yêu Em, Và Con Tim Đã Vui Trở Lại,...
và Đừng Xa Em Đêm Nay. Năm 1982 anh cho ra một băng cassette mang tựa
đề Yêu Em Dài Lâu. Vào những năm 94, 95 sự xuất hiện của nhạc phẩm Đừng
Xa Em Đêm Nay với giọng hát trữ tình của Thảo My đã trở thành một thứ
âm thanh quen thuộc, và được yêu chuộng vì tính chất lãng mạn của nhạc
phẩm, cũng như chất giọng truyền cảm đó đã làm cho bài hát dễ thăng
hoa. Có lẽ cũng vì dòng nhạc tình ca của Đức Huy quá đặc biệt nên đã
được nồng nhiệt đón nhận không những chỉ tại hải ngoại mà còn lan rộng
rãi cả ở trong nước nữa. Khi lên các website trong xứ chấm điểm thì
nhiều bài ca của Đức Huy được xếp hạng cao, mà trong đó có Đừng Xa Em
Đêm Nay. Nhưng sau sự thành công nổi bật đó lại báo hiệu một định mệnh
và duyên số đối với người hát cũng người sáng tác.
Theo tạp chí
People có bài viết về một cô bé Việt Nam. Chuyện ban đầu thương tâm,
nhưng đọan cuối cho thấy nỗi hạnh phúc của tình phụ tử. Vào chiều
29/4/1975, cô bé 7 tuổi Phương Thảo sống tại thị xã Sa Đéc nhỏ bé của
mình lại nhốn nháo một cách khác thường trong hoang mang. Sáng ngày 30
khi thức dậy, cô nghe thấy hai chữ "giải phóng". Hai chữ ấy đã mang đến
những thay đổi lớn lao trong cuộc đời cô gái Việt lai Mỹ, thuở nhỏ cô
đơn, lạc lỏng giữa chúng bạn với cái tên "Mỹ lai". Ngày 30/4/1975 thì
cô bé lại được ông bà dẫn đi trốn bên nhà dì, đợi khi tình hình ổn định
mới quay về. Những cô nhỏ bạn hồi ấy đã trốn ba mẹ đi coi tụi Việt
cộng, về kể lại: "Thấy Việt cộng đội nón tai bèo là trùm mền".
Vượt
qua tất cả những năm tháng khó khăn gánh vác gia đình cùng mẹ và người
em khác cha, cô gái ấy đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng, Phương Thảo.
Và nhờ giọng hát nổi tiếng này, Phương Thảo tìm lại được người cha ở
bên kia bờ đại dương, sau 28 năm xa cách. Ngoài ra, Phương Thảo cũng đã
từng xuất hiện trên chương trình rất nổi tiếng 20/20 với Barbara
Walters của đài ABC qua câu chuyện "Tìm Cha" (Looking For Daddy) mà
Asia-51 cho trình chiếu video clip.
Tôi cũng xem trong một bài báo phỏng vấn, Phương Thảo tâm sự về những ngày xa xưa:
"Thuở
nhỏ, Thảo đã không sống gần mẹ, chỉ sống với ông bà, đã phải luôn luôn
quay đi khi trông thấy những đứa bé như mình được ba mẹ dắt đi trên
đường, bị chọc hoài là "Mỹ lai". Có lẽ vì thế mà Thảo luôn sống thu
mình lại trong một cảm giác cô đơn, đi ra đường thì lưạ những chổ ít
người mà đi..."
Phương Thảo kể tiếp về người cha Mỹ như sau:
"Năm
1967 ông từng làm cố vấn ở huyện Hoà Long, tỉnh Sa Đéc, đến năm 1968 về
nước, lập gia đình nhưng lại không có con. Cuộc tìm kiếm thực ra ban
đầu rất mong manh. Hồi đó là năm 1990, ông Thomas Bass, một nhà báo Mỹ
đang thực hiện đề tài về những đứa con lai tại Việt Nam, qua giới thiệu
có tìm gặp Thảo. Ông đã lục tìm hồ sơ ở khắp 20 tiểu bang, đến năm
1993, có một cú điện thoại báo cho Thảo biết đã tìm thấy ba. Điều đầu
tiên ba viết trong lá thư gửi về là ông bị sốc lớn khi biết mình có một
đứa con và lại là đứa con ở Việt Nam. Ông kể những ý thích của mình:
yêu súc vật, yêu thiên nhiên, tính hài hước..., tất cả đều giống Thảo.
Chỉ có điều ông ngạc nhiên là bên nhà ông không ai có giọng hát cả. Năm
1996 về lại Việt Nam, một trong những từ tiếng Việt đầu tiên ông nói là
"nước mắm", ông về thăm lại Sa Đéc và kinh ngạc về sự thay đổi ở đây.
Ông không chịu ở khách sạn mà muốn về nhà ở cùng vợ chồng Thảo. Niềm
vui nhất của Thảo khi tìm thấy ba là để bé Na Na cũng có ông bà ngoại
như những đứa trẻ khác, không như Thảo ngày xưa."
Sau sự hạnh phúc tìm lại người cha, Phương Thảo đề cập đến hạnh phúc hôn nhân của mình:
"Thảo
hát từ khi còn nhỏ. Trong những lúc cô độc nhất, vất vả nhất, đấy chính
là chỗ dưạ tinh thần lớn nhất và gần như duy nhất. Nhờ ca hát mà Thảo
tìm được cha mình, tìm được tình yêu và hạnh phúc ngày hôm nay... Năm
1989, anh Ngọc Lễ gặp Thảo khi ấy, anh là trưởng ban nhạc tại phòng trà
Cửu Long. "Ai cho em tình yêu" là bài hát đầu tiên anh Lễ viết cho Thảo
dự thi Giọng hát hay Thành phố và đoạt giải Ba . Nhưng mỗi người lúc ấy
đều đã và sắp có một cuộc sống gia đình riêng. Và rồi tất cả đều tan
vỡ. Cuộc hôn nhân đầu tiên khiến Thảo sa sút tinh thần cực độ, còn sự
nghiệp thì dậm chân tại chỗ. Năm 1993, hai người gặp lại nhau và ngay
lập tức đã nghĩ rằng không thể xa rời. Tình yêu đã khiến chúng tôi nhìn
thấy con đường đi riêng cho mình, anh Lễ thì cố gắng viết hay cho người
yêu hát, còn Thảo cũng không nôn nóng, phải tập cho thành công mới
thôi... Trải qua những đổ vỡ, Thảo càng qúy những gì mình đang có. Từ
nhỏ, Thảo đã mơ một cuộc sống gia đình có cha, mẹ, con cái và cả hai
đều cố gắng cho con mình có những gì mình không có. Chúng tôi là hai
người giống nhau, đều yêu cuộc sống gia đình và tự làm các việc trong
gia đình."
Đó là câu chuyện về người con gái mang hai dòng máu,
may mắn sau cùng tìm được cha mình và được gặp người phối ngẫu, cũng là
đồng nghiệp chửng chạc về quan niệm hôn nhân. Điểm đặc biệt là Ngọc Lễ
sáng tác nhạc và Phương Thảo ca nhạc Ngọc Lễ. Asia-51 trình chiếu bài
nhạc Xe Đạp của Ngọc Lễ, qua ba giọng ca Phương Thảo, Ngọc Lễ và Thùy
Hương.
Nói về thi sĩ làm thơ tặng vợ mình, chúng ta không thể
quên bài thơ bất tử của nhà thơ Vị Xuyên Trần Tế Xương (1870-1907), qua
bài Thương Vợ:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, âu đành phận
Năm nắng mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!
Có chồng hờ hững cũng như không!
Thi
sĩ Tú Xương ví von cái công lao nhọc nhằn của vợ mình như thân cò ốm
yếu gồng gánh cả trách nhiệm lo cho gia đình. Từ đó văn chương Việt Nam
dùng hình ảnh con cò tiêu biểu cho người đàn bà Việt Nam, vốn thủy
chung và lo lắng gánh vác việc nhà. Sau biến cố tháng 4, 1975 người ta
mục kích hàng triệu con cò thăm nuôi tù nhân Việt Nam Cộng Hòa, bị giam
hãm trong những trại tù trong vùng rừng sâu hẻo lánh. Tôi lắng nghe sự
giới thiệu về về bài ca kế tiếp, Con Cò, nhạc Nguyệt Ánh, qua tiếng hát
Băng Tâm.
MC Nam Lộc nói: "Trong văn chương Việt Nam thì Con
Cò là một hình bóng quen thuộc, rất gần gũi và đi vào đời sống con
người một cách sâu đậm nhất. Qua văn học dân gian thì Cò lại còn tượng
trưng cho hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam với tấm lòng thủy chung và
hy sinh cao đẹp. Đó cũng là lý do mà sau biến cố 1975, nhiều bài hát đã
được các nhạc sĩ sáng tác để ca ngợi cũng như để nói lên thân phận nhọc
nhằn của những người đàn bà Việt Nam sau cuộc chiến. Đặc biệt là những
người Vợ Tù Cải Tạo, họ đã phải dầm dãi nắng mưa, để tần tảo nuôi con
và vất vả thăm chồng. Nỗi chua xót và cay đắng này đã được một số các
chứng nhân ghi lại thành những bút ký hầu lưu truyền cho hậu thế về một
khúc quanh bi thảm của lịch sử Việt Nam."
Thật vậy, tôi nghĩ
những người Vợ Tù Cải Tạo cần được vinh danh vì công lao vô bờ bến của
họ khi nuôi con ở nhà, mà còn phải thăm nuôi chồng bị tù đày.
Chương
trình Asia-51 DVD dài lắm, có nhiều bài hát trong chủ đề "Nhạc Vàng 30
Năm, Những Tình Khúc Sau Cuộc Chiến". Tôi chỉ viết lại một số những bài
hát tiêu biểu mà tôi nhớ sau khi xem phần Preview xong mà thôi. Asia-51
đã ôn lại một số những tình khúc điển hình cho 30 năm âm nhạc của quê
hương Việt Nam kể từ sau tháng Tư 1975. 30 năm với bao đổi thay biến
hóa, bao nỗi trăn trở thăng trầm, và bao điều mất mát tàn phai. Nhưng
âm nhạc Việt Nam vẫn còn đó, vẫn tồn tại trong trí nhớ và hằn sâu trong
tim của những người thưởng ngoạn yêu dấu lấy nó, như Nam Lộc nói, không
có một sức mạnh nào hoặc một chế độ nào có thể hủy diệt được sự kiện
đó.
Như dòng lịch sử của quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng
ta, dù đã trải qua bao lần bị giặc ngoại xâm, bao lần bị thôn tính đô
hộ, bao lần thay đổi chế độ, nhưng quê hương ta vẫn sừng sửng còn lại
đó. Dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại, và con người Việt Nam yêu chuộng hòa
bình vẫn còn đó, vẫn là con người vốn mang trái tim nhân bản. Và giòng
nhạc Vàng vẫn trải dài thêm cho thấy rằng không ai có thể ngăn cản
những bài tình ca mở rộng, như những vòng tay ân tình, như những bước
chân của người Việt Nam đang trải rộng khắp mặt địa cầu. Như một sáng
tác của nhạc sĩ Trúc Hồ cảm nhận qua chuyến đi thăm viếng thủ đô Tiệp
Khắc vào năm 2000 bắt đầu cho một thiên niên kỷ mới. Trúc Hồ cô đơn
lang thang trên xứ lạ quê người, nhưng rồi anh xao xuyến khi nhìn dân
Tiệp Khắc ăn mừng tự do sau cuộc cách mạng Đông Âu thành công, chợt
thương cho đất nước Việt Nam vẫn còn chờ đợi ngày mai tươi sáng... và
rồi từ đó nhạc phẩm Con Đường Việt Nam của anh ra đời để đón chào ngày
vận hội mới, để "Nhớ khi tuổi thơ dại,... Tiếng khuya mẹ ru
hời,...Thành tiếng quê hương đậm đà,...Từ những con đường Việt Nam", và
như ước mơ "Đã bao năm rồi đó, Thôi không còn nữa".
Đó là nhạc
phẩm Con Đường Việt Nam, nhạc Trúc Hồ, lời Anh Bằng, bài hợp ca bởi
toàn bộ các ca sĩ góp mặt trong Asia-51 trước khi kết thúc chương
trình. Những âm vang chan hòa trong hí viện có sân khấu hoành tráng,
ánh đèn muôn màu lộng lẫy của Dallas Fortworth. Vâng, ta mơ một ngày
mai như thủ đô Praha (Prague) của Tiệp Khắc chan hòa niềm vui để tất cả
chúng ta cùng nắm tay nhau trở về những con đường quê hương Việt Nam,
khi quê hương an bình tự do thật sự... "Đã bao năm rồi đó, Thôi không
còn nữa".
Một DVD xuất sắc như ý tưởng mà tôi vừa xem xong.
Việt Hải Los Angeles
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: