Nhật ký của im lặng (II)
Theo Đàn Chim Việt - Nguyễn Văn Lục - 16-05-2006
Con đường làm chính trị thông qua cửa ngõ nhà thờ, hoặc nhà Chùa
Qua Hồi Ký Không Tên giúp chúng ta hiểu khá rõ quá khứ của những sinh
hoạt chính trị sau năm 1963. Tôi còn nhớ đến ngạc nhiên là tự mọi nơi
chốn, những người trẻ quen cũng như không quen, như một lớp sóng trào
nhảy vào chính trị rất là ngang xương, rất là “blanc-bec”. Nguyễn Hữu
Hiệp, dáng thư sinh học trò, con cháu của Molière và học trò của
Aristote, Platon đã dùng cú đá song chảo đá văng những nhà chính trị
lão thành tăm tiếng như bác sĩ Hoàng Cơ Bình. Châu Nguyễn ở Đà Lạt cũng
vậy. Dưới tỉnh, những Bành Ngọc Quý, Dương Văn Ba đã có lá bài “Miền
Nam” hay “Liên Trường”, hay địa phương. Những Ngô Công Đức, Hồ Ngọc
Nhuận, Nguyễn Văn Binh, Lý Quí Chung, Dương Minh Kính thì đúng ra mỗi
người có những lá bài “tẩy”, những lá dù che của thời kỳ đó.
 |
Phan Khắc Từ, có thẻ đảng, Phó Chủ tịch UB Đoàn kết Công giáoVN — Nguồn: daosuduytue.com
|
Họ
muốn lọt vào sinh hoạt chính trị, không có con đường nào khác qua cổng
chùa hay cổng nhà thờ. Một điều như thể bắt buộc, không làm khác được. Cha
Cố, sư sãi có giá. Điều đó chứng tỏ một chính quyền, một chế độ non
nớt. Uy quyền Quốc Gia không có. Tôn giáo, thần quyền dính vào thế
quyền, chia xẻ quyền lực rất tay ngang và không bình thường. Cổng
chùa, cổng nhà thờ nay ra vào không phải là những phật tử hay con chiên
ngoan đạo nữa. Thêm vào đó là những nhà chính trị, trẻ có, già có đi
tìm một tấm giấy thông hành chính trị. Không ai có thể ra vào
Hạ Viện, Thượng Viện mà thiếu một tấm giấy thông hành. Hạ Viện thì đám
người trẻ như tác giả Lý Quí Chung. Rất năng động, rất xôm trò, rất nổi
đình đám. Hoặc như các dân biểu Đinh Văn Đệ, Nguyễn Phúc Liên Bào, Phan
Xuân Huy, Đinh Xuân Dũng, Kiều Mộng Thu, Trần Ngọc Châu trong vai trò
dân biểu đối lập. Hoặc có những người ít xuất hiện công khai như Dương
Văn Tòng, Trương Lộc, Hoàng Ngọc Biên v.v... Hoặc trong bóng tối với tư
cách người Cộng sản như: Trương Bá Cần (hay Trần Bá Cường), Vương Đình
Bích, Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ. Bốn người này đều có thẻ đảng và
nắm tờ Công giáo và Dân Tộc từ sau 75 cho đến hiện nay.
Thượng Viện thì thầm lặng hơn với đám sồn sồn, trí thức sa-lông. Họ bỏ
nhà thương, bỏ tòa án, bỏ quân ngũ, bỏ trường học để ra ứng cử và xếp
hàng dưới hai nhãn hiệu: Liên danh của Công giáo hay Phật giáo. Chỉ cần
người đứng đầu có tên tuổi như Trần Văn Lắm, Vũ Văn Mẫu, Dương Văn Minh
v.v... gắn thêm cái mác tôn giáo. Thế là xong. Ngay cả những liên danh
quân đội của các tướng như Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính thì cũng không
thoát nổi cái dù che của cha cố, sư sãi.
9 người còn lại đều có nghề nghiệp chuyên môn, có tuổi, có tên,
nhưng mà chưa có tên tuổi. Họ là những nhà chính trị giả hiệu, thiếu
tay nghề, thiếu kinh nghiệm nghị trường. Cùng lắm là những nghị gật.
Và đây là lời xác nhận của ông Lý Quí Chung về điểm này: “Trong
khi chuẩn bị cuộc vận động cho liên danh Dương Văn Minh với tư cách đại
diện báo chí cho liên danh này, tôi đã tiếp cận với Phật giáo Ấn Quang
tìm sự ủng hộ của lực lượng Phật giáo có hậu thuẫn quần chúng lớn nhất.
Hình như dân biểu đơn vị Huế là Trần Ngọc Giao cũng có giới thiệu tôi
với Thượng tọa Trí Quang lúc này đang ở chùa Ấn Quang”.
Dân biểu Lý Quí Chung nhận xét tiếp: “Lần đầu tôi gặp ‘Người làm rung
chuyển nước Mỹ’, báo Newsweek đã gọi Thượng tọa Trí Quang như thế. Khi
đã tiếp xúc thì con người ấy đã toát lên một thứ thần sắc khác thường.
Ánh mắt như sao băng, chiếu thẳng vào người đối thoại như nhìn thấu
những suy nghĩ của họ. Tôi nhớ mãi ấn tượng đầu tiên ấy khi lần đầu gặp
nhà tu hành nổi danh.”
Khi ra Huế, dân biểu Lý Quí Chung đưa ra một nhận xét khá đặc biệt khi
gặp Đức Tăng Thống: “Trong chùa Bảo Quốc chỉ treo một bức ảnh chân dung
duy nhất trên tường. Đó là chân dung Thượng tọa Trí Quang. Như thế đủ
thấy ảnh hưởng của thầy Trí Quang với người lãnh đạo tinh thần cao nhất
Giáo Hội Phật Giáo là như thế nào.”
 |
Thích Trí Quang: The Buddhist Bid for Power (4/1966), với E. Wulff (tác giả Viêtnamesische Lehrejahre, 11/1967), 1990 — Nguồn: time.com, thuvienhoasen.org, giaodiem.com
|
Nay thì quyền lực thế trần nắm trong tay các vị lãnh đạo tôn giáo, thay
cho quyền lực siêu nhiên. Hay có thể là cả hai mà tự bản chất của các
tôn giáo, hai quyền lực đó không thể dung hợp nhau được. Hoặc có cái
này thì không có cái kia, có loại trừ, không làm tôi hai chúa được. Đó
cũng là lựa chọn đau xót mà mỗi người tu hành bước qua ngưỡng của tôn
giáo phải tuân thủ. Bước đầu của việc tu trì là rũ áo, bỏ đời mà đi
trong tấm lòng thanh thản, không còn nuối tiếc trần thế nữa.
Cho nên, đừng ai nói hay. Tôn giáo mà đi đôi với thế quyền, cộng thêm
tiền bạc thì khó tránh khỏi nguy cơ của sự sa đọa trần thế. Sa đọa
quyền lực, lẫn lộn vai trò lãnh đạo tôn giáo và vai trò lãnh đạo chính
trị. Một thứ chính trị như ban phát ơn, thiếu lành mạnh, thiếu dân chủ
chỉ xảy ra ở VN trong một tình huống khá đặc biệt. Nhìn lại cho thấy đó
là một giai đoạn tồi tệ vì một khủng hoảng quyền lực, khủng hoảng uy
quyền Quốc Gia. Chúa Phật chỉ có nước bỏ chùa, bỏ nhà thờ mà đi lang
thang.
Hồi ký của Lý Quí Chung khá lý thú kể về người, về việc, về từng biến
cố với tư cách người trong cuộc. Nhất là nêu bật được cái hay, cái dở,
cái yếu của cái cơ chế của sinh hoạt chính trị thời đó.
Tôi cũng nhận ra rằng, trong cuốn Hồi Ký Không Tên, phần viết về những
năm hoạt động báo chí và làm dân biểu, Lý Quí Chung viết rất thong
dong, thoải mái, rạch ròi từng sự việc, từng người, phê phán thẳng thắn
theo cái kiểu “Có sao nói dzậy”. Từng nhà báo, từng tờ báo, từng nhân
vật như ông Thiệu, ông Kỳ. Nêu bật được cá tính, cái hay lẫn cái dở của
họ. Về những hoạt động chính trị của ông với tư cách một dân biểu đối
lập, về các đồng sự, về các cuộc chống đối biểu tình được nhìn từ bên
trong với tư cách người trong cuộc.
Ông không ngại nói hết, kể hết cho thấy vai trò của ông trong các biến
động ấy. Đấy là những trang hồi ký sống động, một thứ sản phẩm còn
nguyên vẹn được bóc trần ra, ít lắm cũng có thêm những chi tiết mà phải
là người trong cuộc mới biết được. Chẳng hạn như cái chương 25, Thời
khắc Lịch sử: Đầu hàng. ông đã tận dụng ngòi bút để nhấn mạnh vai trò
nhân chứng của mình, từng chi tiết nhỏ một. Dù là nhân chứng một vụ
việc rất là nhỏ, chẳng đáng nói. Chẳng hạn chi tiết hướng dẫn một người
lên sân thượng để treo lá cờ MTGPMN, thay lá cờ Quốc gia.
Chi tiết lá cờ MTGPMN, nửa xanh nửa đỏ treo lên ở Dinh Độc Lập khá là
quan trọng và mang nhiều ý nghĩa lắm. Ở những ngày sau 30/4. Sài Gòn
rợp bóng cờ mầu xanh. Phố phường, nhà nhà mầu xanh, mầu đỏ, xe cộ chạy
rần rật trên đường phố phất phới mầu xanh. Trẻ con cầm lá cờ đi phất
phới khắp nơi. Cũng mầu xanh và đỏ. Cũng lá cờ của Mặt trận giải phóng
miền Nam. Vậy mà, chẳng bao lâu sau, trong vài tuần lễ, không kèn không
trống... những lá cờ mầu xanh và đỏ đó biến đâu mất.
 |
Giải phóng cờ Giải Phóng — Nguồn: DCVOnline
|
Phải nói lại, miền Nam có hai lần giải phóng cờ: 30/4, giải phóng cờ
Quốc Gia, cờ mầu vàng ba sọc đỏ. Sau một tháng, giải phóng cờ một lần
nữa. Lá cờ mầu xanh đỏ thay thế bằng lá cờ đỏ sao vàng. Cùng với sự
biến mất lá cờ mầu xanh cũng dần biến mất những nhân vật đã từng nhân
danh chiến đấu dưới nhãn hiệu lá cờ xanh, đó đó.
Cũng qua cuốn Hồi Ký, mặc dầu chỉ trong vài dòng, ông cũng muốn nói một
điềiu gì... không khỏi có những nhố nhăng khó tránh khỏi. Ta hãy nghe
ông kể: “Ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Sài Gòn trên
chiếc xe Jeep của bộ đội. Còn tôi đi theo trên một chiếc xe jeep khác
của các nhà báo Đức. Khi tôi đến đài phát thanh thì hai ông Minh và Mẫu
đã vào bên trong. Tôi vừa bước vào sân thì anh Nguyễn Hữu Thái và một
hai thanh niên khác đứng ở cổng nói với tôi: “Anh về đi, khi nào có bộ
phận chính trị vào sẽ liên lạc lại.” Lúc này thật khó biết ai là ai, ai
có đủ thẩm quyền quyết định chuyện này chuyện nọ. Ai cứ bảo là Lý Quí
Chung ra đòn không thâm?
Cũng qua cuốn hồi ký, tôi nhận ra một điều là trí thức miền Nam như
những Lý Quí Chung chủ trương chống Mỹ và chống Thiệu. Chống Thiệu thì
rõ ràng rồi, không có gì để phải nói. Chống Mỹ thì có hai mặt:
Chống đường lối, chính sách của Mỹ chung chung. Nhưng mặt khác lại giao
du khá thân mật với các ký giả, nhà chính trị Mỹ. Và coi những người
này như những người bạn tâm giao, nếu không nói là hãnh diện về những
mối liên lạc này. Đó chẳng qua cũng là những xung dộ giữa dạ dày và cái
đầu trong cùng một con người. Trong suốt hồi ký, tác giả đã không quên
nhắc đến người này, người kia trong sự trân trọng và quý mến. Họ như
thể nằm trong cái vốn chính trị của tác giả như một thành quả trong
những năm hoạt động chính trị của mình. Chống Mỹ mà vẫn yêu Mỹ, tin Mỹ,
mà vẫn chơi với họ. Chống hời hợt. Không có chỗ nào cho thấy trực diện
chống Mỹ, nếu không nói là để cho Mỹ giật giây.
Nó có một cái gì đấy cho thấy việc chống Mỹ chưa đủ căn cơ, mức độ.
Nhiều lúc tự hỏi, ông đã viết được một bài báo hay một cái gì đó tương
tự trong đường lối chống Mỹ? Chống cái gì? Chống chung chung? Từ đó dẫn
đưa đến những ngờ vực.
Ông để ra hai chương nói về: Những ngày cuối cùng của Tổng thống Thiệu
và cuộc “trốn chạy” của Nguyễn Văn Thiệu. Có những điều thật sự nó
không phải là hồi ký của chính ông kể lại hoặc do nghe được, chứng
kiến. Có nhiều đọan, ông trích dẫn lại hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ hoặc
trích dẫn Christian G. Appy trong The Viet Nam war remembered from all sides hay của Frank Snepp trong Decent Interval (sách đã được dịch ra tiếng Việt), hay của Henry Kissinger trong Ending The Vietnam War, hoặc của Tiziano Terzani trong Saigon 1975, Three days and Three months. Những trích dẫn nhiều như thế làm mất cái đặc sắc của vai trò nhân chứng của ông.
 |
Sách Lý Quí Chung trích dẫn lại — Nguồn: DCVOnline
|
Nhưng
nói chung, nếu nhìn toàn diện những chương viết về giai đoạn trước
30/4, cuốn hồi ký của tác giả ít lắm nêu bật được những điểm quan trọng
sau đây:
• Vai trò của trí thức trẻ miền Nam Việt Nam
• Bộ mặt thật của sinh hoạt chính trị miền Nam dưới thời đệ nhị Cộng Hoà.
• Vai trò chủ động không chối cãi được của người Mỹ trong những yếu tố quyết định số phận miền Nam.
• Tính cách con rối của toàn bộ sinh hoạt chính trị ấy.
2. Một Nửa Buồn
Nửa phần bài viết này sẽ được trình bày về chương: Sau ngày 30/4 và chương phụ lục.
Về chương phụ lục, thật ra phải cám ơn Talawas về cái chương phụ lục
này. Và đối với tôi, đây là chương quan trọng nhất. Tôi dành phần còn
lại của bài để nói về chương này và để thấy rằng có nhiều điều Lý Quí
Chung đã không dám nói thật, nói hết, nói đủ.
Cuộc đời làm báo, làm chính trị của tác giả chia ra hai giai đoạn. Dứt
khoát và rõ rệt. Giai đoạn 13 năm trước 30 tháng 4 mới đúng là con
người Lý Quí Chung. Một thanh niên lý tưởng, hăng say, dám nói, dám
làm, dấn thân, nhập cuộc. Không ai chối cải điều đó. Rất trân trọng. Và
gần 30 năm sau ngày 30 tháng 4, tác giả dù cố gắng cũng không viết nổi,
vỏn vẹn chưa tới 20 chục trang. Với lời thú nhận: Thận trọng lúc này là cần thiết. Đó không phải là Lý Quí Chung. Đó là ai khác. Đúng như tác giả viết: “Nói cách nào đó, tôi có hai cuộc đời. Trước và sau năm 1975. Chỉ không quyện vào nhau như tác giả nghĩ.
Trước hết, hãy nói về những gì Lý Quí Chung viết về giai đoạn sau ngày
30/4. Nói chung, đó là những lời lẽ khá nhún nhường, quá bài bản đến
không thật như:
“Thật là mãn nguyện khi được tham gia Hội nghị Hiệp thương Thống
nhất... sự kiện đó có một ý nghĩ lớn... có mặt trong một hội nghị như
thế là một sự thỏa mãn tinh thần cực kỳ lớn... tôi vô cùng thỏa nguyện
được sống trọn vẹn với nghề này... và tôi không thể tưởng tượng được ở
đó tôi còn cơ hội gặp lại lần lượt tất cả những nhân vật huyền thoại mà
tôi cứ ngỡ rằng đã thuộc về lịch văn học xa xôi, chỉ tồn tại trong sách
vở như Văn Cao, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận... Cái nghèo, cái cực
khổ của Hà Nội mà tôi chạm mặt lần đầu không hề gây sự thất vọng cho
tôi, mà trái lại là sự cảm phục. Những ngày làm báo từ Tin Sáng 75-80
sang Tuổi Trẻ 80-90, tôi vẫn không một ngày nào thiếu hăng hái hay mất
niềm tin... đồng lương thì chỉ đủ ăn sáng, nhưng cống hiến thì vẫn hết
mình. Vợ con tôi chịu đựng cũng rất giỏi, nhưng bán mãi rồi cũng không
còn gì để bán nữa.. ngay chỉ còn cái đàn piano, niềm vui sau cùng của
các con tôi cũng không thể giữ nổi... để lo cuộc sống hằng ngày, chúng
tôi đành phải bán nó đi. Tại tòa báo vào thời điểm đó, tôi tuyên truyền
cho các cuộc cải tạo tư sản mại bản, công thương nghiệp tư sản, tư
doanh…
Vậy mà chính nhà ba của ông bị đóng chốt để cuối cùng ông cụ bị lên huyết áp và đột qụy, cụ gặp đứa con đã giận dữ nói:
“Tao không muốn gặp mày nữa. Gia đình mày đã ra thế này, cha mày đã
ra thế này, mà mày còn viết báo cho Cộng sản. Cha mày từ mày”. Còn các
em trai của tôi thì không tin vào người anh trai của mình nữa. Chỉ làm
thinh để chuẩn bị vượt biên. Như vậy, cùng một lúc, tôi” mất” bảy đứa
em.
Không phải là một đảng viên Cộng sản nhưng tôi tin vào những lý tưởng
xã hội tốt đẹp cho bất cứ xã hội nào muốn tiến lên công bằng xã hội và
nhân bản hơn. Tôi vẫn giữ niềm tin đó ngay cả sau khi chế độ Cộng sản ở
Liên Xô và Đông Âu bị xụp đổ… Nhìn đất nước nối liền từ Nam chí Bắc
hiện nay, đến bây giờ, tôi vẫn tưởng nằm mơ... Hà Nội bây giờ như một
thiếu nữ đẹp, duyên dáng và tràn đầy sức sống. Và Sài Gòn mạnh mẽ hơn
nhiều và tự tin hơn nhiều trong cuộc hành trình mới, bởi sự tồn tại của
thành phố này không còn nhờ vào sự “tiếp máu” của người khác.
Đây có phải một bài báo không? Hay là một văn tế?
Đọc những dòng chữ trên của ông, tôi cũng tưởng mình đang nằm mơ tự hỏi
có phải đó là Lý Quí Chung hay không? Dù sao, cũng rất may, ở vào thời
điểm đó, các trí thức miền Nam gặp được một người như ông Võ Văn Kiệt.
Ông là cái dù che chắn cho trí thức miền Nam khỏi phải bị dập vùi thê
thảm. Không có ông, số phận nhiều trí thức trẻ miền Nam đã không được
như ngày nay. Họ sẽ phải đi học tập, tệ nữa bị kiểm soát, canh chừng
hoặc tù đầy, bắt cóc, hành hạ, tra hỏi, trục xuất khỏi nhà..
Vì thế, không thể không nhắc tới tấm lòng ưu ái của ông Võ Văn Kiệt đối với trí thức miền Nam.
(Còn tiếp)
Đọc Nhật Ký của im lặng: Phần I
Copyright © 2006 DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: