LTS.-
Trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm 2006, Trung Tâm Việt Nam ở Ðại Học
Texas Tech (Lubbock, TX) đã tổ chức một hội nghị chuyên đề về “Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa: Nhìn lại và tái thẩm định sau 30 năm” (“ARVN:
Reflections and Reassessments After Thirty Years”). Nhân dịp này, Giáo
Sư Nguyễn Ngọc Bích đã được mời đọc bài diễn văn quan trọng ở bữa ăn
trưa (“luncheon keynote speech”) ngày đầu hội nghị. Dựa vào nhiều tài
liệu mới được tiết lộ gần đây, không trừ tài liệu từ miền Bắc và các
văn khố ở Mạc Tư Khoa, Hoa Thịnh Ðốn và Trung Cộng, bài diễn văn này đã
trả lại được danh dự cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đem cuộc chiến
lên một tầm nhìn mới. Sau đây là bản dịch từ bài nói chuyện bằng tiếng
Anh do chính tác giả cung cấp.
Ðã 31 năm trôi qua kể từ ngày “Chiến Tranh Việt
Hình
như cho đến giờ chúng ta vẫn còn phải tìm lời để mô tả cuộc xung đột đó
- cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Chiến Tranh Việt Nam dài
hơn Chiến Tranh Cách Mạng Mỹ, Nội Chiến Mỹ, Thế Chiến I và Thế Chiến II
cộng nhập vào với Chiến Tranh Cao Ly, vậy thì làm sao mà dễ quên thế
được? Các vết thương hằn sâu quá và trong hai cuộc chạy đua vào Tòa
Bạch Ốc gần đây, kinh nghiệm của các ứng cử viên tổng thống trong thời
Chiến Tranh Việt Nam vẫn được cử tri xem là đáng kể để đánh giá bản
lĩnh của những người như ông Bill Clinton hay, gần hơn nữa, Tổng Thống
George W. Bush và địch thủ của ông, Thượng Nghị Sĩ John Kerry.
Bẫy chữ nghĩa
Chiến Tranh Việt
Cả
mấy thập niên trước, ngay trong thời gian cuộc chiến sôi bỏng nhất, tôi
đã phải tranh luận với ông bạn quý của tôi, Giáo Sư Douglas Pike, người
mà chúng ta thương tiếc sự ra đi cách đây ít năm, về một từ rất thông
thường trong tiếng Việt, hai chữ “Việt Cộng.” Nếu dựa vào ngữ nghĩa thì
“Việt” hiển nhiên là thay cho “Việt Nam” còn “Cộng” thì là tắt cho
“Cộng Sản.”
Hai chữ đó, như người Việt, cả ở
Ấy
vậy mà trong một thời gian rất lâu, khi thảo luận về Chiến Tranh Việt
Nam, người Mỹ thường tìm cách tách bạch hai quân đội miền Bắc và miền
Nam của phía Cộng Sản, và chính ông Pike là uy quyền hàng đầu trong
việc tách bạch này trong cuốn sách nổi tiếng của ông, cuốn “Viet Cong”
(MIT, 1966). Làm như vậy, ông Pike và những đệ tử của ông đã ăn phải
đúng một trong những lập luận chính của đối phương, đó là, chiến tranh
ở miền Nam, ít nhất trong giai đoạn đầu là một cuộc nổi loạn nội bộ của
miền Nam do những bức xúc của riêng tình hình miền Nam đẻ ra vì người
dân chống lại chính quyền của ông Ngô Ðình Diệm. Giải thích như thế
chính là tách rời một cách giả tạo cuộc chiến, trong giai đoạn 1959 đến
1975, chẳng hạn, ra khỏi chuyện xảy ra trước đó và chuyện xảy ra sau
Tháng Tư năm 1975.
“Chiến Tranh Việt
Ở
Hoa Kỳ, Chiến Tranh Việt Nam được xem là kéo dài 8 năm, từ 1965 đến
1973. Nhưng khỏi nói cũng biết là sự tham dự của Hoa Kỳ vào trong Chiến
Tranh Việt
Bắc Việt được gọi là Chiến Trường A
Nam Việt là Chiến Trường B
Ai Lao là Chiến Trường C
Và Căm Pu Chia là Chiến Trường D.
Người Pháp cũng tỏ ra gần sự thật hơn người Mỹ khi họ ít khi gọi chiến tranh ở Việt
“La première guerre d'Indochine,” Cuộc Chiến Ðông Dương số 1, kéo dài từ 1946 đến 1954;
“La
deuxième guerre d'Indochine,” Cuộc Chiến Ðông Dương số 2, tương đương
với giai đoạn chính có người Mỹ tham gia, 1954-1975 (2); và
“La
troisième guerre d'Indochine,” cuộc Chiến Ðông Dương thứ 3, gồm hai pha
cả thảy, Chiến Tranh Biên Giới với Trung Quốc (Tháng Hai, Tháng Ba năm
1979) và cuộc Chiếm Lãnh Căm Pu Chia (Tháng Mười Hai năm 1978 đến Tháng
Chín năm 1989).
Vì
ý thức không muốn mở rộng cuộc chiến, do ngại là sẽ lôi kéo thêm sự
tham dự của Trung Quốc cũng như của Liên Xô (tuy không lo bằng), các
trào liên tiếp của các tổng thống Mỹ, chỉ trừ có độc nhất trường hợp
ông Eisenhower, người mà trong hồi ký Mandate for Change vẫn dùng chữ
“Indochina” (“Ðông Dương”) thay vì Việt Nam, đều gọi chiến tranh ở nước
ta là “Chiến Tranh Việt Nam.” Làm thế, họ đã tuân theo một phần nào
thực tế ở dưới đất nhưng lại quên mất nhiều sự khác biệt quan trọng
khác: trong khi Hà Nội tha hồ tung hoành và tác chiến ở ngoài biên giới
của miền Bắc Việt Nam, trên các mặt trận B, C và D, thì Hoa Kỳ và đồng
minh Nam Việt Nam của họ mỗi khi đem chiến tranh ra ngoài biên giới của
miền Nam, như sang Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 hoặc sang Căm
Pu Chia (như từ 1970 đến 1973) thì họ lại bị coi là vi phạm những luật
lệ của cuộc chơi.
Mặc dầu vậy, theo như tôi thấy, chưa có ai bao giờ gọi Chiến Tranh Việt
Chú thích:
(1)
Từ thập niên 1990 trở lại đây, Hà Nội đã xập xí xập ngầu bằng cách gán
hai chữ “quốc gia” cho một số định chế của họ, như “Nhà Xuất Bản Sự
Thật” đổi thành “Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia” hay “Ðại Học Tổng Hợp
Hà Nội” trước kia giờ đây gọi là “Ðại Học Tổng Hợp Quốc Gia Hà Nội.”
(2)
Giáo Sư William S. Turley đã tỏ ra theo cách phân định này khi ông viết
cuốn The Second Indochina War: A Short Political and Military History,
1954-1975 (“Chiến Tranh Ðông Dương lần thứ hai: Lược sử chính trị và
quân sự, 1954-1975”, New American Library, 1987). Tướng Philip B.
Davidson, tuy gọi cuốn sách của ông là Vietnam at War: The History,
1945-1975 (Oxford University Press, 1991) song cũng nói ngay trong bài
tựa là ông Võ Nguyên Giáp là một nhân vật xuyên suốt ba cuộc chiến mà
ông định nghĩa là: “Indochina War I between the Vietminh and the
French, Indochina War II between the United States/South Vietnam and
North Vietnam/Viet Cong, and Indochina War III between North and South
Vietnam.” (trang IX)
(Còn tiếp)
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |