Nhìn lại đôi điều về Chiến Tranh Việt Nam: Vai trò của Quân Lực VNCH (Kỳ I)

Theo Người Việt - Nguyễn Ngọc Bích - 26-04-2006

LTS.- Trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm 2006, Trung Tâm Việt Nam ở Ðại Học Texas Tech (Lubbock, TX) đã tổ chức một hội nghị chuyên đề về “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Nhìn lại và tái thẩm định sau 30 năm” (“ARVN: Reflections and Reassessments After Thirty Years”). Nhân dịp này, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đã được mời đọc bài diễn văn quan trọng ở bữa ăn trưa (“luncheon keynote speech”) ngày đầu hội nghị. Dựa vào nhiều tài liệu mới được tiết lộ gần đây, không trừ tài liệu từ miền Bắc và các văn khố ở Mạc Tư Khoa, Hoa Thịnh Ðốn và Trung Cộng, bài diễn văn này đã trả lại được danh dự cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đem cuộc chiến lên một tầm nhìn mới. Sau đây là bản dịch từ bài nói chuyện bằng tiếng Anh do chính tác giả cung cấp.

 

Ðã 31 năm trôi qua kể từ ngày “Chiến Tranh Việt Nam” kết thúc. Có người nói là chúng ta đã cho được cuộc chiến đó nằm yên một chỗ, rằng chúng ta đã thắng vượt được “hội chứng Việt Nam” và rằng hai dân tộc, Việt và Mỹ, đã có những nỗ lực phi thường để đẩy cuộc chiến đó lại phía sau lưng. Ðiều đó có thật không? Và liệu chúng ta đã thành công trong nỗ lực đó không?

 

Hình như cho đến giờ chúng ta vẫn còn phải tìm lời để mô tả cuộc xung đột đó - cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Chiến Tranh Việt Nam dài hơn Chiến Tranh Cách Mạng Mỹ, Nội Chiến Mỹ, Thế Chiến I và Thế Chiến II cộng nhập vào với Chiến Tranh Cao Ly, vậy thì làm sao mà dễ quên thế được? Các vết thương hằn sâu quá và trong hai cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc gần đây, kinh nghiệm của các ứng cử viên tổng thống trong thời Chiến Tranh Việt Nam vẫn được cử tri xem là đáng kể để đánh giá bản lĩnh của những người như ông Bill Clinton hay, gần hơn nữa, Tổng Thống George W. Bush và địch thủ của ông, Thượng Nghị Sĩ John Kerry.

 

Bẫy chữ nghĩa

 

Chiến Tranh Việt Nam có lúc tỏ ra là một bẫy chữ nghĩa. Quá thông thường, người ta xem đó là một cuộc chiến Mỹ-Việt làm như là chỉ có hai phe rõ ràng, Mỹ ở một bên và Việt Nam ở một bên. Song rút gọn chiến tranh lại thành một phương trình như thế rõ ràng là không ổn vì chỉ cần một hội nghị này là ta đủ thấy là có ít nhất hai phe Việt Nam trong cuộc chiến, mà tiếng Việt thường gọi là “Quốc Cộng.” Ðây là một định nghĩa căn bản mà cả hai phe ở Việt Nam chấp nhận trước đây, sự tách bạch này chỉ bị lu mờ trong những năm gần đây khi Hà Nội bắt đầu dùng hai chữ “quốc gia” cho một số định chế của họ. (1) Sự lầm lẫn (là chỉ có hai phe Việt Mỹ) này không những chỉ thấy trong quan niệm của người ngoài phố, nó xảy ra quá thông thường ngay trong cả giới trí thức và học thuật, và gần đây hơn cả, trong não trạng của Tổng Thống Bush và Tổng Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld khi hai ông này, trả lời phỏng vấn, cho rằng người Việt miền Nam không chiến đấu đủ để bảo vệ cho mình. Vậy điều đó đúng không? Thiết tưởng đó chính là lý do tồn tại của hội nghị này. Miền Nam Việt Nam có là một chính quyền và một quốc gia chính thống không, và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có chiến đấu hay không?

 

Cả mấy thập niên trước, ngay trong thời gian cuộc chiến sôi bỏng nhất, tôi đã phải tranh luận với ông bạn quý của tôi, Giáo Sư Douglas Pike, người mà chúng ta thương tiếc sự ra đi cách đây ít năm, về một từ rất thông thường trong tiếng Việt, hai chữ “Việt Cộng.” Nếu dựa vào ngữ nghĩa thì “Việt” hiển nhiên là thay cho “Việt Nam” còn “Cộng” thì là tắt cho “Cộng Sản.”

 

Hai chữ đó, như người Việt, cả ở Nam lẫn Bắc, dùng thì chỉ có nghĩa là thế. Nói cách khác, trong thực tiễn cuộc sống cũng như ra ngoài mặt trận, không mấy ai phân biệt giữa một đơn vị chính quy Bắc Việt và một đơn vị của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngoài chiến trường, cả hai đều bắn vào mình và ta không có bao nhiêu thì giờ để tách bạch một lính chính quy của Quân Ðội Nhân Dân miền Bắc (thường mặc binh phục) và một anh lính Việt Cộng miền Nam, có thể không mặc binh phục nhưng vẫn bắn AK47 chì không thua gì anh chính quy kia. Có ai ngây thơ đến độ tưởng là anh chiến binh Cộng Sản ở phía bên kia tìm cách phân biệt đâu là anh G.I. Mỹ anh ta bắn trúng và đâu là một binh sĩ miền Nam?

 

Ấy vậy mà trong một thời gian rất lâu, khi thảo luận về Chiến Tranh Việt Nam, người Mỹ thường tìm cách tách bạch hai quân đội miền Bắc và miền Nam của phía Cộng Sản, và chính ông Pike là uy quyền hàng đầu trong việc tách bạch này trong cuốn sách nổi tiếng của ông, cuốn “Viet Cong” (MIT, 1966). Làm như vậy, ông Pike và những đệ tử của ông đã ăn phải đúng một trong những lập luận chính của đối phương, đó là, chiến tranh ở miền Nam, ít nhất trong giai đoạn đầu là một cuộc nổi loạn nội bộ của miền Nam do những bức xúc của riêng tình hình miền Nam đẻ ra vì người dân chống lại chính quyền của ông Ngô Ðình Diệm. Giải thích như thế chính là tách rời một cách giả tạo cuộc chiến, trong giai đoạn 1959 đến 1975, chẳng hạn, ra khỏi chuyện xảy ra trước đó và chuyện xảy ra sau Tháng Tư năm 1975.

 

“Chiến Tranh Việt Nam” hay “Chiến Tranh Ðông Dương”?

 

Ở Hoa Kỳ, Chiến Tranh Việt Nam được xem là kéo dài 8 năm, từ 1965 đến 1973. Nhưng khỏi nói cũng biết là sự tham dự của Hoa Kỳ vào trong Chiến Tranh Việt Nam có từ trước đó rất lâu và lại cũng kéo dài nhiều năm sau đó. Giờ đây, chúng ta biết rõ là Chiến Tranh Việt Nam kéo dài ít nhất từ năm 1945 đến Tháng Chín năm 1989 và một phần của một trận chiến được theo đuổi trong ba quốc gia là ít: Việt Nam, Ai Lao và Căm Pu Chia. Và nếu ta coi hai miền của Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là hai quốc gia (Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam), một tình trạng thực tế cũng như là theo luật định trong đời sống quốc tế lúc bấy giờ, thì cuộc chiến phải nói là xảy ra trong bốn nước một sự kiện ta có thể thấy phản ánh đầy đủ trong cách Hà Nội đã chia các chiến trường ra thành bốn mà tất cả đều nằm dưới độc nhất một trướng chỉ huy:

Bắc Việt được gọi là Chiến Trường A

 

Nam Việt là Chiến Trường B

Ai Lao là Chiến Trường C

Và Căm Pu Chia là Chiến Trường D.

 

Người Pháp cũng tỏ ra gần sự thật hơn người Mỹ khi họ ít khi gọi chiến tranh ở Việt Nam là “la guerre du Vietnam.” Trái lại, để định các giai đoạn của cuộc chiến, họ nêu ra:

 

“La première guerre d'Indochine,” Cuộc Chiến Ðông Dương số 1, kéo dài từ 1946 đến 1954;

“La deuxième guerre d'Indochine,” Cuộc Chiến Ðông Dương số 2, tương đương với giai đoạn chính có người Mỹ tham gia, 1954-1975 (2); và

“La troisième guerre d'Indochine,” cuộc Chiến Ðông Dương thứ 3, gồm hai pha cả thảy, Chiến Tranh Biên Giới với Trung Quốc (Tháng Hai, Tháng Ba năm 1979) và cuộc Chiếm Lãnh Căm Pu Chia (Tháng Mười Hai năm 1978 đến Tháng Chín năm 1989).

 

Vì ý thức không muốn mở rộng cuộc chiến, do ngại là sẽ lôi kéo thêm sự tham dự của Trung Quốc cũng như của Liên Xô (tuy không lo bằng), các trào liên tiếp của các tổng thống Mỹ, chỉ trừ có độc nhất trường hợp ông Eisenhower, người mà trong hồi ký Mandate for Change vẫn dùng chữ “Indochina” (“Ðông Dương”) thay vì Việt Nam, đều gọi chiến tranh ở nước ta là “Chiến Tranh Việt Nam.” Làm thế, họ đã tuân theo một phần nào thực tế ở dưới đất nhưng lại quên mất nhiều sự khác biệt quan trọng khác: trong khi Hà Nội tha hồ tung hoành và tác chiến ở ngoài biên giới của miền Bắc Việt Nam, trên các mặt trận B, C và D, thì Hoa Kỳ và đồng minh Nam Việt Nam của họ mỗi khi đem chiến tranh ra ngoài biên giới của miền Nam, như sang Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 hoặc sang Căm Pu Chia (như từ 1970 đến 1973) thì họ lại bị coi là vi phạm những luật lệ của cuộc chơi.

 

Mặc dầu vậy, theo như tôi thấy, chưa có ai bao giờ gọi Chiến Tranh Việt Nam là “chiến tranh Nam Việt Nam” cả. Tại sao? Tại vì một thứ linh tính bảo ta rằng nếu Hà Nội làm quá ở miền Nam thì hiển nhiên Hoa Kỳ và Sài Gòn có quyền trả đũa ở miền Bắc tỷ như những cuộc oanh tạc ở miền Bắc để ngăn chặn việc đưa quân vào miền Nam. Do vậy mà ta có thể nói là có cái gì gần như giả tạo khi Hoa Kỳ, vào năm 1964, đã phải viện cớ vụ tàu Maddox của Mỹ bị bắn tới hai lần để biện hộ cho việc đem chiến tranh ra miền Bắc qua Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution).

 

Chú thích:

 

(1) Từ thập niên 1990 trở lại đây, Hà Nội đã xập xí xập ngầu bằng cách gán hai chữ “quốc gia” cho một số định chế của họ, như “Nhà Xuất Bản Sự Thật” đổi thành “Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia” hay “Ðại Học Tổng Hợp Hà Nội” trước kia giờ đây gọi là “Ðại Học Tổng Hợp Quốc Gia Hà Nội.”

 

(2) Giáo Sư William S. Turley đã tỏ ra theo cách phân định này khi ông viết cuốn The Second Indochina War: A Short Political and Military History, 1954-1975 (“Chiến Tranh Ðông Dương lần thứ hai: Lược sử chính trị và quân sự, 1954-1975”, New American Library, 1987). Tướng Philip B. Davidson, tuy gọi cuốn sách của ông là Vietnam at War: The History, 1945-1975 (Oxford University Press, 1991) song cũng nói ngay trong bài tựa là ông Võ Nguyên Giáp là một nhân vật xuyên suốt ba cuộc chiến mà ông định nghĩa là: “Indochina War I between the Vietminh and the French, Indochina War II between the United States/South Vietnam and North Vietnam/Viet Cong, and Indochina War III between North and South Vietnam.” (trang IX)

(Còn tiếp)

 


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:
     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_nhin_lai_doi_dieu_ve_chien_tr.htm

LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online.

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.