Ai cũng biết Bình Thuận-Phan Thiết từ ngày thành lập đến nay, phần
lớn gắn liền với cuộc sống miền biển. Do trên khi những ngư dân đầu
tiên đến lập nghiệp, dựng làng, đều không quên những vị tiên hiền,
những người đã có công tạo lập và hình thành phát triển nơi dung thần
mới. Ðình làng, dinh vạn là những nơi người dân tưởng nhớ ghi ơn, những
thần thánh siêu hình đã mang đến sự ấm no, an bình cho muôn người. Vì
vậy, nhắc đến Bình Thuận, Phan Thiết là nói tới Ông Nam Hải, Ông Quan
Thánh, Bà Thiên Hậu, Thầy Chúa, Cô Cậu.. bên cạnh Phật, Chúa trong tín
ngưỡng truyền thống lâu đời của dân tộc Việt.
Điều
này cũng dể hiểu, ngày xưa khi đến định cư tại miền duyên hải Bình
Thuận, từ Ba Ngòi vào tới Cù My, đều là những vùng đất hoang vu, biển
khơi bát ngát trước mặt, còn sau lưng là giải Trường Sơn chập chùng,
chạy dài từ bắc chí nam với núi cao rừng rậm, đầy ác thú, trăn rắn ma
thiêng nước độc.
Trong hoàn cảnh đơn độc, coi như bị đem con bỏ
chợ, chỉ còn cách dùng sức người chống chọi với thiên nhiên, trên bờ là
nạn cọp voi, phá hại làng xóm, giết chết con người, còn dưới biển cũng
thường xãy ta bảo tố đắm ghe thuyền, cũng như bị cá mập cá xà, đẻn độc
tàn hại, làm cho con người cảm thấy bé nhỏ, yếu đuối trước nghịch cảnh,
nên họ đã tự đi tìm một lối thoát là tin vào những quyền lực vô hình để
cầu che chở. Đó là lý do giải thích sự song hành, trong nguồn tín
ngưởng đa dạng của người Bình Thuận qua ba thế kỷ lập nghiệp trên vùng
đất này.
1- BÀ CHÚA NGỌC ĐANG THỜ CÚNG TẠI PHÚ QUÝ LÀ AI ?
Suốt
duyên hải miền Trung, từ Thừa Thiên vào tới Bình Thuận, hầu như nơi nào
cũng đều thờ cúng Bà Chúa Ngọc, kể cả Phú Quý, một hải đảo cách xa
thành phố Phan Thiết hơn trăm cây số. Theo truyền thuyết dân gian, thì
Bà Chúa có tiếng là linh ứng hiển hách, hay cứu nạn phò nguy nhưng đồng
thời rất nghiêm khắc với những kẻ nào dám xúx phạm đến miễu thờ Bà. Có
điều tới nay, dù người trần gian vẫn một lòng sùng kính, nhưng mấy ai
biết rõ Bà là người Tàu, Việt hat Chàm, ngoài việc thờ cúng Bà như một
vị nữ thần, bên cạnh Bà Chúa Xứ Thiên Y A Na.
Nhờ các công trình
nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian của người Việt, nên nay ta có thể
biết được tên gọi đầy đủ của Bà, qua bài vị trong miễu thờ tại Hòn
Tranh (Phú Quý) “Cung thỉnh Thiên Y A Na, Diễn Bà Chúa Ngọc, quang linh
tuý tinh, hoằng huệ thượng đẳng thần”. Đồng thời, tên Bà cũng khắc trên
nhiều bài vị, cũng như các bài văn tế chữ Hán, khi cúng Thần Hòn Tranh,
Ọng Nam Hải, Thành Hoàng.. Do đó các nhà biên khảo đều xác quyết Bà là
người Chiêm Thành, tức Nữ Thần Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi, đã được cả
người Chàm lẫn Việt tôn kính và Triều đình Nhà Nguyễn sắc phong chức
Thượng Đẳng Thần.
Thật ra tên gọi Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi,
được lưu truyền tới nay, là căn cứ vào cách viết của Hán tự. Riêng
trong hệ thống thần linh của người Chàm, ta cũng biết được một cách đại
khái, nhờ tấm văn bia do Phan Thanh Giản lập tại Tháp Bà ở Nha Trang,
vào năm 1855, đời Tư Đức thứ 9, thờ Nữ Thần Po Nagar, qua tên chử Hán
là Thiên Y.
Nhưng theo các truyền thuyết và nhiều truyện cổ dân
gian của người Chiêm, thì hai nữ Thần Po Nagar và Thiên Y A Na, lại là
hai nhân vật khác nhau. Theo bài kinh cúng thần còn lưu tại Tháp Bà,
thì Po Nagar là một vị nử thần sáng tạo ra thế giới. Trái lại Nử thần
Thiên Y A Na được Phan Thanh Giản ghi chép trên bia đá ở Tháp Bà, là
một cô gái, nguyên là một tiên nữ bị đọa nên xuống trần gian, làm con
nuôi trong một gia đình trồng dưa ở vùng Đại An, tỉnh Khánh Hòa. Nhờ
linh hiển cứu giúp đời, nên dân chúng trong vùng lập đền thờ 6 tầng để
cúng tế nhớ ơn, qua danh hiệu Thiên Y A Na, Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh
Phi, ảnh hưởng khắp miền Trung, nên nơi nào cũng có miễu thờ.
Tuy
nhiên trong hệ thống thần linh của người Việt, từ trước tới nay không
hề có một vị nữ thần nào tên Thiên Y A Na. Trong lúc đó, người Chàm
cũng có một truyện cổ dân gian, nói về sự tích Thiên Y A Na, với tình
tiết như chuyện kể của người Việt, chỉ khác danh xưng của tiên nữ là
Mukjuk (có nghĩa là Bà Đen), tương xứng với tượng nữ thần Thiên Y, mà
dân Việt tại đảo Phú Quý đã thờ ở Hòn Tranh, qua danh hiệu ‘Hắc tướng
thượng đẳng thần‘.
Nhưng nếu Thiên Y A Na đúng là nữ thần
Mukjuk, vậy thì sự liên hệ giữa hai nử thần Po Nagar và Thiên Y Mukjuk
ra sao? Theo cách giải thích của người Việt, căn cứ từ sự tích của Bà
Chúa Liễu Hạnh, trong Đạo thờ Tam Phủ, đã hóa thân cùng lúc, để trở
thành các Mẫu Thương Thiên (Thiên Phủ), Thượng Ngàn (Nhạc Phủ) hay Mẫu
Thoải (Thủy Phủ). Vì vậy nên Mukjuk cũng đã hóa thân thành nữ thần Po
Nagar, Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi.. Tóm lại tên đầy đủ của vị nữ thần
mà người Chàm lẫn Việt đang thờ cúng khắp nơi, cũng như tại đảo Phú
Quý, tỉnh Bình Thuận là “ Po Ya Inư Nagar hay Po Yang Ya Inư Nagar. Từ
đó người Trung Hoa đã dịch: Po hay Yang (Thiên Thần), còn Ya Inư Nagar
lại được phiên âm theo Hán-Việt là Y A Na. Tóm lại tất cả các vị thần
trên, chỉ là một qua sự hóa thân của nhiều tên gọi.
+ Hải Đảo Phú Quý:
Không
phải là tình cờ mà người ta gọi Phú Quý là Hòn Thu. Vì tên này đã dựa
vào hình thế của đảo nhìn từ xa rất giống con cá thu và ở đây, ngày xưa
cũng có rất nhiều loại cá này. Cũng từ những ý nghĩ bình dân mộc mạc
ấy, ngư dân bản địa đã gọi Phú Quý là Đảo Mực, vì thời gian gần đây,
mực là nguồn lợi chính của dân trên đảo.
Ra thăm Phú Quý, dù đi
đêm hay ngày cũng đều có những đam mê thích thú. Thật vậy nếu ta rong
thuyền về đêm, thì sẽ được hưởng cái cảnh huyền diệu của những dãy đèn
nê ông câu mực tỏa sáng một góc trời. Ánh đèn ảo huyền lung linh theo
sóng gió, khiến cho ta như đang lạc vào một thành phố trên biển. Còn
ban ngày thì được ngắm cảnh trời nước mênh mông, con tàu nhỏ bé, con
người cô độc, làm cho ta cảm thấy cuộc sống thật là bấp bênh tội nghiệp.
Dân
chúng sống trên đảo, vì hoàn cảnh, nên phải vượt biển từ Phú Quý vào
Phan Thiết bốn mùa tám tiết, ngoại trừ khi có bảo tố. Riêng những ai
cần tới đảo, người ta hay chọn mùa sóng êm từ sau Thanh Minh tới Tết
Trung Thu. Bởi vậy người trên đảo mới thuộc làu một bài vè nói về thời
tiết biển Bình Thuận, mà ông cha đã truyền lại từ lâu đời: “Tháng giêng
động dài, tháng hai động tố, tháng ba nồm rộ, tháng tư nam non, tháng
năm co gió hợp Hòn, thổi lòn Nam Cú..” Núi Ba Hòn, Tà Cú là những địa
danh quen thuộc của người địa phương. Từ Phan Thiết đi Phú Quý, trung
bình mất 8 giờ và sự khởi hành cũng được căn cứ theo con nước và mùa
trăng. Tháng bấc, ghe cập bến Tam Thanh còn mùa nam thì vào lạch Long
Hải. Thuyền chạy được 2/3 đường, có thể nhìn thấy mõm núi Cấm nhô lên
như chiếc vung và ngọn hải đăng ở phía sau. Đây là hai điểm tựa mà
người xưa khi chưa có hải bàn, nhắm vào đó mà định hường, nên không bao
giờ bi lạc.
Hiện Phú Quý là một huyện đảo, nằm ngoài khơi Phan
Thiết về phía đông nam chừng 56 hải lý, có diện tích 16,52 km2 và dân
số tính tới cuối năm 2002 là 22.000 người, trữ lượng hải sản của ngư
trường ước tính chừng 58.000 tấn và khả năng khai thác hằng năm là
20.000 tấn. Trươc đó vào năm 1886, đảo có 11 làng nhưng dân số chỉ có
600 người. Năm 1930-1954, đảo còn 9 làng nhưng dân số cũng chỉ có 900
người. Thời VNCH, đảo trở thành Nha Đại Diện (1955-1958), quận Phú Quý
(1958-1961), rồi thuộc Tuy Phong (1961-1966) và là Nha Phái Viên Hành
Chánh, quận Hàm Thuận(1966-tháng 4/1975).Phú Quý nằm giữa biển khơi
nhưng có nhiều phong cảnh đep, vẽ nên một bức tranh thủy mạc tuyệt vời
của quê hương Bình Thuận, khiến cho nhiều người dù không sinh trưởng
nơi cùng trời cuối đất này, cũng phải bâng khuâng thương nhớ chốn quê
nhà, mỗi khi có dịp ra chơi biển.
Theo gia phả của Huỳnh tộc,
một dòng họ lớn ở đây, thì vào năm 1761 nhằm đời Cảnh Hưng thứ 22, tổ
của họ này là Huỳnh văn Đây, trong một chuyến đánh cá chuồn, bị bão tố
trôi xuống phương nam và tắp vào đảo. Cũng theo lời ghi lại, thì đảo
lúc đó có thổ dân sinh sống. Đảo rất lớn nhiều núi rừng, đất đai có thể
trồng trọt canh tác, đầy bóng dừa và đặc biệt ngoài biển có rất nhiều
tôm cá. Thế là đất lành chim đậu, người trước rủ người sau, lần hồi
thành xóm làng đông đúc.
Được tạo thành bởi một chuỗi đảo, nên
ngoài hòn lớn Phú Quý, còn có một số cù lao nhỏ khác là Hòn Đen, Hòn
Đỏ, Hòn Trứng, Hòn Trào, Hòn Tranh.. Theo các nguồn sử liệu hiện còn,
qua hàng trăm năm lịch sử, đảo Phú Quý cũng được thay đổi tên gọi nhiều
lần như Cổ Long, Thuận Tình, cù lao Khoai Xứ, cù lao Thu, Hòn Lớn. Tất
cả những cái tên dùng để gọi đảo, đều hàm súc ý nghĩa, chứ không phải
bâng quơ, chẳng hạn như nhà Nguyễn gọi là Cổ Long vì từ phía đông nhìn
vào đảo, thấy giống như hình rồng, mà đầu là đỉnh núi Cao Cát (85m),
còn đuôi là núi Cấm (108m).
Thời kỳ Pháp đô hộ VN, thì đặt tên
đảo là POULO CÉCIR DE MER. Gần đây lại tìm thấy nhiều rìu, cuốc và vật
dụng làm bằng sắt thô, cho thấy trên đảo đã có dấu vết nguời ở từ lâu
đời. Dân đảo hiện nay, hầu hết là hậu duệ của lớp người Đại Việt, sống
dọc theo duyên hải Trung Phần từ Thanh Hóa vào tới Phú Yên, trong giai
đoạn 1627-1672, thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Nhà cửa trên đảo trước
đây thường làm theo kiểu dân Bình Định, mái lợp bằng ván dừa, trét đất
nên rất mát. Trong lớp người khai phá này, còn có quân sĩ nhà Minh, vì
không đầu hàng Mãn Thanh, cũng vượt biển từ bên Tàu tới đây tá túc, lâu
ngày cũng trở thành dân bản địa.
Trên đảo, dưới chân núi Cao
Cát, hiện còn đền thờ công chúa Chiêm Thành là Bàng Tranh, theo truyền
thuyết dân gian là bị đầy tới đây vì chống lại triều đình, đó cũng là
dấu vết chứng tỏ đảo Phú Quý, buổi trước thuộc chủ quyền của người Chàm.
Bao
đời, người Phú Quý chủ yếu sống bằng nghề biển, vì vậy ngoại trừ hải
sản có tại địa phương, còn phần lớn các nhu yếu phẩm khác đều mua từ
đất liền, cho nên giá cả rất đắt đỏ nhất là các vật dụng xây cất như
gạch ngói, tole.. Đảo nguyên là một núi lửa có từ nguyên đại đệ nhất,
đã ngưng hoạt động từ lâu, nên đất đai thuộc loại Féralit nâu đỏ, rất
thích hợp với với bông vải, mè, bắp và các loại đậu, là đậu phộng, dùng
để ép dầu thắp đèn. Quanh đảo có trông nhiều cây ngủ trảo, để dùng làm
củi đun và chế thuốc trị phong hàn. Ngoài ra còn trồng dứa, vừa làm đê
chắn cát gió, vừa lấy sợi để đan võng.
Ngày xưa trên đảo chưa có
đường xá, việc đi lại rất khó khăn, đàn ông đi biển để nuôi gia đình và
kiếm sản phẩm dâng nạp cho triều đình. Bởi vậy công việc nội trợ đều do
phụ nữ cán đán, từ việc tầm tang cho tới ruộng rẫy. Do lối đi chật hẹp
phải luồn lách bụi rậm, không thể sử dụng đôi gánh như ở đất liền, vì
vậy nên đã dùng chiếc gùi thay thế, vừa thuận lợi đi lại mà còn được
rãnh đôi tay. Cho nên mới phát sinh câu vè: ’Buồn buồn ra đảo mà vui,
đi đâu cũng thấy cái gùi sau lưng‘.
Vùng biển từ Phan Thiết tới
Phú Quý, được đánh giá là rất khắc nghiệt, hay có bảo tố bất thuờng, kể
cả ‘tháng ba, ba già cũng đi biển’. Dù hiện nay, tỉnh có hai chiếc tàu
quốc doanh trị giá trên 10 tỉ đồng tiền Hồ, mỗi tàu chở được tới 100
hành khách với 50 tấn hàng hóa, có thể vượt sóng an toàn khi biển động
lên tới cấp 6-7. Nhưng theo lời thuyền trưởng Nguyễn văn Định, đang
điều hành con tàu khách chạy đường biển Phan Thiết-Phú Quý, mang tên
BT-16, cho biết tàu này không thích hợp vượt biển, vì được đóng để chạy
trên các tuyến đường sông nội địa mà thôi. Tệ hơn là sự tắc trách của
cơ quan Đăng Kiểm, dám cấp giấy phép cho một con tàu chở khách, không
đạt được các tiêu chuẩn an toàn vì dụng cụ thiết bị không thích hợp như
phao cứu sinh (có 5 cái/100hành khách), lại là lọai phao đường sông màu
trắng, chứ không phải là thứ phao màu cam đường biển, mà cá mập rất sợ.
Về thiết kế, buồng lái đóng quá cao, khiến cho tàu mất thăng bằng dễ bị
lật khi có sóng lớn..
Người Phú Quý xua nay bản chất hiền lành,
cần kiệm, nên trong thời VNCH, tính tới tháng 4-1975, trên khắp ba xã
Long Hải, Tam Thanh và Ngũ Phụng, hầu như nhà cửa đều được xây bằng vật
liệu nặng, để chống chọi nổi với gió bão thường xuyên. Khắp đảo còn có
nhiều kiến trúc cổ kính và đầy chất trữ tình, ảnh hưởng bởi phong cảnh
đẹp cũng như máu lãng mạn của người dân vùng Thuận Quãng, tổ tiên của
lớp lưu dân khai phóng đảo. Hiện ở đây có bảy ngôi chùa nguy nga đồ sộ
như Linh Quang, Linh Bửu, Linh Sơn, Liên Hoa.. Vạn An Thanh, thờ Nam
Hải Đại Tướng Quân, còn giữ được bộ ngọc cốt ông lâu đời. Đặc biệt chùa
ở đây, không có sư ni, chú tiểu trụ trì, mà do tín đồ tự làm chủ, đóng
góp, xây dựng, bảo trì.. Các ngôi chùa ngày nay to lớn đẹp đẽ cũng do
tiền đóng góp của người Phú Quý vượt biển gửi về, nhà nước cọng sản chỉ
có công tuyên bố xác nhận Phú Quý là khu vực lịch sử văn hóa mà thôi.
Phú
Quý trước tháng 4-1975 không có Việt cộng nằm vùng ở đây, vì chẳng có
ma nào chịu làm cơ sở, dù buổi trước các ghe đi lại giữa Phan Thiết-Phú
Quý, phải ngừng lại ở La Gàn (Tuy Phong), một căn cứ địa lâu đời của
cọng sản. Có lẽ vậy, cho nên sau khi cưỡng chiếm được miền nam, VC Bình
Thuận đã đuổi gần hết dân trên đảo vào Phan Thiết, đi kinh tế mới tại
Kim Hải, Bình Tú, Ba Hòn, Quán Thùng.. để trả thù sự người dân không
theo chúng. Do không chịu nổi tù gông nô dịch, nên trên đảo, sẵn ghe
to, gần thủy lộ quốc tế, nên vượt biển ào ào, bỏ trống đảo, khiến cho
VC phải nhắm mắt để dân chúng bị đì vào đất liền kinh tế mới, trở lại
quê xưa.
Không gì đẹp bằng chốn quê hương. Nhiều người tha
phương cùng trời cuối đất, đến khi bóng xế chiều tà lại càng nhớ thương
quê mình da diết. Nhà thơ Khai Trinh đã viết lên những vần thơ đượm
thắm tình quê, khi nhớ về những ngày lính lưu lạc trên hải đảo:’
Quê tôi nằm giữa biển đông
thuộc vùng Bình Thuận, Tuy Phong xa ngàn
xa quê lệ đổ hai hàng
nhớ ngô nhớ sắn, nhớ làng Tam Thanh
nắng chiều trải xuống bãi Gành
nhìn về Phan Thiết, biển xanh xa vời
ngư dân vui cảnh ngàn khơi
lênh đênh trên nước, cuộc đời thong dong
Về
nguồn gốc người Phú Quý, theo nhà văn Mỹ Khê, thì dân bản dịa rất hiếu
hoà, mến khách. Toàn đảo có chín làng nhưng tiếng nói thì gần như lại
khác nhau như xóm Núi Triều Dương nói giọng Phú Yên, người Xóm Chùa
thuộc làng Mỹ Khê, Hội An phát âm gần giống Quảng Ngãi. Những người xóm
Bầu, xóm Biển, Bãi Lăng.. gần làng Quý Thạnh, Thượng Hải, Hải Châu.. có
gốc vừa Bình Định-Quảng Ngãi. Cuối cùng người Bãi Dừa và Xóm Rảy, thuộc
Long Hải Tây và Đông, tiếng nói từa tựa dân Quảng Nam.
Điều này
cho thấy nguồn gốc người Phú Quý, phát xuất từ lớp lưu dân Đại Việt đầu
tiên tại miền duyên hải miền Trung từ Phú Yên ra tới Quảng Nam. Tuy
thời gian đã xóa nhòa tất cả những vết tích đầu tiên tại đảo nhưng tập
quán bản địa có nguồn gốc phát xuất từ Thuận Quảng như kiểu nhà, phong
tục và nghề nghiệp, cho ta xác nhận phần nào nguồn gốc của dân chúng
trên đảo.
Ngoài ra, vết tích người Chàm tại đây vẫn thấy nơi
người Phú Quý qua hình ảnh cái gùi trên vai, mà ca dao còn nhắc tới
‘ngoài Hòn coi vậy mà vui, đi đâu cũng có cái GÙI sau lưng ‘ Vì nằm xa
đất liền, nên trước đây Phú Quý hoàn toàn sống cô lập và tự túc, do
trên người dân trên đảo biết trồng bông nuôi tằm, kéo tơ dệt vải, vừa
để đóng thuế gọi là vải thuế và thứ mịn để may mặc.
Mới đây trên
đảo đã tìm thấy một tập văn vần rất xưa, nói về tâm trạng của những
người thợ bị bắt buộc ra tận Huế làm xâu cho triều đình nhà Nguyễn. Vì
hầu hết dân chúng Phú Quý theo tam giáo, nên trên đảo có nhiều chùa thờ
Phật cũng như đình làng thờ Thành Hoàng, Thần Linh và Dinh Vạn thờ ông
Nam Hải tức Cá Ông. Đặc biệt có chùa Linh Quang xây từ thời chúa Nguyễn
Ánh còn bôn tẩu phục quốc. Theo truyền thuyết, chính vua Gia Long lúc
đó chọn địa điểm xây cất. Trong chùa có một tượng Phật lớn tạc bằng đá
gọi là đá nổi, đuợc vớt từ Hòn Tranh. Chỗ đá nỗi này, nay được gọi là
Vũng Phật có phong cảnh rất đep. Ở đây còn có miếu Trấn Quốc thờ Đức
Trần Hưng Đạo, tại Long Hải có miếu thờ Bà Chúa Xứ.
Ngoài ra còn
có Dinh thờ Thầy Chúa, vị thần bổn mạng của Phú Quý, rất được dân chúng
trên đảo ngưỡng mộ và kính tin. Do trên, người Phú Quý lưu vong tại San
Francisco và San Bernadino, tiểu bang Ca, Hoa Kỳ, hàng năm đến tháng 7
âm lịch, đều làm bò cúng tế Thầy chúa rất trang trọng. Từ sau năm 1960,
trên đảo có một vài gia đình theo đạo Tin Lành và Cao Đài. Sau năm
1975, VC tiếp thu đảo và cấm tuyệt mọi tôn giáo, đập phá nhà thờ tin
lành. Từ năm 1965-1975, các ngư thuyền tại Phú Quý được động cơ hóa,
nhà cửa cũng xây cất nguy nga bằng gách tôle rất khang trang. Các giáo
sư Phạm Hoàng Hộ và Phùng trung Ngân cùng phái đoàn thuộc viện Đại Học
Khoa Học Sài Gòn, thời VNCH, có tới thăm đảo và sau đó đề nghị cách
thức trồng trọt cho phù hợp với phong thổ bản địa nhưng sau đó cũng bị
quên lãng.
Trong bài Hội Hoa Đăng, Mỹ Khê viết về nghề thẻ mực
trên đảo Phú Quý, phát triển từ thập niên 1960, theo nghề làm mực tại
Long Hương và Phan Thiết, là dùng đèn khí đá tạo ánh sáng ban đêm trên
biển, gom mực. Sau đó lại dùng đèn manchon thay thế, nên nghề câu mực
phát triển mạnh hơn, tuy nhiên vì phương pháp bắt mực quá cổ truyền,
nên thu hoạch rất bấp bênh.
Trên vùng biển Phú Quý có nhiều loại
mực, từ thứ mực nang to lớn nặng trên 5 kg, tới loại mực đỏ trung bình
cũng như các loại ống, thước rất ngon, có giá bán cao. Mùa mực chính
tại Phú Quý từ tháng 6-9 âm lịch, có rất nhiều Mực Lá, nhỏ con, cơm
mỏng, mình dài , đầu ngắn, ít râu, thịt ít ngọt. Về sau, người ta dùng
mành mực thay vợt, nên lượng mực đánh bắt tăng gấp trăm nghìn lần khi
dùng vợt. Những mùa trúng mực, ngoài phơi khô, còn muối làm mắm mực rất
nổi tiếng với hương vị đặc biệt.
Từ thập niên 1980, người Phú
Quý lại thay đèn Manchon bằng đèn Néong, do máy phát điện riêng của mỗi
ghe mang theo. Ngoài ra người ta còn thả đèn điện dưới nước để gom mực,
nhờ đó mực bắt được nhiều mà không tốn công sức nhu lúc trước. Với
phương pháp này, cả một vùng biển từ Phú Quý, Long Hương tới Mũi Né,
hằng đêm được đèn điện từ các Mành Mực soi sáng, xa nhìn giống như một
thành phố, chẳng những từ các ghe Phú Quý, mà còn từ Phan Thiết, Phan
Rang, Long Hương tới hành nghề, tập hợp thành Hội Hoa Đăng hằng đêm,
đặc biệt là năm 1997, Bình Thuận rất trúng mùa mực
Trong khi đó,
tại Phan Thiết cũng như các tỉnh khác, ngư dân vẫn đánh mực bằng THÚNG
CHAI LỚN, đan bằng tre trét chai, chở được từ 5-10 người, theo phương
pháp cũ là đèn mangchon và vợt. Khi đi biển, các thúng chai câu mực từ
Phan Thiết, Phan Rí, Long Hương.. được một thuyền lớn, có thể chở từ
8-10 thúng. Ở ngoài khơi, mỗi ghe thúng chở vài người, thả xuống biển
để họ câu mực. Sau đó, ghe lớn tới vớt họ về đất liền . Dù thúng chai
không bao giờ bị chìm, nhưng lối làm ăn này thường bị tai nạn, vì khó
liên lạc từ thúng tới thuyền lớn. Nhiều khi vì gió lớn hay mưa to gió
lớn, bị trôi giạt nên không thể gom lại đủ. Do đó những thuyền thúng bị
lạc, khi tìm thấy, những nạn nhân bị chết khô một cách thê thảm.
Theo
giáo sư Trần Phụng Đình, tại Phú Quý ngoài ngư nông nghiệp, người ta
còn KHAI THÁC SAN HÔ, người thợ lặn sâu xuống nước, đục từng tảng san
hô trong vùng biển Đông, từ Phú Quý tới tận quần đảo Trường Sa. Sau đó
san hô được chở vào Phan Thiết, bán cho các lò nung thành vôi bột, dùng
để quét tường hay làm hồ nhão, xây vách hoặc trét kín các nắp dũm đậy
miệng tỉm đựng nước mắm.
Tại Phan Thiết, trước năm 1975, có
nhiều lò vôi tập trung giữa các con đường Nguyễn Thái Học, Quang Trung,
Phó Đức Chính ở phường Đức Thắng nhưng nhiều nhất ở bến Bà Triệu, gần
nhà các bác sỷ Bùi Quang Chiếu, Huỳnh tấn Đối, Hường Nhi.. kế Lò Heo
thuộc Phường Phú Trinh, cạnh bờ sông Cà Ty mà thời Pháp thuộc có tên
QuaiVerdun.
Tại Phú Quý còn sản xuất Vải Hòn, vì trên đảo có
trồng nhiều bông vải, có thể kéo thành sợi, để dệt thành vải tuy thô
nhưng cũng nhờ vậy, mà trong suốt thời kỳ quân Nhật chiếm Đông Dương
1940-1945, người Bình Thuận không thiếu vải may mặc, trong lúc các tỉnh
khác phải mặc quần áo vá hay dùng cả bao bố vải để che thân. Trên đảo
vui nhất là mùa hái bông vải, với quang cảnh các cô gái Hòn miền biển
mặn nhưng da trắng nõn nường xinh xắn, khác hẳn với phụ nữ sống trên Cù
Lao Ré, ngoài khơi Quảng Ngãi da đen sần sùi vì sóng gió biển khơi. Các
thiếu nữ hái bông, phía trước mang yếm, lưng đeo gùi đựng bông vải hái
từ cây xuống. Ngoài ra, cách Phú Quý về phía nam chừng 22 hải lý, vào
năm 1923 đột nhiên có hai đảo nhỏ nổi lên nhưng vì được cấu tạo bởi tro
đất từ phún xuất thạch của nuí lửa dưới biển, nên chỉ sau ba tháng, hai
đảo nhỏ này lại chìm xuống biển sâu, mặc dù trên bản đồ hải hành vẫn
còn ghi để nhắc nhớ các tàu bè qua lại vùng biển này.
Ta biết
trên bản đồ thế giới, Phú Quý hay Hòn Thu nằm cheo leo trong Đông Hải,
cách Phan Thiết về hướng đông nam chừng 80km, cách Trường Sa 540 km và
Hoàng Sa 725km. Đảo có chiều dài 12 km, ngang 4,5 km, chu vi từ 30-35
km và diện tích tổng quát chừng 36 km2. Đảo được hình thành hơn 9 thế
kỷ qua, do các ngư phủ sống nghề đánh cá chuồn (Cypsilurus
Spiloptorrrus) dọc theo duyên hải các tỉnh Nam Ngải Bình Phú tạo nên.
Hiện Phú Quý bao gồm quần đảo Trường Sa, là một huyện đảo thuộc tỉnh
Bình Thuận, có dân số trên 22.000 người, mà 2/3 là ngư dân thành thạo
nghề biển, chuyên săn cá mập lấy vi, lặn sò điệp quạt, các loại cá lớn,
hải sâm.. Số còn lại sống nghề làm rẫy. Trữ lượng hải sản ước tính
58.000 tấn và khả năng khai thác chừng 20.000 tấn/1 năm.
Ngư
trường Bình Thuận rộng lớn và dồi dào hải sản, nằm về phía đông nam
biển VN, chạy từ Hàm Tân ra tới hải phận quốc tế, xuống gặp quần đảo
Trường Sa, giáp giới với vùng biển Nam Dương. Ngư trường này hiện là
một địa điểm khai thác hải sản qui mô, chẳng những dành cho Phú Quý,
Bình Thuận mà còn là vùng biển khai thác của các ngư dân lân cận từ các
tỉnh Quảng Nam-Đà Nẳng vào tới Khánh Hòa, Ninh Thuận. Theo một kỹ sư
Pháp tên Raoul thì dưới chân núi Cao Cát có mõ dầu, còn xã Long Hải thì
có quặng Vàng non. Các loại hải sản hiện có quanh Phú Quý rất nhiều là
Mực Nang (Sepia), mực ống (loligo), mực tuộc (Calmar), mực túi
(Octopuspunotatus), các loại cá Hồng (Lutianus Erythropterus), cá Mú
già (Merou)..
Vào đầu thập niên 70, chính phủ VNCH đã cho các
nhà thầu quốc tế tới hải phận miền nam VN, phân lô, khoan tìm các túi
dầu và khí đốt dưới đáy biển. Kết quả các nhà thầu Mỹ đã xác định được
vị trí các giếng dầu Đại Hùng, cách Phú Quý về phía nam khoảng 150 hải
lý với trữ lượng trên 300 triệu thùng, giếng Bạch Hổ cạnh Đại Hùng,
cách Phú Quý chừng 80 hải lý về phía nam, có trữ lượng trên 600 triệu
thùng, giếng Rồng cách Phú Quý về phía nam chừng 100 hải lý, trữ lượng
trên 100 triệu thùng.. Riêng khí đốt, VN có trữ lượng trên 10.000 tỷ
Cubic feet.
Ai tới thăm Phú Quý lần đầu, chắc hẳn sẽ thích thú
và ngạc nhiên vì được gặp nhiều phong cảnh của các vùng quê hương đất
nước. Về thăm xã Ngủ Phụng vào buổi chiều, làm ta như đang sống tại các
thôn xóm dọc theo hai bờ sông La Ngà ở Hoài Đức, Tánh Linh, qua tiếng
gà cục tác gọi đàn con về chuồng, nhà nào phiá sau cũng có cầu tre nho
nhỏ với chiếc lu đựng nước bên hè và thơ mộng nhất có lẽ là những đợt
khói xanh biếc cơm chiều, khiến cho ai hồn cũng lâng lâng nhớ buồn. Xã
Tam Thanh bến cảng, chợ huyện, trên đất dưới thuyền lúc nào cũng xôn
xao tiếng người gọi nhau ơi ới, nhất là lúc thuyền đánh cá từ biển về
bờ, khiến chúng ta như gặp lại Long Hương, Phan rí Cửa. Xa xa về bãi
sau của đảo là xã Long Hải, nhà cửa san sát, xây cất toàn vật liệu nặng
như thách thức với bảo tố cuồng phong và nắng gió đại dương muôn trùng,
đâu có khác gì Cà Ná, Gành Son, Duồng..
Trước năm 1990, trên đảo
chỉ có một 1 cơ sở chế biến hải sản vì thời gian đó, VC bế quan tỏa
cảng để xây dựng thiên đàng xả nghĩa. Rồi thì chủ nghĩa cọng sản sụp đổ
hoàn toàn tại Đông Âu và Liên Xô, khiến VC phải mở cửa đón đầu tu tư
bản vào cứu đảng. Nhờ vậy, Phú Quý hồi sinh qua chương trình biển
đông-hải đảo, giai đoạn 1997-2000, qua các xây dựng hạ tầng cơ sở trên
đảo như làm đê chắn sóng, sửa sang mở rộng đường sá chạy vòng đảo, làm
ngư cảng, lập hệ thống điện nước, mở bệnh viện và trường học cấp huyện.
Song
song với đầu tư ngoại quốc, các gia đình trên đảo có thân nhân vượt
biển, cũng nhận được nhiều giúp đỡ, nên Phú Quý phát triển nhanh chóng
trở lại ngư nghiệp và nuôi các loại thủy sản quý đề xuất cảng. Tính đến
năm 2002, Phú Quý có 731 thuyền đánh cá loại 19.370CV, trong số này có
20 tàu đông lạnh, có thể muối hay thu mua những thủy sản được thu
hoạch, ngay trên biển, để tàu đánh cá không cần trở lại bến, mà vẫn
tiếp tục hành nghề. Những tàu đông lạnh này còn cung ứng những thứ cần
thiết.
Trên đảo hiện có 16 xí nghiệp vừa tư nhân cũng như quốc
doanh, chế biến các loại hải sản, 20 nhà máy làm nước đá và nhiều tiệm
chuyên sửa chửa thủy động cơ, không cần phải vào đất liền như trước. Về
phương tiện giao thông giữa huyện và thành phố Phan Thiết, đã có 3 tàu
chuyên chở hàng, trọng tải 195 tấn và 5 tàu hành khách của quốc doanh
và tư nhân, có thể cập bến tại ngư cảng mới của Phú Quý ở Tam Thanh. Về
giáo dục, trên đảo đã có trường trung học công lập đệ nhất cấp. Tổng số
học sinh trung tiểu học, theo thống kê năm 2002 lên tới 6073. Mức thu
nhập bình quân 250 US/1 năm. Hải ngư cảng Triều Dương, Hải Đăng được ây
dựng khá qui mô với hệ thống trụ neo tàu và bờ kè. Ngư dân trên đảo
cũng theo thời chế biến các hải sản xuất khẩu như cá đông lạnh, mực lột
da hay muối mặn.. Nhiều ngư dân có máy định vị, tầm ngư và vô tuyến. Về
nuôi hải sản, hiện có 21 cơ sở sản xuất cá mú, tôm hùm.. qua các lồng
bè và ao chắn ven bờ. Ốc hương, ba ba và nhất là loại cá mú đen có giá
cao, được nuôi trong khu vực kín gió tại Lạch Dù, xã Tam Thanh đang
phát triển rất mạnh.
Hiện Việt Cộng sáp nhập các đảo còn lại tại
quần đảo Trường Sa vào huyện Phú Quý, tình Bình Thuận. Do trên ngư
trường Phú Quý được kéo dài tới những ngư trường Côn Sơn, Đông Phú Quý
tiếp với hải phận quốc tế, ngư trường Trường Sa.. là vùng biển có rất
nhiều cá mập, cá hồng, cá thu, cá chuồn.. Nói chung vùng biển trên,
ngoại trừ những biến chuyển đột ngột của khí hậu, bình thường nơi này
sóng gió ôn hòa nhờ có đáy biển bằng phẳng. Nhưng trở ngại lớn vẫn là
ngư dân Bình Thuận chưa có nhiều tàu lớn để có thể hành nghề xa bờ như
ngư dân Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản.
Thế giới hiện nay đã phát
hiện được 50 loài cá mập, trong số này có 29 loài ăn thịt người rất
nguy hiểm. Vùng biển VN có 14 loài cá mập, trong đó có 6 loài dữ, sống
tập trung từ Phú Quý xuống tới Côn Đảo, Trường Sa. Do trên ngư dân các
tỉnh duyên hải từ Quảng Ngãi vào tới Bình Thuận, nhất là ở Phú Quý rất
sành nghề câu cá mập, mà dân đảo gọi là nghề săn sư tử biển. Hiện nay,
trong thời gian 26 ngày làm việc tại ngư trường Trường Sa, với 1 tàu
lớn và 6 thuyền nhỏ, ngư dân có thể câu trên 35 tấn cá mập, từ đó thu
được 414 vi cá phơi khô dùng chế biến món ăn ‘VI CƯỚC CÁ’ thượng hảo
hạng và gan dùng chế thuốc bổ ‘dầu gan cá’. Riêng thịt cá mập thì vứt
bỏ vì không ai muốn ăn, ngoài một số dân nhậu ăn tạp cho lạ miệng. Cũng
tại Trường Sa, cá mập rất thích ăn mồi, vì vậy các ngư phủ đã dùng cách
câu lưởi móc mồi và có đêm, một thuyền câu đã bắt trên 100 con cá mập
bằng lối câu kiều này, trong lúc tại các vùng khác không hề xãy ra.
Theo
Y học, thì cá mập có giá trị lớn đối với con người vì ngoài công dụng
cung cấp thực phẩm, gan cá mập chế thuốc bổ, máu cá mập có khả năng
phòng bệnh rất cao nhất là chứng ung thư. Riêng giác mạc cá mập có thể
đem ghép vào mắt người để trị các bệnh về thị giác. Hiện thê giới đã mở
một ngân hàng giác mạc cá mập.. Ngoài ra da cá mập dùng làm túi xách,
dây nịt và các loại trang sức phụ nữ, giá cao không kém da sá sấu. Tại
Âu Mỹ, người ta đã dùng thịt cá mập làm món bít tết, trong khi ở VN, cá
mập chỉ được muối mắm và một số nhỏ xẻ thịt phơi khô.
Nhưng cá
mập rất hung dữ, thường tấn công con người. Chúng hung dữ khi còn trong
bụng mẹ. Hàng năm từ tháng 5-10 là mùa cá mập tại Trường Sa. Tại Phú
Quý, nghề câu bủa cá mập lấy vi thịnh hành từ những năm đầu của thập
niên 60, sau nghề thẻ mực và nghề này càng ngày càng đuợc cải tiến.
Nhưng có một sự ngạc nhiên là tuy cùng là người Phú Quý mà cách câu cá
mập mổi xã lại khác nhau vì ảnh hưởng cũa tập quán bản địa. Theo đó,
ngư dân Tam Thanh và Ngũ Phụng, chuyên nghề câu bủa cá mập mồi chìm.
Lối câu này lấy thẻ mực làm mành và lưỡi rút, để câu các loại cá như
hồng heo, hồng phèn, hồng chuối, hồng chữ, mú chiên, mú giấy, cá thu
vốc, cá mím.. tại các vùng biển có gò, rạng.
Trái lại người Long
Hải thì chuyên nghề câu bủa mồi nổi và lặn bắt các đặc sản như đồn đột,
tôm, cua, ốc, đồi mồi tại Trường Sa. Thường thường, mỗi năm người Phú
Quý ra khơi từ 15-20 chuyến tuỳ theo thời tiết và mỗi chuyến lâu từ
15-20 ngày, để câu cá mập lấy vi,gan và lặn bắt các loài hải sản khác.
Đa số các thuyền câu tại Phú Quý thường là loại ghe có công suất 33-45
CV. Để chuẩn bị cho một chuyến xa khơi câu bủa cá mập, mỗi thuyền
thường mang theo từ 20-25 kẹp cheo câu. Thường thì mỗi kẹp được kết lắp
độ 20 thẻo câu và khoảng cách giữa mỗi thẻo câu, có chiều dài khoảng
20-30 sãi tay, tương đương từ 30-45m. Tóm lại mỗi kẹp câu có chiều dài
chừng 1km. Khi hành nghề, các câu bủa được nối liền nhau, thành một
vòng bao có chu vi tới 20-30 km. Ta.i nhũng điểm nối của các kẹp câu,
ngư dân dúng đá dằn xuống sát đáy biển, phiá trên có phao và cờ hiệu
làm dấu. Mồi dùng câu cá mập là các loại cá ngừ, nục, cờ, heo, đuối.
nhái, ó. Hiện nay các thuyền câu cá mập đều được trang bị thêm trục
kéo, do trên việc thu câu dễ dàng hơn kéo tay như trước đây. Tuy nhiên
mấy năm gần đây, việc câu bủa cá mập càng càng càng khó khăn vì ghe
thuyền hành nghề tại vùng biển Trường Sa quá đông đảo, vừa làm lượng cá
ít ỏi dần và trên hết làm đứt câu của ngư dân. Mặt khác nhiều người
la.i sử dụng chất nổ, khiến cho nghề bủa cá thêm bấp bênh và nhiêu ngư
dân lại quay về nghề cổ truyền như câu thẻ, mành mực, câu cá tại các
gò, rạng quanh biển Phú Quý.
Mới đây trong vùng biển Bình Thuận
lại xuất hiện loại Mực Tuộc Đốm Xanh là một loại thủy tộc rất nguy hiểm
với sanh mạng con người, nhất là những thợ lặn. Loài mực này thường gặp
ở biển Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh.. Theo
tin tức, thì vào ngày 18-5-2003, một thợ lặn ở Hàm Tân, Bình Thuận
trong lúc lặn dưới biển thì bị một con mực đốm, màu xanh, to bằng ngón
tay cái cắn vào đùi và chừng 30 phút sau, nạn nhân bị co giật và chết.
Theo
các nhà khoa học, thì đây là loài mực tuột đốm, qua cái tên
Hapalochlaena Lunulata (Quoy and Gaimard, 1832), là loài mực từng cắn
chết người ở Mỹ Tho, cũng như gây ngộ độc thực phẩm cho 33 người trong
đó làm cho 4 người chết tại Bình Thuận. Theo các nghiên cứu tại Viện
Hải Dương Học Nha Trang, cho biết Loài Mực Tuộc Đốm Xanh có mang độc tố
Maculotoxin (MTX), với hàm lượng rất cao,lên tới 4,287 micro gram/100g
chứa trong tuyến nước bọt, có thể giết chết người. Ngoài độc tố này còn
thấy trong khắp cơ thể kể cả râu.
Một con mực độc này, khi
trưởng thành qua kích thước 140-150mm, nặng 20-29g, có chứa một lượng
độc tố đủ giết 10 người. Loại độc tố này rất giống độc tố thần kinh
Tetrodotoxin (TTX) ở cá nóc. Khi bị mực cắn, chất độc từ tuyến nước bọt
theo răng vào máu người. Nạn nhân chừng vài phút sau thấy ngứa, nơi vết
thương bị bỏng, rồi chân tay run rẩy, bắp thịt tê cứng, bệnh trạng kéo
dài chừng 2 giờ, nạn nhân chết trong sự tĩnh táo. Loài mực này thường
sống ẩn trong các hang đá nhỏ dưới nước, chúng rất dễ phân biệt với
những loại mực tuộc hiền (Octopus), nhờ làn da của chúng có những đốm
tròn xanh da trời lớn và râu rất khác biệt. Chúng có thể sống trên cạn
vài ba tiếng nhờ làn da có lớp nhầy luôn giữ được đổ ẩm. Mực này như cá
nóc, không ăn được vì có chất độc chứa khắp cơ thể từ thịt, nước bọt
đến gan ruột và cơ quan sinh dục.
Nói chung, nhờ tiền thân nhân
từ hải ngoại giúp đỡ và vốn đầu tư của tư bản, mấy năm gần đây, người
Phú Quý bớt nhọc nhằn. Nhà cửa trên đảo đều tường gạch mái ngói thềm
lót đá hoa, đời sống tiện nghi không thua chốn thị thành.
Tới
thăm đảo, nếu khởi hành từ Ngũ Phụng đi về hướng bắc sẽ gặp Miếu Bà,
Lăng Ông, Mõm Vàng, Mũi Trâu nằm, Doi Thầy Chúa. tại đây có nhiều miếu
thờ Thầy Nai, tương truyền là lính của Trịnh Hoà, thái giám đời Minh
bên Tàu, đi khảo sát phương nam, bị bệnh chết, nên đem chôn đứng trên
đảo. Hiện ngôi mộ đá này vẫn còn và có hình dạng như một miệng giếng.
Hàng năm tới ngày 12 tháng 6 âm lịch, dân đảo tổ chức cúng mừng ngày
vía, có hát bội và hò bá trạo. Hai bên miếu hiện còn hai con rái cá
bằng đá, tương truyền do chính vua Gia Long khi tẩu quốc tới đây năm
1783, đã sắc phong và được khắc vào đá, bằng tám chữ ‘ Tả Hữu Lang lại,
Nhị Đại Tướng Quân ‘ Qua khỏi Long Hải, nhìn lên thấy Hàm Rồng trên núi
Cao Cát, lưng chừng núi có chùa Phật Linh Sơn Tự. Rồi tới Lạch Thế, xóm
ông Cội, Lạch Dù, Lạch Bãi Phủ nơi có hang cá mập về tu khi già. Vào
điạ giới xã Tam Thanh thấy miếu thờ trời, Doi Lĩnh, Bãi Đá Cửa Khổng,
Bàn Thang cùng nhiều hang động lạ mắt. Đây là cửa sâu, dưới chân núi
Đụn (44,9m), qua Doi Cát Vinh tới Cồn Giữa, nối liền với Hòn Tranh khi
nước cạn, tiếp với Lạch Chỏi, Lạch Chùa thuộc xã Tam Thanh, hiện là ngư
cảng chính của Phú Quý.
Trên Hòn Lớn hiện có 3 Vạn thờ Nam Hải
Đại Tướng Quân (Cá Ông) và 6 ngôi chùa thờ Phật đều được dân làng trùng
tu. Tại Hòn Tranh có Gò Cạn Đá, Gò Móng Tay, Bãi Nam, Bãi Nồm, Bãi Bắc,
Vũng Gần, Vũng Bàn, Mũi Xương Cá, Vũng Phật. Chính tượng Phật Thích Ca,
thờ trong Linh Quang Tự ở Triều Dương, được nặn bằng đá bột trên đảo
hòn Tranh, từ đầu thế kỷ 20. Ở đây còn có hang Cá Cơm, hang Cò Nước, Cò
Khô, nơi trú ẩn và sinh đẻ của cò. Ngoài ra còn có miếu thờ tướng quân
Bùi Huy Bích (1744-1818), nhà Nguyễn. Theo tài liệu còn lưu trữ, năm
1928, Pháp mở trường sơ cấp Ngũ Phụng với ba lớp đồng ấu, dự bị và sơ
đẳng.
Hiện Huyện Phú Quý bao gồm thêm các đảo Trường Sa, An
Bang, Song Tử, Tiên Nữ và Sinh Tồn.. gọi chung là Trường Sa, thuộc tỉnh
Bình Thuận. Trường Sa gồm nhiều đảo, xếp thành hình vòng cung, nằm về
phía đông nam VN. Thời tiết ở đây gần giống Nam Phần, mùa nắng từ tháng
giêng đến tháng năm, những thang còn lại đều là mùa mưa. Nhờ có biển
bao quanh , nên nhiệt độ trên đảo trung bình 25 độ C, ban đêm mát hơn
trên đất liền.
Đây là vùng bão tố, có thể nói là không bao giờ
ngớt gió, cho nên mới được mệnh danh là nơi ‘đầu sóng, ngọn gió’ vì gió
mạnh nên sóng rất cao và sóng cuộn cao trùng trùng, xa nhìn như những
bờ đê, kéo dài bất tận. Ở đây thường có bão nắng, nóng làm bỏng da, còn
cát thì chạy mịt mùng. Nhưng ngược lại ngư trường Trường Sa có nhiều
loại cá quý như Hồng, Mú, Ngừ, Mập, Thu, Tôm Hùm, Ốc Tai Tượng, Ngọc
Trai.. Tóm lại tại đây có tất cả 177 loại cá, trong đó ngư dân đang
khai thác được 60 loài. Trong số này có Cá Ngừ là loại mà người Nhật
dùng ăn sống, có giá rất cao. Riêng họ cá Hồng chiếm 45%, cá Mú 10,3%,
cá Thu 3,5 %. Ngư dân Phú Quý tới Trường Sa, chủ yếu khai thác cá Hồng
và cá Mập lấy vi, gan. Mỗi chuyến thường kéo dài 15-20 ngày. Ngoài ra
còn có tôm Hùm, cua Huỳnh Đế, Đồi Mồi, Ngọc Trai, Hải Sâm, Ốc Tai
Tượng, Cá Mú. Ngư dân còn bắt được nhiều rùa biển (víchhay Đú), khi
chúng ngủ trên mặt nước hay trong mùa giao phối
Người Phú Quý
khi tới làm biển ở Trường Sa, rất chú trọng tới động tác của chim Hải
Âu. Đây là loài chim khí tương, khi chúng đi kiếm ăn xa, ắt là thời
tiết tốt, sóng yên gió lặn. Những ngày chỉ bay quanh quẩn ven bờ, thời
tiết xấu, không gió lớn thì cũng mưa giông. Đến khi nghe chúng kêu réo
inh ỏi và bay hàng đàn trên đầu kiếm chỗ ẩn náo, là dấu hiệu báo trời
sắp có bão tố.
+ Lòng Tin Thầy Chúa Trong Lòng Ngư Dân Phú Quý:
Khi
viết về quê hương Phú Quý của mình, nhà văn, nhà biên khảo Mỹ Khê (Đổ
Minh Hứng), có nhắc tới THẦY và CHÚA là hai đấng thần linh, được tin
tưởng tuyệt đối trong lòng hầu hết mọi người sống nơi hải đảo.
Theo
Thượng Tọa Thích Quảng Thanh, sư trưởng chùa Bảo Quang tại nam
Califonia, thì Thầy và Chúa trong lòng người Phú Quý, đó là lòng thành
khẩn và niềm tin của người mộ đạo.
Riêng với người Phú Quý, thì
Thầy và Chúa, coi như là sự tổng hợp tất cả lòng tin từ mọi tôn giáo
trong lòng họ như Đức Phật, Ông Nam Hải, Thần Thánh, Kẻ Khuất Mặt, kể
cả Bà Chúa Đảo người Chàm. Có điều là trong lúc cúng tế, qua những
nguồn tín ngưởng truyền thống lâu đời , người dân ở đây lại nhắm vào
hai đấng linh thiêng của họ, mà qua tin tưởng truyền từ đời này sang
thế hệ nọ, ai cũng nói là Thầy Chúa, đã che chở và cưu mang họ, trong
mọi trường hợp nguy khốn, bệnh tật, bảo táp và ngay chính khi tiếp cận
với sự chết chóc tại chiến trường.
Thật ra tới nay, biểu tượng
của Thầy và Chúa, chẳng một ai biết chính xác về xuất xứ, mà chỉ theo
lời kể, huyền thoại cùng nổi cô vọng mơ hồ, lâu ngày trở thành sự thật
của một niềm tin. Hình ảnh đó tuỳ theo cơ duyên của niềm tin. Đối với
các tin đô Phật giáo, thì họ quan niệm đó là Phật Bà Quan Âm. Đối với
những ngư dân hành nghề trên biển, thì đó là Nam Hải Đại Tướng Quân.
Nói chung tuyệt đại quần chúng trên đão Phú Quý, thì đó là những hình
ảnh thiêng liêng trong tâm tưởng, làm điểm tựa của một niềm tin sắt đá,
tạo nên sự thành công trên đường đời, từ đó đến nay. Cho nên không ngạc
nhiên khi biết, những người Phú Quý hải ngoại đang định cư tại San
Francisco và San Bernardino, hàng năm vào tháng bảy âm lịch, tổ chức
cúng tế rất linh đình trang trọng và đây cũng là dịp để người người trả
ơn cứu độ.
Những di tích còn lại lâu đời trên đảo như mộ và dinh
thầy, miếu bà chúa xứ, được người địa phương gìn giữ và tôn sùng. Vào
những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, mộ thầy được trùng tu theo mô
hình bát quái, một hình thức mà các thầy đia lý gọi là phép ếm đối. Sự
trùng hợp ngẫu nhiên sau đó là trên đảo luôn xãy ra sự bất ổn, khiến
cho chính quyền cũng lưu tâm. Theo Đỗ Minh Hưng viết, do vậy cho nên
trong một lần kinh lý, Đại Tá Tỉnh Trưởng Bình Thuận là Ngô Tấn Nghĩa
tới thăm Phú Quý, đã ngạc nhiên về ngôi mộ thầy, nên theo lời các bậc
trưởng thượng trên đảo, yêu cầu chính quyền sở tại xây lại mộ thầy như
hình dạng nguyên thủy đã có từ xưa.
Xưa nay ta biết, mỗi thần
tích đều bắt đầu bằng một câu chuyện tiền kiếp. Trong tâm khảm của
người Việt, vẫn có sự khác biệt trong cùng một niềm tin của nông dân và
những người thương buôn hay dân chài sống quanh năm trên biển cả. Cho
nên với người nông dân bình yên trên đất liền, giáo lý của tôn giáo mới
là điều quan trọng. Nhưng trái lại đối với ngư dân hay giới thương hồ,
sự kiện thần cứu người ngoài biển khơi mới quan trọng, ghi nhớ và do đó
thần mới được truyền bá thờ cúng lan rộng. Đối với giới thương buôn
trên biển, thần Bạch Mã (Thái Giám), đươc tôn sùng trong một thời gian
dài. Với người dân biển, quanh năm tiếp cận với sóng gió, thì vị Bồ Tát
đó là Avalokitesvara, Quan Âm của Phật giáo Đại thừa và Quan Âm Nam Hải
của dân qua lại trên biển đông, mỗi khi gặp tai nạn thường khấn nguyện
kêu cứu.
Một truyện tích đi theo lớp lưu dân Trung Hoa qua hai
ngã đường bộ và đường biển, cùng với những thần tích, nhân vật mang
những hình dạng huyền thoại không dễ gì nhận ra, vì mất đi tính chất sự
tích của lúc ban đầu. Giống như truyền thuyết về thầy chúa tại Phú Quý,
khởi nguồn từ một ngôi mộ truyền khẩu là của một hoa thương hay là gia
đình Tưởng Giới Thạch, qua sự kiện một vài người Hoa từ Phan Thiết tới
cúng kiến. Điều ngạc nhiên là dân Phú Quý hoàn toàn là Đại Việt, vậy sự
tích thầy là người Hoa có gì liên hệ mà họ phải cúng kính? Thật ra đây
là sự nối tiếp giữa nên văn hoá Việt và nền dân tộc học của người Chàm,
đã có một thời vẩy vùng trên biển khơi. Sự thờ kính thầy chúa trên hải
đảo ngoài khơi Bình Thuận, chính là sự nối tiếp Chàm-Việt, qua đó người
địa phương vốn đến từ miền ngũ Quảng, đã tưởng tượng từ ý nghĩa, tính
‘thái giám’ của thần tích, nên ghép chung thầy Tàu và chúa Chàm, đó là
truyện tích và sự thờ cúng thần thánh tại Phú Quý, trong dòng tín
ngưỡng dân gian của người Bình Thuận.
Cũng trong câu chuyện thần
tích, liên quan dến thần biển, đảo, trong truyện tích Việt-Chàm Bình
Thuận, vẫn hay nhắc tới chuyện tướng Tài Công Lan, Kỳ Hoạt Bát hay
Cathun.rât được dân chài vùng Mũi Né, Phố Hải cúng tế. Rồi thì người
Chàm vong quốc, những ông thần Chàm cũng chạy theo và người Việt lại
thay vào đó là ông Bổn, tức là thái giám Trịnh Hoà thời nhà Minh, được
dân Minh Hương khi tới định cư ở VN trong thời kỳ Trinh-Nguyễn phân
tranh thờ phụng.
Hiện tượng thu nhận, chuyển đổi, biến dạng
thần thánh trong dòng tín ngưởng của người Việt xưa nay, là điều thường
xãy ra khi phải giao tiếp giữa Việt-Hoa-Chàm và Khờ mer. Cho nên dù
không rõ sự tan vở quyền lực của người Chàm trên hải đảo Phú Quý như
thế nào. Tất nhiên cũng không thể suy đoán từ hiện tại để cho rằng quá
khứ thế này, thế nọ. Nhưng hiển nhiên thần thánh tại Phú Quý, một vùng
đất xa xôi của Bình Thuận, nơi mà quyền lực và văn minh của nhà Nguyễn
cũng như thực dân Pháp, không chạm tới cả một thời gian dài hằng bao
thế kỷ, đã khiến cho thần linh không có chiều hướng nâng cấp như ở đất
liền, mà phải đứng khựng lại và phát triển chiều ngang theo tầm mức dân
sinh trong lòng người bản địa.
Tuy khởi nguồn từ cái nôi văn
hiến của ngũ Quảng, nhưng rỏ ràng các lưu dân Phú Quý chỉ là lớp dân
biển sống ven duyên hải Trung phần, nên tính tình cũng như bản chất rất
bình dân, họ chỉ lưu tâm tới các thần thánh sát đời sống nghề nghiệp
hằng ngày của mình như thổ địa, ma quỷ, thần cây đa ma cây gáo, hơn là
các vị thần ngất ngưởng trên tòa sen Phật giới cao tít. Có điều phải
công nhận là dù lưu dân có ngang bướng, dọc ngang thế nào chăng nửa
nhung họ luôn biết, ngoài thần thánh của mình mang theo, không có bao
nhiêu, nên phải tiếp nhận thêm thần của người tại bản địa, để ứng xử
cho hợp với thực tế.
Cũng dễ hiểu khi giải thích, vì người lưu
dân thời trước gần như sống trong cảnh bị đem con bỏ chợ, nhất là trong
khoảng thời gian từ 1862-1945. Lúc đó triều đình càng lúc càng xa, mà
cuộc sống của lưu dân càng lúc càng mõng manh. Do thiếu quyền lực trần
thế bảo vệ, người dân sống trong vùng cô tịch, bổng sợ cõi vô hình,
dưới những dạng khuất lấp khó lường. Rồi do những sự đe dọa thường
nhật, cho nên dù Việt và Chàm có hai nền văn hoá khác biệt nhưng lại
chung sự thờ cúng thần biển, nên sự hòa đồng sau đó, mà điển hình là
lòng tin kính thầy và chúa.
Trong dòng lưu dân Trung Hoa, tới
lập nghiệp tại Đàng Trong vào thế kỷ XVII và sau đó, đa số làm ăn phát
đạt là nhờ hưởng được quá nhiều, chính sách dung dưỡng và bao che của
thực dân Pháp trên lãnh vực kinh tế. Nhưng không phải vì thế mà họ là
những khuông mặt xuất sắc về văn hóa và tư tưởng so với trí thức VN,
ngay cả những người được gọi là tổng binh, đô đốc.. bỏ nước ra đi để
phản Thanh, phục Minh.
Về thương buôn lại càng tệ hơn vì đa số
ít học nhưng nhờ có tiền và thế lực kinh tế, nên đã gây ra những phản
ứng ngược trong dòng tín ngưỡng dân gian người Việt.
Ngoài ra
Đàng Trong cũng là cửa ngỏ đón tiếp lưu dân Minh triều đầu tiên nhập
Việt, trước khi được phép xuôi về Nam khẩn hoang, nên cũng mang đầy dấu
ấn của Thiên Địa Hội. Phú Quý là một vùng đất hải đảo xa xôi đất liền,
nên không bị khủng hoảng về tín ngưởng trong suốt thời gian Pháp thuộc,
do sự lấn áp của chủ nghĩa kinh tế tư bản Tây phương, trước trào lưu
tam giáo Phật, Lão, Thích. Trong khi Bình Thuận và cả nước, từ Việt,
Hoa, Khmer, Chàm.. sôi động trong sự khủng hoảng, đảo lộn vì sự chiếm
đóng của người Pháp, thì Phú Quý vẫn hạnh phúc trong cảnh thanh bình
biển sóng, trời mây, giữa lúc người Việt đành mang cái riêng ngàn đời,
để hội nhập vào trong cái chung cũa tư tưởng thế giới, thì người dân
biển cũng chỉ biết ‘Khấn Vái, Cầu Phước’ và may mắn thay cho ho, là hầu
hết tai nạn đều qua khỏi, trước ngày giặc Băc tới đô hộ đảo sau tháng
4-1975. Đó là sự thành khẩn trong niềm tin, một tôn giáo của Phú Quý
qua thần tích ‘THẦY VÀ CHÚA‘
+ Lệ Cúng Thầy Chúa của người Phú Quý định cư tại Hoa Kỳ:
“Hồn tôi bỗng vỡ làm đôi
Nửa nơi đất khách, nửa nơi quê nhà”
Đó
là hai câu thơ mà nhà văn kiêm nhạc sỹ Anh Vũ, đã mở đầu trong bài viết
về Lệ Cúng Thầy Chúa hằng năm, của người Phú Quý, tỉnh Bình Thuận tại
Hoa Kỳ. “ Thật vậy, rất là bất ngờ, tôi đến nơi địa điểm đăng đàng lễ
cúng Thầy Chúa trễ hơn mười lăm phút, nên chiên trống đã trỗi lên liên
hồi, cờ đuôi neo ngũ sắc, đại kỳ Việt Mỹ hàng hàng tung bay phất phới.
Người người trang nghiêm, chỉnh tề hướng về bàn thờ hai vị thần linh
“Thầy Chúa” lộng lẫy, uy nghiêm nghi ngút hương trầm. Ban tế lễ mặc
những y phục cổ truyền xanh đen óng ả mượt mà. Hơn chục vị, trên nét
mặt người nào người nấy lộ vẻ nghiêm trang thành khẩn. Bàn thờ lớn
chính giữa, với những bài vị, hoành phi câu đối đỏ vàng hai bên, những
chân đèn đồng bóng loáng được chiếu sáng bởi các ngọn nến, khói nhang
hương trầm nghi ngút uốn lượn làm tăng thêm vẻ huyền bí của buổi tế lễ.
Hai bên bàn thờ chính là hai bàn thờ nhỏ. Phía trước cũng có một bàn
thờ thấp hơn, bàn nào cũng có những bông hoa tươi đỏ thắm, nải, quả và
đầy đủ thực vị của ngày cúng giỗ cổ truyền. Đặc biệt nơi này có thêm
một con bê thui được cúng tế như hồi còn ngoài Đảo.
Sau hơn một
tiếng đồng hồ dâng sớ, châm rượu, tôn vinh công đức Thầy Chúa với đầy
đủ nhang khói, chiêng trống phèng la củaban nhạc cổ truyền, mọi người
được phép vào bàn thờ thắp nhang, vái lạy, cầu xin, bày tỏ lòng biết ơn
thành kính của mình đối với hai vị thần linh Thầy Chúa rất linh thiêng
đã và đang phò độ cho con dân Đảo Phú QuiÔ giữa nơi sóng nước bao la từ
bao đời nay tai qua nạn khỏi.
Đặc biệt nhất là sau khi CS
cưỡng chiếm miền Nam, với chính sách độc tài chuyên chính, vô sản hóa
toàn dân, bà con Hải Đảo phải cắn răng giã từ mồ mả ông cha ra đi. Nhờ
Thầy Chúa phù hộ, tính cho đến nay khoảng hơn 2000 người đã đến được
bến bờ Tự Do mà “không có một người nào mất tích trên biển”, trong đó
tôi, một trong những người khách cưu mang những “ân tình ân nghĩa” đối
với bà con Phú QuiÔ và nhất hai vị thần linh Thầy Chúa-thể hiện lòng Từ
bi, đức độ Bồ Tát cứu độ chúng sinh, y như đạo hạnh của Đức Phật Quan
Thế Aạm: “chúng sanh còn đau khổ, thì Ngài còn ở lại thế giới Tà Bà để
phổ độ”.
Đây không phải là lần đầu tiên tôi dự ngày lễ cúng Thầy
Chúa của bà con Hải Đảo. Cứ vào khoảng những ngày đầu mùa hè hàng năm,
dù được mời hay không, khi nghe tin đến ngày cúng là tôi đều có mặt.
Nhưng những năm trước vì bà con mới định cư, nên cách thức trang trí,
nghi lễ văn điếu, lễ tế, và địa điểm hành lễ có phần đơn sơ. Thế mà bà
con Hải Đảo thông qua Hội Đồng Hương Phú QuiÔ Nam California quy tụ hơn
hai trăm người. Càng ngày con số này gia tăng đáng kể. Như hôm nay có
thêm bà con từ San Francisco về. Hội có ban nhạc, ca sĩ riêng.
Tuy
là cây nhà lá vườn, nhưng trình diễn vô cùng điệu nghệ. Khoảng 300
người quay quần bên nhau chuyện trò líu lo hớn hở. Người nào việc nấy:
các chị xào nấu, mùi thơm thức ăn, gia vị bốc lên làm ngào ngạt cả núi
rừng công viên Pomona. Các anh, dọn dẹp vệ sinh, sắp xếp bàn ghế và
chia nhau bày trò chơi với các em thiếu nhi. Họ làm việc tự do sốt
sắng, không so đo nhìn nhau hơn thua, nghi kỵ. Không áo mão cân đai
giấy tờ phát biểu, chụp hình quay phim, danh tước hão huyền.
Mặc
dù dễ vượt biên, nhưng vì không muốn xa rời mồ mả ông cha, nên số người
tìm Tư do sau năm 1975 khoảng hai ngàn. Hầu hết sống tập trung ở San
Francisco, San Bernadino, Texas, Hawaii và các miền biển đông nam Hoa
kỳ. Cũng cóÔ một số rất ít ở xa như Nauy, Pháp, Thụy Điển, Úc... Họ làm
việc cần cù siêng năng cần mẫn. Đa số là nghề may, thẩm mỹ, lái taxi,
làm biển... Sau hơn 20 năm người dân bình dị hiền lành, hiếu khách nơi
miền biển, đã trưởng thành hội nhập nhanh vào dòng chính mẫu quốc, nên
họ có được đời sống, việc làm ổn định. Cho dù sống ở nơi đâu người dân
Phú Qúiỳ cũng tụ tập, đùm bọc quay quần bên nhau chịu khó dạy dỗ con
cái, noi gương Thầy Chúa nên thế hệ thứ hai đã bắt đầu vươn lớn. Mặc dù
chưa có số thống kê chính thức nhưng khi thăm dò hỏi thăm, cũng biết
khá nhiều con em Phú QuiÔ đã có mặt và đỗ đạt trong các ngành kỷ sư,
điện toán, y, nha, dược và cũng có một số tham gia trong chính quyền sở
tại.
Càng đi xa con người lại càng có khuynh hướng nhìn về quê
cha đất tổ, mặt dù nơi xa xăm kia chỉ là vách lá cọng rau. Cho dù con
cháu lớn lên nơi xứ người nhưng mỗi khi có lễ cúng Thầy Chúa ta thấy
trẻ em đông không thua gì người lớn. Đó là niềm tự hào và cũng là điều
ước mơ chung của các bậc cha mẹ: “đi đâu thì đi, làm gì thì làm. Nhưng
đến ngày lễ cúng Thầy Chúa thì về.”
Điều chắc chắn rằng những
nhân chứng sống như Nguyễn văn Đồng Nauy, Đỗ Minh Hưng San Bernadino,
Nguyễn Duy Trung Santa Ana, Đỗ Minh Hùng ca sĩ cổ nhạc Westminster...
đều xác nhận rằng Thầy Chúa đã và đang phù hộ cho tất cả những người
vượt biển tìm Tự Do từ Đảo và không một người lính VNCH nào tử trận
trong cuộc chiến chống CS vừa qua.
+ Dinh Thầy Thiếm tại Hàm Tân, Tỉnh Bình Thuận:
Mấy
chục năm về trước, khi biển Bình Thuận chỉ cần một chiếc thuyền nan nho
nhỏ với cánh buồm lá buông thô sơ, là có thể chạy ven bờ hốt những mẻ
lưới đầy cá nục, cá mòi.. như lúc nào cũng nhởn nhơ bơi lội trên mặt
nước. Trong đất liền thì rừng già ngun ngút, gỗ quý đầy đất nhưng rất
ít người khai thác. Do đó vào thời Pháp thuộc, nhiều người Âu, Ấn và
Hoa kiều đã tìm đến đây để mau chóng phát đạt hơn các miền khác. Bởi
vậy người bản địa ngày xưa đã có câu vè: ’Ai muốn nghỉ mát thì lên Đà
Lạt, còn muốn hốt bạc thì về Hàm Tân‘.
Đây là một vùng đất có
biển cả mênh mộng và rừng núi bạt ngàn, quê hương êm đềm ở đâu nhìn
cũng thơ mộng như một bức tranh thủy mạc, trong đó biển khơi xanh ngắt,
thảo nguyên rừng núi giao duyên. Toàn huyện hiện có 94.400 ha đất tự
nhiên, trong đó rừng chiếm diện tích hơn một nửa diện tích. Rừng Hàm
Tân trước đây có rất nhiều gỗ quý, gỗ dầu, bạch đàn, lá buông.. theo
các chuyên gia ngoại quốc, đất đai ở đây cũng rất thích hợp trong việc
trồng dâu nuôi tằm, bông vải, đào lộn hột, các loại cây có chất dầu,
bạch đàn và tre nứa.
Hàm Tân có 37 km bờ biển và cũng là một ngư
trường lớn của tỉnh Bình Thuận. Bãi biển Hàm Tân cũng rất thơ mộng với
nhiễu bãi tắm như Ngảnh, Tam Tân, Đồi Dương LaGi, Tân Thắng.. hầu hết
đều đẹp và thơ mộng không thua bất cứ một bãi biển nào trong tỉnh Bình
Thuận hay biển Ninh Chữ, Ninh Thuận. Đây cũng là một tặng phẩm của trời
đất dành cho người biển mặn. Đây còn là quê hương thứ hai của loài
phong lan, sau Đà Lạt như giống lan nhất điểm hồng, hồ điệp, ngọc
điểm.. rất được các giới cây kiểng ưa thích.
Trước năm 1975,
đường sá trong huyện đã được khai mở rất nhiều, chỉ vì Việt Cộng ngày
nào cũng đắp mô, chôn mìn, nên nhiều nơi thành hư hại hoang phế. Ngày
nay nhờ tiền đầu tư lấy lời và đóng thuế tiêu thu tới dân chúng, nên
Việt Cộng đã phải nâng cấp sủa chữa và mở mang hệ thống hạ tầng cơ sở
theo giao kèo với các chủ nhân ông tư bản. Do trên tới năm 2004, Hàm
Tân đã có một hệ thống đường bộ, thiết lộ và thủy vận, tương đối thuận
lợi, từ thị trấn La Gi, tới Phan Thiết, Vũng Tàu và Sài Gòn, cũng như
xuyên suốt các huyện miền núi phía tây Tánh Linh và Đức Linh.
Khắp
huyện có nhiều khoáng sản như than bùn, cát thủy tinh, sa khoáng, loại
đá quý như óp lát, ti tan.. đều lộ thiên, rất dễ khai thác. Hiện đã
trồng được hơn 200 ha dâu nuôi tằm, 3000 ha đào lộn hột và 8000 ha bạch
đàn. Về ngư nghiệp, toàn huyện hiện có 1160 thuyền đánh cá, với công
suất 50.460 mã lực, trong đó có 28 thuyền trọng tải lớn, chuyên đánh cá
ngừ đại dương xa khơi, gần hải phận quốc tế và quần đảo Trường Sa. Sản
lượng thủy sản thu được từ 30.000-35.000 tấn/1 năm, chiếm 1/3 tổng sản
lượng toàn tỉnh Bình Thuận.
Ở Hàm Tân, hiện đã có 159 trang trại
chiếm một diện tích 1422 ha. Chăn nuôi cũng phát triển từ năm 2000, với
đàn bò lai sind, heo nạc, gà vịt sai trứng. Ngư cảng trên bến Chương
Dương, tại thị trấn La Gi, nơi toàn ghe thuyền trong huyện đậu, được
xây kè hai bờ sông Dinh.
Nằm bên hữu ngạn sông Dinh hiền hòa thơ
mộng, thị trấn La Gi có diện tích 6,95 km2 và dân số 30.097 người. Đây
là miền đất chuyên sống bằng ngư nghiệp, chế biến hải sản và phát triển
du lịch tại Bãi tắm Đồi Dương, Hòn Bà, Ngảnh, Tam Tân, Đập Đá Dựng.
Dinh Thầy Thím thu hút nhiều khách thập phương. Quốc lộ 55, nối La Gi
với suối nước nóng Bình Châu và Vũng Tàu. Tuy nhiên từ năm 2003, sóng
lớn đã làm sụp lở nhiều nhà cửa dân chúng, lở sâu vào bờ hơn 50 m và
chạy dài tới nửa cây số. Đa số các nạn nhân thuộc lớp nghèo, nên không
đủ tiền mua đất cắm dùi, phải sống ven cồn và lãnh tai nạn thương xuyân
khi trời nổi cơn gió bụi thất thường.
Với bờ biển chạy dài hơn
40 km, từ Bình Châu (Bà Ria), tới Tân Thuân (Hàm Thuận Nam), với bãi
cát trắng, rừng phi lao, tạo nên phong cảnh vừa hoang dã nhưng cũng
thật hữu tình, dễ làm mê lòng người khi tới đây du ngoạn và nghỉ mát.
Vùng này cũng có rất nhiều di tích củ, chẳng hạn như Dốc ông Bằng, nơi
bắt đầu của đảng cọng sản đệ tam quốc tế, từ Liên xô vào Bình Thuận năm
1930.
Dinh Thầy Thím với lối kiến trúc độc đáo, nằm giữa một
cánh rừng cô tịch, thờ một sĩ phu triều Nguyễn, vì đời ở ẩn làm nghề
thầy thuốc giúp đời. Hằng năm vào rằm tháng chín âm lịch, có lễ tế thu
truyền thống, thu hút nhiều khách thập phương từ mọi nơi về cúng bái.
Đập Đá Dựng có từ thời Pháp thuộc, tạo thành bởi những bờ đá, to nhỏ,
hình thụ kỳ dị, chồng chất giữa dòng nước bạc mông mênh. Đây còn có
chùa Một Cột Bình Tuy, đứng giữa rưng hoa anh đào, hương hoa bát ngát,
nở rộ vào lúc xuân về. Tại Tân Hải, có một mạch suối nước nóng, trữ
lượng chất khoáng và độ sôi cao, không thua gì suối nưóc nóng Bình Châu
hay Vĩnh Hảo.
Do nằm giữa hai trung tâm du lịch lớn là Vũng Tàu
và Phan Thiết, nên Hàm Tân được các nhà đầu tư trong và ngoài nước chú
ý đặc biệt và đánh giá cao, bõ nhiều nguồn vốn đầu tư vào, để xây dựng
các tuyến đường bộ trong vùng, dẫn tới khu du lịch. Quôc lộ 1A, qua hai
xã Tân Nghĩa, Tân Minh. Quốc lộ 55 chạy ngang qua bảy xã nối với quốc
lộ 1A, với vùng duyên hải, từ La Gi đi Phước Hải, Bình Châu, Bà Rịa.
Tỉnh lộ 710, nối liền xã Tân Minh với Tánh Linh, Đức Linh. Tại Tân
Minh, một xã sát nuí, đã có đường đi vào khu kinh tế mới Núi Rao trồng
mía và bông vải. Ngay cây số 46, tức là căn cứ 10 cũ, nay là xã Tân
Nghĩa, có quốc lộ 55 ngang qua Tân Hà, Đông Thuận, Đông Hiệp, Đông Hòa,
Đông Thanh.
Ngảnh Tam Tân là một bãi tắm hữu tình, nằm cách
huyện lỵ 10 km, cách bến xe Tân Hải và tỉnh lộ 709 chừng 200m. Đây là
một vùng du lịch, bao gồm Dinh Thầy Thím, Hồ Núi Đất và Ngảnh. Một vùng
biển đẹp như có bàn tay ve vuốt của của sóng nước, nổi u tịch của rừng
chiều và nét trầm tư muôn đời cũ non cao, mây nổi. Tất cả đã khiến cho
mọi người bâng khuâng vương vấn, trước hàng dương liễu vi vút trước
gió, tiếng sóng vổ xôn xao và bãi cát trắng mịn màng, như chờ đợi trong
lặng lẽ muôn đời. Tóm lại từ ngày mở cửa, khu bãi biển Tam Tân (Tân
Hải), đã đón hàng vạn du khách đến đây tắm biển, vui chơi trước non
nước hữu tình. Ngoài ra, mọi người đến đây còn có chủ yếu là đi cầu
lộc, cầu tài ở Dinh Thầy Thím. Theo lệ, thì năm này xin lộc, năm sau
phải đến trả, cứ như thế cái vòng nợ nần cứ quay tròn.
Hàng năm,
sau tết Nguyên Đán, mùa câu thu lại về và thường kéo dài tới ba tháng,
bắt đầu từ tháng ba. Suốt thời gian này, các thuyền câu cá thu, có công
suất từ 56 CV trở lên, làm những chuyển biển xa khơi dài ngày, từ 20-30
tháng. Vùng đánh cá thu quen thuộc, thường là ngư trường quanh Côn Đảo,
Trường Sa, Lạch Dù, rạng Xanh, Rạng Ông Bá..
Trong số 3000
thuyền đánh cá của địa phương, có chừng 100 chiếc công suất lớn, có thể
vượt biển xa. Thuyền đánh cá thu, khi ra khơi thường mang theo cả trăm
cây nước đá, lương thực và xăng dầu dùng đủ một tháng biển. Thuyền câu
cá thu thường có 7-8 người bạn, đều trang bị câu tay và câu vàng. Cần
câu tay cá thu thường dài khoảng 3m, bằng tre đặc, trên đầu có gắn một
khoen đồng có đường kính 1 lóng tay. Cước câu thu, dài từ 80-100m, được
cuộn trong một ống câu gỗ, có xẻ rãnh để giữa cước đừng tuộc. Trước khi
móc lưỡi, dây cước được luồn qua khoen đồng, để thuận tiện khi quăng
câu thêm xa, hoặc thu dây về khi cá cắn câu.
Loại câu vàng rất
tốn kém. Cước lớn có đường kính bằng chiếc đũa, chiều dài từ 500-2000m.
Ngoài ra còn phải mua cước nhỏ, phân thành nhiều đọan nhỏ, từ 3-4m.
Trên đoạn dây Triên ( dây lớn), cứ cách khoảng 15m, cột một dây Thẹo
(dây nhỏ), đoạn cuối buộc một chùm lưỡi câu độ 3, 4 chiếc theo hình
nhánh. Phải nối sao, để khi cần giật rời Thẹo khỏi Triên, khi cần thu
câu bằng trục máy. Hiện có tới 1/3 thuyền câu cá thu, đều trang bị câu
vàng dài tới 2000m. Dùng mồi cá nục sồ sống và các loại dây ny lon ngủ
sắc, để làm mồi câu cá thu, lại còn phải biết nhìn con nước, để đón độ
sâu mà thả câu. Nhờ đầy đủ kinh nghiệm nên họ thu hoạch dáng kể vào
những ngày mùa.
+ Dinh Thầy Tại Tam Tân:
Là một ngôi đền
nằm giữa một khu rừng già trong tỉnh Bình Thuận, cách thị xã La Gi về
hướng đông nam chừng 12 km nhưng không xa huyện lỵ Tam Tân là mấy. Đền
gồm ba gian, kiến trúc theo lối đình làng xưa, nằm ẩn mình dưới những
tàn cây cổ thụ lâu đời. Phong cảnh cô tịch, rừng núi hoang sơ, khiến
cho ai tới đây, cũng thêm lòng sùng bái một nơi chốn thiêng liêng và sự
tin tưởng vô hình, huyền bí về Thầy, cũng là vị thần được thờ và giỗ tế
hằng năm vào các ngày 15 và 16 tháng chín âm lịch.
Cũng giống
như Thầy Chúa ở Phú Quý, tiểu sử Thầy tại dinh Tam Tân, đến nay cũng
chưa ai biết, mà chỉ là huyền thoại hay lời đồn mà Hội Tam Quy, thu
thập và ấn hành phát cho khách hành hương khi tới trẩy hội.
Theo
tài liệu, Thầy sinh vào thời chúa Nguyễn Phúc Ánh, tại làng La Qua, phủ
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ngoài ra còn có Thím sinh tại Yến Nê. Lúc
thiếu thời, thầy có theo bút nghiên đèn sách nhưng khoa danh lận đận,
nên bỏ đời vào núi tu đạo giúp đời, dẫn độ chúng sanh, cưa dân độ thế,
chữa bệnh và dạy người sống theo lễ nghĩa thánh hiền.
Rồi biến
cố xảy ra, thầy và thiếm bị chính vua Tự Đức, trong cuộc xử án, đã ban
tội chết bằng tam ban triều diễn. Ngày hành quyết, trước đông đủ dân
chúng, triều thần và nhà vua, thầy thiếm dùng vải điều đỏ biến thành
cặp rồng bay về phương nam lánh nạn tại rừng Tam Tân, trong huyện Tuy
Lý, tỉnh Bình Thuận.
Cũng như khi còn sống tại Quảng Nam, thầy
thím lại tiếp tục cứu dân độ thế, chữa bệnh, giúp gạo cơm cho dân chúng
trong vùng, cho nên ai cũng kính mến và xưng tụng là thầy. Tiếng tăm
lừng lẩy lan tràn, khiến mọi ngươi gần xa tìm đến theo học đạo. Để
tránh thị phi, thầy thiếm sống ẩn trong rừng sâu để lánh đời nhưng khi
dân chúng gặp tai ương hoạn nạn, vẫn xuất hiện cứu độ. Thầy thím chết
trong một lều tranh giữa rừng, được an táng tại Bàn Thông và mỗi năm
dân chúng trong vùng, tổ chức hai lần lễ, mồng năm tháng giêng là ngày
tảo mộ và giỗ tế vào rằm tháng chín.
Do cảm hóa công đức của
thầy thím, dân làng trong vùng Tam Tân lập Dinh thờ phụng cúng tế hàng
năm. Dinh theo thời gian nhờ tài vật của khách thập phương, lần hồi
biến đổi, qua nhiều lần tu bổ, trở nên nguy nga tráng lệ như ngày nay.
Về sau, qua những lời đồn đãi của dân chúng gần xa, vua Tự Đức cho quan
vào tận Tam Tân dò xét dư luận để tìm sự thật. Biết mình đã giết lầm
người hiền tốt, nên vua ban chiếu xá tội cũ và phong cho thầy làm ‘Chí
Đức Tiên Sinh’ và thím ‘Chí Đức Nương Nương’
Theo lời dân chúng,
sau khi mất, thầy vẫn thường hiện về phù hộ cho dân chúng trong vùng
Tam Tân được an cư lạc nghiệp, càng làm cho người người tôn kính thêm
và cũng vì thế, càng lúc càng làm giỗ thầy thêm lớn và ngày giỗ này,
hiện đã trở thành ngày hội Dinh Thầy.
Dinh có bề dầy lịch sử
theo sự ra đời của mãnh đất Tam Tân, thuộc tỉnh Bình Thuận. Đường vào
Dinh Thầy hiện có nhiều lối, tuỳ theo hướng khởi hành nhưng chung qui
mọi người vẫn ghé thị trấn La Gi trước, trên đường về Dinh.
La
Gi nằm cách Vũng Tàu 90 km. Đi trên quốc lộ 1, tới ngả ba cây số 46
chạy qua các xã Tân Nghĩa, Tân Hà,Tân Xuân và Tân An trên quốc lộ 55.
Sông Dinh chảy ngang qua thị trấn ra biển, có cầu Tân Lý bắc ngang
sông. Đường 709, qua các xã Tân Bình, Tân Thiện, cầu Đá Dựng tới Dinh
Thầy.
Vào những ngày hội, Hàm Tân trở nên náo nhiệt lạ thường,
kể cả thời gian trước ngày 30-4-1975, khu vực Tam Tân không mấy an ninh
nhưng dân chúng từ khắp nơi, xa từ Quảng Trị, Thừa Thiên vào hoặc lục
tỉnh, Sài Gòn, Chợ Lón và gần như Long Khánh, Tánh Linh, Phan Rang,
Phan Thết.. ai nấy đến đây, cũng chỉ để hành hương, viếng mộ và xin xăm
cầu phước. Hội Dinh Thầy thật ra không có cổ tục hay trò vui gì, nhưng
khách trẩy hội tới đây, hầu hết đều với lòng chân thành, tôn kính một
bậc hiền giả, cứu đời độ thế.. được tôn xưng là Thầy.
Tóm lại dù
ai có đi ngược về xuôi, nhưng đối với người Bình Thuận, cho dù có sống
nơi nào chăng nửa, hằng năm ngoài các dịp hội Tết Nguyên Đán, Lễ Phật
Đản, Vu Lan, Trung Thu, Giáng Sinh.. đồng bào trong cũng như ngoài
nước, vẫn có thêm nhiều lễ hội khác như Cúng Ông Nam Hải, Quan Thánh Đế
Quân, Thầy Chúa, Thầy Thiếm, Ngày Thanh Minh tảo Mộ ông bà cha mẹ.. Tất
cả những lệ cúng giổ này đều theo đúng truyền thống và nghi thức tế tự
bao đời truyền lại. Đây cũng là nét đặc trưng của người dân miền biển
mặc.
Trong không khí thiêng liêng ấm áp của Ngày Vu Lan năm nay
nơi quê người, khiến cho cõi lòng khô cóng của người lính già thêm tê
tái, khi hoài vọng về chốn quê xa, thương tiếc cha mẹ sớm qua đời,
không biết bây giờ có còn được yên nghĩ giấc ngàn thu hay đã bị xiêu mồ
lạc nấm, từ khi VC ra lệnh cầy hốt Nghĩa Trang cạnh Lầu Ông Hoàng, trên
đường Phan Thiết-Mũi Né-Hòn Rơm, từ cuối năm 2004.
Mùa Vu Lan 2006
Xóm Cồn tháng 8
MƯỜNG GIANG