Nhân sự lãnh đạo ĐCSVN – Nhận định (Kết)
Theo Đàn Chim Việt - Trương Nhân Tuấn - 26-06-2006
Nhận định sơ lược về nhân sự lãnh đạo, chiến lược phát triển quốc gia và đường lối chính trị của đảng CSVN sau đại hội X.
Ðề nghị một phương hướng tranh đấu (cho những nhà dân chủ tiền phong) nhằm thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.
Ông Nông Ðức Mạnh ở phe nào?
|
Nông Ðức Mạnh ở phe nào? Câu trả lời không đơn giản - Ảnh: SpaceDaily
|
Những ngày gần đây người ta thấy một sự cởi mở có thật, nhưng còn giới
hạn, cho giới báo chí trong nước, nhất là vào khoảng thời gian tiền đại
hội. Có những bài viết chỉ trích đảng hay liên quan đến quốc gia được
đăng trong khoảng thời gian này. Người ta cũng thấy báo chí mạnh dạn
phanh phui các vụ tham nhũng. Nhờ vậy người ta mới thấy sự thật con
đường cách mạng gái gung, mánh mung của các quan thầy. Đây chắc chắn
không phải là quyền “tự do ngôn luận” thực sự như đã từng thấy thấy tại
miền Nam trước 1975 nhưng các việc này chưa từng có từ trước đến nay
trong chế độ XHCN Việt Nam. Mặt khác, sinh hoạt xã hội, từ khi ông Mạnh
lên lãnh đạo, tương đối người dân “dễ thở” hơn. Hiện nay các vụ đàn áp
những nhân vật tranh đấu cho dân chủ vẫn chỉ ở mức răn đe, không phải
bị tử hình hay bị cãi tạo mút mùa như dưới thời Lê Duẩn, Đỗ Mười, mặc
dầu những sinh hoạt tôn giáo như của Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt,
Phật Giáo Hòa Hảo, Tin Lành… còn rất khó khăn. Chư vị Hòa Thượng Thích
Quảng Độ, Thích Huyền Quang, lãnh đạo PGVNTN vẫn còn bị “quản lý tại
địa phương” và bị cấm chỉ nhiều sinh hoạt tôn giáo. Các anh Nguyễn Vũ
Bình, Phạm Hồng Sơn cũng như rất nhiều tù nhân chính trị vẫn chưa được
trả tự do. Dầu vậy, thời gian 5 năm qua do Nông Đức Mạnh lãnh đạo, Việt
Nam đã có những dấu hiệu khá hơn so với những vị lãnh đạo tiền nhiệm.
Ông Mạnh cũng bị tố là tham nhũng và lạm dụng quyền chức như cho trải
nhựa con đường dẫn về quê của ông hay cho xây phi trường trực thăng tại
làng của ông tại Bắc Cạn. Việc ông Mạnh cho làm đường trải nhựa dẫn về
quê của ông không thể cho là hành động lạm quyền. Ngược lại đây là một
việc tốt nằm trong lãnh vực phát triển quốc gia và vì có nhiều lý do để
nhà nước quan tâm đến các dân tộc thiểu số. Việc xây phi trường cho
trực thăng ở quê của ông Mạnh cũng không có gì quá đáng. An ninh và
tiết kiệm thời gian quan trọng hơn. Người viết cho rằng việc thường
xuyên về thăm cha mẹ, họ hàng, lối xóm của ông Mạnh là việc đáng khen.
Ông Mạnh nhân bản, thấm nhuần đạo lý dân tộc, coi trọng liên hệ huyết
thống gia đình, hơn hẳn ông Hồ Chí Minh. Về mặt này ông Hồ là người bất
nghĩa, vô nghì. Vấn đề đáng chú ý là những chi phí cho phi trường và
con đường có phù hợp với thực tế hay không? Nhưng vụ thân nhân ông Mạnh
có thể liên can đến vụ tham nhũng PMU 18, việc này cần phải soi sáng
thêm.
Như viết trên, ba nhóm tranh dành quyền hành với nhau. Rất có thể ông
Mạnh không theo phe nào (hay thuộc phe… thứ tư). Vào thời kỳ đại hội IX
thì ba ông cố vấn nhứt định đòi tiếp tục làm thái thượng hoàng mà ông
Phiêu không muốn. Không ai chịu ai, “tao không được thì mày cũng không
được”. Một, hai, ba… chúng ta cùng rút. Rốt cục chức tổng bí thư lọt
vào tay ông Mạnh.
Giả thuyết này thuyết phục hơn các giả thuyết trên nhưng chắc chắn
không phải là lý do chính yếu và duy nhất, chỉ hợp lý cho nhiệm kỳ đầu
2001. Năm 2006 ông Mạnh bị tố tham nhũng, lại quá tiêu chuẩn tuổi và
ông cũng bị cho là nhu nhược, thiếu sáng kiến, không có khả năng lãnh
đạo. Nhưng tại sao vẫn là ông Mạnh?
4. Giả thuyết “thời thế tạo anh hùng”.
Giả thuyết này được đặt trên nền tảng thực tiễn và truyền thống lịch sử dân tộc Việt Nam.
Khoảng tháng 5 năm 1955, ông Hồ Chí Minh cho thành lập các khu tự trị
cho các sắc dân thiểu số sống ở vùng biên giới Việt Trung (khu tự trị
Việt Bắc, Tây Bắc, Thái Mèo v.v..). Điều này không mới mẻ gì, các vua
triều Lê, Nguyễn và trước đó, đều xem các vùng đất do các bộ tộc thiểu
số sinh sống là vùng “phên dậu”. Dưới thời Pháp thuộc, các bộ tộc này
cũng được quyền tự trị trong các khu nhất định.
Ngày xưa các bộ tộc này sống tự trị trong các vùng đất mà họ sinh sống
và mỗi bộ tộc có nhân vật lãnh đạo theo lối cha truyền con nối. Các bộ
tộc này có khi thần phục Việt Nam, có khi thần phục Tàu. Các triều vua
Việt Nam thường phong quan “thổ ty” cho những tù trưởng các bộ tộc và
cho họ có quyền cha truyền con nối để giữ họ lại trong vương quốc hay
để họ không quấy nhiễu. Đôi khi còn gả những công nương, quận chúa
trong hoàng tộc cho các thổ ty hay con trai thổ ty để thắt chặt giao
hảo. Trong lịch sử Việt Nam có nhiều lần Việt Nam được đất do những lần
làm “xuôi gia” như thế này nhưng cũng có nhiều lần mất đất vì viên thổ
ty đem dân đi thần phục nước Tàu.
Một số dân tộc thiểu số hiện nay có mặt tại vùng biên giới Việt Trung
là do họ di cư từ vùng từ các tỉnh vùng Hoa Nam (Quảng Đông, Quảng Tây,
Vân Nam, Quí Châu…) vào khoảng giữa thế kỷ 19 do giặc Thái Bình Thiên
Quốc hay do sự đàn áp của quân triều đình lên người theo đạo Hồi sau
khi những người này nổi loạn.
Sau khi người Pháp đến, vì các dân tộc này bị người Tàu khinh bỉ (gọi
là Mán) và cũng bị người Việt kỳ thị, coi thường cho nên có nhiều bộ
tộc hợp tác với Pháp. Cũng nhờ sự hợp tác này mà Việt Nam lấy được vùng
đất hữu ngạn sông Đà. Đất này của họ Đèo, do tù trưởng người Thái tên
Đèo Văn Trị lãnh đạo. Ông này thần phục Pháp năm 1893 qua đại diện là
ông August Pavie. Vùng đất của Đèo Văn Trị theo Công Ước Phân Định Biên
Giới 1887 thì thuộc về Vân Nam. Đến năm 1895, ông Gérard mới ký thêm
công ước bổ túc mới lấy được vùng đất này lại cho Việt Nam (xem thêm
sách Biên Giới Việt Trung 1885 2000, Trương Nhân Tuấn, 2005).
Vì thế trong quân đội Pháp có rất nhiều lính gốc người thiểu số như
Thái, Nùng, Tày v.v.. Đến khi thua trận Điện Biên Phủ và rút về Pháp,
một số đông người Thái, Tày, Nùng… đi theo về Pháp. Những người này có
người là sĩ quan cao cấp.
Sau khi dành được chính quyền miền Bắc, Hồ Chí Minh cũng cho các dân
tộc thiểu số này sống thành khu tự trị. Tuy nhiên một số các bộ tộc
thường xuyên bị nghi ngờ “làm tay sai cho địch” như trường họp dân
Hmong. Các dân tộc Thái, Tày, Nùng… bị nghi kỵ vì có nhiều người làm
việc cho Pháp, mặc dầu cũng có nhiều đầu lĩnh các dân tộc thiểu số nổi
lên chống Pháp (như Hoàng Hoa Thám là người Nùng). Đời sống của các dân
tộc này rất khó khăn vì không được sự lo lắng của chính quyền mặc dầu
hiện nay dân số của họ tổng cộng trên 2 triệu người và họ chiếm đa số ở
các tỉnh ven biên giới Việt Trung.
Đến tháng 8 năm 1975 các khu tự trị bị bãi bỏ. Việc này gây bất mãn cho
nhiều thủ lĩnh của các dân tộc thiểu số. CSVN tìm cách kiểm soát chặt
chẽ các dân tộc thiểu số bằng phương pháp đảng hóa những thủ lĩnh dân
thiểu số. Nhờ vào sách lược này mà ông Nông Đức Mạnh, vốn là người gốc
Tày trong một gia đình đầu lĩnh, được chọn vào đảng. Vì vậy ông Mạnh
mới không đi B như hàng triệu thanh niên miền Bắc và được cân nhắc vào
các chức vụ quan trọng. Ông Mạnh học trường đảng dành cho cán bộ cao
cấp vào các năm 1974 1976.
Sau năm 1975, người Tàu nhận thấy đã có những mâu thuẫn với CSVN vì
Việt Nam bỏ Tàu, thân Nga. Họ tìm cách tuyên truyền và dụ dỗ các bộ tộc
thiểu số, cho rằng họ có gốc Tàu, kêu gọi gia nhập hộ khẩu Tàu hay đổi
quốc tịch Tàu. Họ thâu phục bằng cách cho ưu đãi về khẩu phần lương
thực hay vải vóc hơn khẩu phần ở bên Việt Nam. Không ít bản làng của
người Nùng, người Tày, người Thái …. trở thành đất của Tàu.
Đến thời điểm VN có mâu thuẫn với Khmer đỏ thì Trung Cộng đã có đủ
lý do để cho Việt Nam một bài học. Đặng Tiểu Bình chuẩn bị đánh chiếm
một số đất của Việt Nam. Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu
trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín
1978, một cuộc họp về "cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị
quân Việt Nam chiếm đóng" đã diễn ra tại văn phòng tham mưu
trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc (tin BBC, 22 tháng 2 năm 2006).
“Lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” là các vùng nào? Trong đó chắc
phải có Trường Sa, nhưng cũng có các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang…
Vùng này là địa bàn sinh hoạt của dân Tày, Nùng v.v... Trung Cộng cho
rằng các sắc dân thiểu số vùng biên giới là người Hoa vì vậy các vùng
đất họ sinh sống là của Tàu. Họ muốn lấy sông Kỳ Cùng làm biên giới
mới. “Cách giải quyết” vấn đề lãnh thổ là cách nào? Đó là cách đem quân
sang đánh VN chiếm các vùng đất đó lại. Tuy nhiên Trung Cộng đã thất
bại, học lại CSVN một bài học.
Cuộc chiến biên giới 1979 giữa Việt Nam và Trung Cộng kết thúc mau
chóng, quân Tàu thua phải rút về nhưng cuộc chiến lấn đất dành dân âm
thầm diễn ra. Đôi khi hai bên có những cuộc xung đột đẫm máu. Theo tin
của quân đội Trung Cộng trên internet thì có nhiều trận đánh diễn ra
giữa quân đội Tàu và quân đội Việt Nam từ 1979 đến 1989. Nguyên nhân do
tranh chấp đất đai, có trận lớn ở cấp trung đoàn, trận núi Lão Sơn là
một thí dụ. Tuy nhiên tin tức tuyên truyền một chiều của Tàu thì nên
thận trọng. Không phải họ nói ra mọi cái đều đúng.
Để giữ đất và giữ dân, nhiều nhân vật gốc thiểu số được trọng
dụng. Điển hình là Nông Đức Mạnh. Ông này được vào trung ương dự khuyết
năm 1986, đến năm 1989 vào trung ương thực thụ và phụ trách toàn bộ vấn
đề dân tộc thiểu số.
Phải nhìn nhận ông Mạnh đã giải quyết vấn đề này rất thành công
nhưng quyền hạn ông này vẫn còn rất giới hạn trong những quyết định.
Ông Mạnh lên làm chủ tịch Quốc Hội, hàng thứ 4 sau tổng bí thư đảng,
chủ tịch nước và thủ tướng. Ông làm hai nhiệm kỳ từ 1991 đến 2001. Các
dân tộc đòi ly khai một phần được xoa dịu, nhưng ý tưởng ly khai vẫn
chưa dứt bỏ.
Vấn đề tranh chấp đất và dân được hai nước giải quyết qua Hiệp
Định Phân Định Biên Giới Trên Đất Liền, ký kết tháng 12 năm 1999. Để
không bị mang tiếng bán nước, đảng CSVN phải bầu ông Mạnh lên tổng bí
thư. Chỉ có ông Mạnh với cương vị lãnh đạo đảng và đất nước mới có thể
thuyết phục các dân tộc thiểu số. Các dân tộc này cảm thấy hãnh diện vì
người của họ lên làm “vua” nước Việt Nam. Không lẽ họ bỏ thủ lĩnh của
mình để sang đầu Trung Cộng?
Đây là một tính toán khéo léo của đảng CSVN, tạo sự đoàn kết với
các dân tộc thiểu số. Việc này đã thấy tương tự trong lịch sử như phong
quan hay gã con cho các đầu lĩnh các bộ tộc. Ông Mạnh được ở lại chức
tổng Bí Thư lần hai vì vấn đề biên giới vẫn chưa hoàn toàn giải quyết
(dự trù kết thúc năm 2008). Nhưng những tính toán của CSVN chỉ có tính
xoa dịu nhất thời. Dưới thời cộng sản, không chỉ có các sắc dân biên
giới mới bỏ nước. Hơn hai triệu người Việt hải ngoại cũng bỏ nước vì
chính sách hà khắc. Những người này bỏ đi không đem theo đất như các
dân tộc thiểu số, không phải không muốn nhưng vì không thể. Những người
thiểu số bỏ nước không có nghĩa là bỏ làng quê, đất đai. Họ bỏ nước là
họ nhập tịch Tàu. Đất họ đang sinh sống cũng thuộc về Tàu. Khi ông Mạnh
xuống thì không có gì bảo đảm nhũng người này chọn ở lại Việt Nam.
Tóm lại, lý do quan trọng mà CSVN cho ông Mạnh lên lãnh đạo tối
cao là do vấn đề ly khai của các dân tộc vùng biên giới. Không ai hiện
nay, ngoài ông Mạnh, có thể giải quyết được các đòi hỏi ly khai của
những dân tộc thiểu số sống vùng biên giới Việt Trung.
Thời thế tạo ra anh hùng Nông Đức Mạnh là vì vậy.
Đến nay thực tế cho thấy ông Mạnh đã có công (trong nhất thời) vì
đã giữ được dân, tức là giữ được đất. Đây chắc chắn là một điểm son
trong sự nghiệp chính trị của ông, lịch sử sẽ công bằng ghi chép. Nhưng
vấn đề dân tộc là trường tồn, phải có một sách lược đứng đắn, không thể
như hiện nay cột đèn biết đi thì nó cũng bỏ nước mà đi. Hỏi thử nguyện
vọng của tuổi trẻ VN hiện nay ao ước gì? Ứớc muốn lớn nhất của họ là
được sống bên Hoa Kỳ, tức bỏ nước. Tuổi trẻ là tương lai đất nước.
Tương lai như thế thì đất nước này còn gì? Đất nước sẽ ghi công lớn ông
Mạnh nếu ông Mạnh có những quyết định đột phá để cứu nước. Đó là quyết
định dân chủ hóa chế độ. Chỉ có dân chủ hóa chế độ mới tạo được thế đại
đoàn kết dân tộc thực sự. Và khi dân tộc ta đoàn kết thì ta không mất
dân, tức không mất đất và cũng không có thế lực nào có thể xâm lăng
được nước ta. Cũng chỉ có dân chủ hóa chế độ thì đất nước mới có thể
phát triển lành mạnh, phúc lợi được phân phối đồng đều qua nhiều hình
thức đến tận tay từng người dân chứ không tập trung vào một số người
như hiện nay. Người viết sẽ phân tích kỹ vấn đề này trong phần II và
III. Ông Mạnh có khả năng làm việc này hay không? Toàn dân đang chờ
đợi.
Phần hai, Phê bình “chiến lược phát triển quốc gia và đường lối chính trị của đảng CSVN sau đại hội X.” và phần ba “Ðề nghị một phương hướng tranh đấu (cho những nhà dân chủ tiền phong) nhằm thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.” sẽ đến cùng bạn đọc vào tháng 7.
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: