Những day dứt khôn nguôi:
Lời giải nào cho xã hội Việt Nam ?
Theo Thông Luận - Trần Lâm - 17-05-2006
“…cuộc đấu tranh cho dân chủ là nhằm vào việc xây
dựng một thể chế xã hội công bằng cho tất cả mọi thành phần trong xã
hội, đảm bảo cho tất thảy đều có quyền như nhau và nghĩa vụ như nhau,
đảm bảo mọi người đều có cơ hội tham gia nhiều nhất vào các hoạt động
quản lý xã hội…”
Vài nét khái quát về xã hội Việt Nam ngày nay
Trên dải đất hình chữ S từ Ải Nam quan đến Mũi Cà mau hiện có gần 83
triệu người thuộc đại gia đình dân tộc Việt Nam sinh sống. Xã hội Việt
Nam đã có nhiều biến đổi dưới tác động của các yếu tố lịch sử và tự
nhiên, từ một xã hội kiểu bộ lạc chuyển sang phong kiến, rồi đến thực
dân-nửa phong kiến, sau đó chuyển tiếp sang xã hội cộng sản và đến nay
là xã hội nửa cộng sản - nửa tư bản.
Về nguyên tắc, mọi sự biến đổi của xã hội đều phải nhằm hướng đến sự
phát triển và làm thăng tiến hạnh phúc cho con người. Thế nhưng sự biến
đổi của xã hội Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa thực sự đem
lại hạnh phúc cho đại đa số nhân dân. Nhìn ra thế giới thấy người dân
các nước được hưởng thụ một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc mà chạnh lòng
buồn tủi cho thân phận dân tộc Việt Nam mình.
Vào thời kỳ người cộng sản cầm quyền, xã hội Việt Nam đã có những biến
đổi phức tạp, thành phần địa chủ và tư sản một thời bị triệt hạ thông
qua các chương trình cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, cải
tạo công thương nghiệp tư doanh, nay lại được người cộng sản cho phép
xuất hiện trở lại. Tuy vậy, sự tái sinh thành phần tư sản địa chủ có
phần không được thuần khiết cho lắm, có người trở thành tư sản từ tài
năng và bản lĩnh của bản thân, nhưng lại có những người trở thành tư
sản bằng nguồn tiền chiếm đoạt từ công quỹ mà nhân dân ta vẫn quen gọi
là “Tư sản đỏ”. Sự pha tạp như vậy đã làm xấu đi hình ảnh một tầng lớp
có vai trò phát hiện, khởi xướng, và tổ chức sản xuất kinh doanh trong
nền kinh tế quốc dân.
Đã có một thời người cộng sản và thành phần công nông binh coi nhau như
những người cùng hội cùng thuyền nhằm thực hiện mục tiêu cướp chính
quyền để thực hiện sứ mệnh đào mồ chôn bè lũ tư sản thì nay giữa họ đã
bắt đầu có sự phân hóa sâu sắc. Nhóm người công nhân, nông dân hiền
lành chất phác hy vọng được đổi đời sau khi cách mạng thành công như
lời hứa hẹn của những người cộng sản với “nay mai cuộc đời của toàn dân
khác xưa” thì nay nghèo vẫn hoàn nghèo, giờ đây chỉ có những người cán
bộ cộng sản và nhóm người biết ăn theo mới thực hiện được giấc mơ đổi
đời. Lớp người này đã trở nên giàu có một cách khác thường so với thu
nhập chính danh của họ.
Trong thời kỳ cộng sản, xã hội Việt Nam cũng xuất hiện sự phân biệt
thành phần theo kiểu “cán bộ, đảng viên” – (chỉ những người cộng sản)
và “quần chúng, nhân dân” – (chỉ những người còn lại). Cách gọi này
xuất phát từ vị thế đặc biệt của người cộng sản trong xã hội, họ có rất
nhiều quyền hành và được hưởng rất nhiều bổng lộc, ví dụ như dưới thời
bao cấp cán bộ đảng viên được hưởng tem phiếu loại A, B, C có tiêu
chuẩn hàng cân thịt một tháng thì nhân dân chỉ được nhận tem phiếu loại
N với vài ba lạng một tháng. Thế cho nên dân gian mới có thơ rằng:
“Tôn đản là chợ của vua quan
Vân hồ là chợ của trung gian nịnh thần
Đồng xuân là chợ của thương nhân
Vỉa hè là chợ của nhân dân anh hùng”
Xã hội Việt Nam ngày nay có một điểm rất đáng báo động là sự xuất hiện
ngày càng đông đảo của nhóm người lưu manh, côn đồ, trộm cắp, trấn lột,
giết người cướp của, nhóm người này đã bắt đầu hoành hành rất ngang
nhiên và đang đe dọa tới cuộc sống bình yên của tất cả mọi người. (Xin
vui lòng xem tất cả các báo bán chạy nhất hiện nay như CAND, ANTG, Thanh niên, Tuổi trẻ, Tiền phong…
sẽ thấy rõ điều đó). Xã hội Việt Nam giờ đây không có ngày bình yên,
chiến công của lực lượng công an trấn áp tội phạm tỉ lệ thuận với tình
trạng nguy hiểm của xã hội, chiến công càng lớn thì tính nguy hiểm của
xã hội càng cao. Cứ với cái đà bất công, nghèo đói, tham nhũng, vô
trách nhiệm của nhóm người “đày tớ” nhân dân như thế này thì chẳng mấy
chốc xã hội sẽ nằm trong vòng lũng đoạn của nhóm người lưu manh, trộm
cướp.
Xã hội Việt Nam còn có sự liên hệ và chịu tác động từ một thành phần
khác sống bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, đó là lực lượng hơn 3 triệu Việt
kiều phải bỏ nước ra đi trong tủi hận hoặc đói nghèo. Đến nay phần lớn
người Việt Nam ở hải ngoại đã khẳng định được vị trí của mình nơi đất
khách quê người và trái tim yêu nước thương nòi luôn thôi thúc họ dành
một sự quan tâm rất lớn cho những diễn biến của tình hình trong nước.
Về phương diện hệ tư tưởng, dân tộc ta hầu như không phát minh ra một
hệ tư tưởng nào mà đa phần đều du nhập từ nước ngoài. Các hệ tư tưởng
khổng giáo, nho giáo, phật giáo đều đến từ Trung quốc, hệ tư tưởng tự
do dân chủ phương tây đến vào thời kỳ bị thực dân pháp đô hộ nhưng chưa
thực sự rõ nét, cùng thời gian này hệ tư tưởng cộng sản cũng từ phương
tây được du nhập vào nước ta thông qua nhóm người có nhận thức cho rằng
chủ nghĩa cộng sản là con đường phát triển đúng đắn nhất của dân tộc.
Trong một thời gian dài, những người cộng sản lợi dụng vị thế nắm quyền
đã có ý định xây dựng một xã hội mang hệ tư tưởng thuần nhất cộng sản
bằng cách xóa bỏ các hệ tư tưởng cũ, cấm cửa hệ tư tưởng tự do dân chủ
và cưỡng bức thực thi hệ tư tưởng cộng sản. Tuy vậy, sau mấy chục năm
đổ bao tiền của và công sức, những người cộng sản đã hoàn toàn thất bại
trong việc cưỡng bức cả dân tộc phải lấy hệ tư tưởng cộng sản Mác-Lê
làm nền tảng và kim chỉ nam cho mọi hành động, hiện nay người cộng sản
bị buộc phải chấp nhận sự tồn tại của các “Niềm tin” khác nhau ngoài
mong muốn của họ, người cộng sản cũng không còn khả năng ngăn cản hệ tư
tưởng tự do dân chủ đang tiếp tục tràn vào nước ta thông qua rất nhiều
các kênh giao lưu với bên ngoài, và họ cũng không thể nào ngăn cản nổi
khát vọng tự do dân chủ đang hiện hình ngày càng rõ nét hơn ở trong
trái tim của mỗi con người Việt Nam.
Tóm lại, Xã hội Việt nam ngày nay là một xã hội rất đa dạng và phức tạp
với những đa thành phần, đa luồng tư tưởng. Nếu theo tiêu chí công việc
làm thì có thể phân nhóm thành công nhân, nông dân, quân nhân, công
chức, quan chức, thương nhân, doanh nhân. Nếu theo tiêu chí niềm tin
thì có thể phân thành các nhóm tin vào Đức Phật, tin vào Đức Chúa trời,
tin vào các đấng thần linh.
Những lời giải cho bài toán đa nguyên của xã hội
Con người trong xã hội nói chung có nhiều sự khác nhau trên các phương
diện nhận thức, hành động và các nhu cầu cần thỏa mãn. Điều đó dẫn tới
bản chất của xã hội là mang tính đa nguyên rất phức tạp. Bởi vậy nếu
muốn cùng nhau tồn tại trong hạnh phúc thì con người phải đi tìm lời
giải thỏa đáng cho bài toán phức tạp này. Trong lịch sử loài người đã
có nhiều giải pháp được xác lập và ứng dụng bởi những con người hay tập
đoàn người khác nhau.
| |
| cảnh quen thuộc trên đất nước ta |
Giải pháp thứ nhất là loại bỏ ngay những người có tư tưởng hay hành
động khác biệt hoặc nghi ngờ là sẽ khác biệt để tạo ra một xã hội toàn
những người giống nhau. Người sáng tạo ra giải pháp này là học thuyết
cộng sản và người thực thi triệt để nhất là cộng sản Khờ me đỏ: chúng
đã tàn sát không thương tiếc các tầng lớp trí thức, tư sản, sư sãi hay
công chức của chính quyền cũ bằng cuốc, xẻng, gậy gộc. Liên xô, Trung
quốc, Việt Nam hay các nước XHCN khác cũng đã có những giai đoạn áp
dụng giải pháp loại bỏ tất cả những ai bất đồng chính kiến với những
người cộng sản, kể cả người có nguồn gốc là cộng sản.
Giải pháp thứ hai là dùng sức mạnh nào đó cưỡng bức mọi người phải có
chung một nhận thức và hành động. Bản chất của giải pháp này là đồng
nhất tư tưởng và hành động của con người theo ý muốn chủ quan của một
người hay của một nhóm người nào đó. Đối với vật chất vô tri vô giác
thì giải pháp đồng nhất có thể đem lại sức mạnh tổng hợp theo cấp số
cộng, ví dụ như thiết lập ra điện trường thì các điện tử ở trong dây
dẫn sẽ chạy về một phía để thành dòng điện, nhưng đối với con người có
giác có tri thì việc đồng nhất không hề đơn giản chút nào.
Câu hỏi thứ nhất cần được trả lời là: cá nhân hay hội nhóm nào trong cộng đồng được quyền đứng ra sử dụng và điều khiển sức mạnh cưỡng bức?
Nếu mọi người cùng thừa nhận một chân lý hiển nhiên rằng: "Tất cả mọi
người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không
ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Trích theo Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ 1776
và được ghi lại ở bản Tuyên ngôn độc lập của nước VNDCCH năm 1945) thì
không một cá nhân hay hội nhóm nào có quyền được đứng trên hoặc sai
khiến nhóm người khác trừ trường hợp nhận được sự tự nguyện chấp thuận
của họ.
Câu hỏi thứ hai cần được trả lời là: tư duy hay hành động của ai được coi là “chuẩn mực”, cách thức xác định chuẩn mực để buộc mọi người làm theo là như thế nào?
Lẽ hiển nhiên người nhảy ra tự khẳng định quyền hành của mình trong xã
hội chỉ muốn lấy kết quả nhận thức và hành động của mình làm chuẩn và
buộc những người còn lại trong xã hội phải tuân theo.
Khi bị cưỡng bức phải làm những điều trái với suy nghĩ của mình, chắc
chắn trong mỗi con người sẽ nảy sinh thái độ bất bình và nếu quá mức
thì sẽ đi tới hành động phản kháng theo đúng quy luật do chính người
cộng sản đã nêu ra “Có áp bức thì có đấu tranh”, bị chèn ép càng mạnh
thì sự phản kháng cũng sẽ càng quyết liệt. Một cộng đồng mà trong đó có
nhóm người đứng ra tự cho phép mình được quyền cưỡng bức những người
khác sẽ luôn tiềm ẩn những mối bất hòa, thù hận, nghi kị lẫn nhau, xã
hội đó có thể ổn định trong chốc lát nhưng không thể ổn định được trong
lâu dài. Mặt khác, khi chân lý chỉ thuộc về người đi cưỡng bức thì sức
sáng tạo của xã hội cũng sẽ bị thui chột đi rất nhiều. Thực tế lịch sử
đã chứng minh rằng tất cả các nước cộng sản áp dụng giải pháp cưỡng bức
đều thất bại trên con đường phát triển của mình, sự vươn lên gần đây
của Trung quốc hay Việt Nam chẳng qua đều xuất phát từ chính sách giảm
mức độ cưỡng bức (cởi trói) trong lĩnh vực kinh tế và giảm mức độ
chuyên chính vô sản trong việc đối xử với nhân dân trong nước mà thôi.
Giải pháp thứ ba là dựa trên sự đối thoại và tranh luận để tìm ra một
mẫu số chung nhất mà mọi người trong xã hội đều có thể chấp nhận được.
Thậm chí có những vấn đề không cần tới sự điều tiết của con người mà
thả nổi cho các quy luật tự nhiên hay xã hội chi phối. Giải pháp hướng
đến sự đồng thuận tuy không làm thỏa mãn một cách trọn vẹn (100%) tất
cả các thành phần trong xã hội, nhưng dù sao thì sự thỏa mãn đó cũng
không phải rời quá xa so với nhu cầu và mong muốn của mỗi đối tượng
trong xã hội. Nó tương tự như phép cộng véc tơ, ta được vectơ tổng luôn
nằm giữa hai véctơ thành phần, phương chiều của véc tơ tổng không bị
khác quá xa so với mỗi véctơ thành phần mà nó chỉ lệch về phía véctơ có
giá trị lớn hơn mà thôi.
Về mặt toán học thì việc giải bài toán kết hợp hai hay nhiều vectơ có
thể đơn giản, còn trong cuộc sống xã hội loài người thì nhiều khi việc
tìm ra mẫu số chung cho sự đồng thuận không hề đơn giải chút nào. Rất
may là loài người đã phát kiến ra “luật chơi” chơi dân chủ để giải
quyết bài toán đa nguyên của xã hội. Thể chế dân chủ đầu tiên được lập
ra bởi những người Atel cổ đại và ngày càng được hoàn thiện bởi nhân
loại, chính thể dân chủ đảm bảo cho mọi thành phần người đều có đại
diện của mình, các khác nhau về lợi ích được giải quyết bằng cách đối
thoại và quyết định theo sự tán đồng của đa số, nếu nhóm thiểu số vẫn
còn cảm thấy vấn đề quá phi lý thì tìm cách đánh động lương tâm, thuyết
phục lôi kéo thêm nhiều người đứng về phía mình, kiên trì đấu tranh ôn
hòa để đi tới một hướng giải quyết mới khả dĩ chấp nhận được cho cả
nhóm đa số và nhóm thiểu số. Trong “cuộc chơi” dân chủ không có kẻ
thắng người thua mà tất cả mọi người đều cùng chiến thắng, tư tưởng dân
chủ không đưa con người vào thế phải đi làm điều thất nhân thất đức
triệt hạ lẫn nhau, cưỡng bức nhau, tước đoạt quyền sống và quyền làm
người của nhau. Xã hội dân chủ là một xã hội vừa mang tính nhân bản vừa
mang tính khoa học, đó là một xã hội công bằng và đảm bảo quyền con
người tốt nhất hiện nay, con người sống trong môi trường đó thực sự cảm
thấy thoải mái, những ràng buộc được lựa chọn bởi đa số không làm cho
mỗi người cảm thấy khó chịu tới mức phải dấy lên hành động phản kháng
một mất một còn. Rõ ràng là xã hội dân chủ chứa đựng nhiều yếu tố thúc
đẩy và ít yếu tố cản trở sự phát triển hơn so với chế độ chuyên quyền
độc đoán.
| |
| công nhân bắt đầu đòi quyền sống |
Thực tế đã chỉ ra rằng nước nào đi theo con đường tự do dân chủ thì đều
phát triển rất nhanh trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa cho
tới khoa học kỹ thuật, xã hội nói chung là ổn định, nhân quyền đảm bảo
và người dân sống ở những nước đó không bao giờ phải bỏ nước ra đi. Chỉ
có người dân các nước bị cai trị bởi chính thể cộng sản như Việt nam,
Bắc hàn, Cu ba là phải lũ lượt chạy sang các nước tự do dân chủ.
Như vậy, con đường để các dân tộc hướng đến hạnh phúc là đã có lời
giải. Xã hội dân chủ tuy không hoàn thiện 100% nhưng nó vẫn đang là
cách thức tốt nhất hiện nay cho nhân loại để làm thăng tiến hạnh phúc
cho con người.
Xã hội Việt Nam không thể phát triển nhanh và bền vững
dưới chính thể cộng sản
Đó là vì những người cộng sản đã tự trao cho bản thân cái quyền được
cưỡng bức cả dân tộc phải tuân theo ý muốn chủ quan của họ. Những người
cộng sản đã lựa chọn giải pháp cưỡng bức và loại bỏ thay vì dùng giải
pháp dân chủ để giải bài toán đa nguyên của xã hội. Sự lựa chọn đó của
người cộng sản là hoàn toàn sai lầm. Thực ra bản chất của giải pháp
cưỡng bức hay loại bỏ đều nhằm vào triệt tiêu tính đa nguyên để tiến
tới một xã hội độc nguyên. Mục tiêu cuối cùng của người cộng sản là xây
dựng một xã hội chỉ còn một thành phần người, một cách suy nghĩ, một
kiểu hành động… Cách làm đó là phản tạo hóa, phản khoa học và phi nhân
bản, vì thế xã hội Việt Nam đã tiến lên một cách chậm chạp.
Dùng sức mạnh để cưỡng bức đã gây ra những hậu quả tai hại trong quan
hệ giữa con người với con người không biết đến bao giờ mới giải quyết
xong. Sau mấy chục năm rồi mà vết thương lòng từ những chương trình
CCRĐ, Nhân văn giai phẩm, Xét lại chống đảng, Cải tạo công thương, Tập
trung cải tạo… vẫn luôn còn đó, với nền văn hóa phương tây, con người
có thể dễ dàng nguôi ngoai những quá khứ đau thương nhưng khi đặt trong
nền văn hóa Việt Nam có tục lệ cúng giỗ hàng năm thì nỗi uất hận không
thể dễ dàng mất đi, trên bàn thờ của nhiều gia đình Việt Nam hiện nay
vẫn trưng bày các chứng tích đã gây nên cái chết cho tổ tiên cha ông
mình từ các chương trình tàn bạo nói ở trên.
Thế rồi, những oán hờn cũ chưa kịp nguôi ngoai thì những bất công mới
lại ập đến, những người cộng sản cậy có quyền có thế trong tay lại tiếp
tục thực hiện công cuộc cưỡng bức thu lại đất đai của người dân với giá
rẻ mạt để rồi bán ra với giá cao ngút trời. Sau những công trình chào
mừng hết ngày lễ này đến ngày lễ khác là người ta lại thấy cán bộ từ xã
lên huyện đến tỉnh đều giàu lên một cách nhanh chóng trong khi người
dân thì vẫn phải một nắng hai sương lần tìm bữa ăn hàng ngày. Gặp cán
bộ, người dân mỉa mai đề nghị “Các bác phổ biến lại kinh nghiệm làm
giàu cho chúng em học tập với!”. Hình ảnh tương phản giàu nghèo giữa
cán bộ đảng viên và nhân dân làm cho chúng ta nhớ lại câu ca dao xưa
của những năm 60:
“Một người làm việc bằng hai
Để cho cán bộ mua đài mua xe
Một người làm việc bằng ba
Để cho cán bộ xây nhà xây sân”
Tưởng rằng xã hội Việt Nam gồm các thành phần Cán bộ đảng viên và quần
chúng nhân dân (phân theo tiêu chí quyền hành và bổng lộc), công nhân,
nông dân, quân nhân, quan chức, công chức, doanh nhân, chủ trang trại,
khoa học gia (phân theo tiêu chí công việc làm) và xuất hiện thêm tầng
lớp “bất lương đêm” đã là quá phức tạp rồi, ai dè người cộng sản còn
tách ra khỏi dân tộc một nhóm người được gọi dưới cái tên là các thế
lực thù địch. Nhóm người này được mô tả là đối tượng chống phá cách
mạng của “đảng ta”, “nhân dân ta” và “đất nước ta”, cho nên có thể hiểu
những “thế lực thù địch” đó không được xếp vào hàng ngũ của “nhân dân
ta” hay thuộc công dân của “đất nước ta”, trong khi đó họ vẫn phải lam
lũ kiếm tiền làm nghĩa vụ “nhân dân ta” để đóng thuế cho “đất nước ta”
nhằm góp phần nuôi “đảng ta” hoạt động . Tiến hành phân chia xã hội
theo kiểu địch-ta đối với những người bất đồng chính kiến hay có tinh
thần đấu tranh phê phán những sai trái của người cầm quyền cũng có
nghĩa rằng người cộng sản đã lại đào thêm một hố ngăn cách nữa trong
cộng đồng dân tộc sau khi đã đào quá nhiều hố ngăn cách trong suốt mấy
chục năm cầm quyền. Chính những người cộng sản là đối tượng gây mất
đoàn kết dân tộc trầm trọng nhất. Đất nước không thể tiến lên được
trong mối quan hệ xã hội như vậy.
Thành phần tư sản được phục hoạt nhưng người cộng sản lại chưa thực sự
thành tâm tạo ra một môi trường lành mạnh để họ có thể sống tốt, sống
khỏe hầu tích lũy đủ sức để cạnh tranh trên thương trường khốc liệt,
đặc biệt là cạnh tranh với nước ngoài. Áp dụng nền kinh tế thị trường
nhưng lại chưa thừa nhận và bảo hộ sở hữu tư nhân và đặc biệt là vẫn
treo biển “Định hướng xã hội chủ nghĩa lấy kinh tế quốc doanh làm chủ
đạo” đã làm cho nhiều nhà tư sản phải đắn đo suy nghĩ trong việc đầu tư
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Biết đâu vào một ngày xyz nào đó
những người cộng sản lại ra tuyên bố rằng: đất nước chúng ta đã hoàn
thành một cách xuất sắc thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH, tiền vốn,
thiết bị máy móc, công nghệ quản lý của tư bản đã có sẵn, kể từ ngày
hôm nay chúng ta quyết định chuyển sang thời kỳ phát triển XHCN, thế
là…mấy ông tư sản hỡi! Chạy đi đằng trời!. Những giải pháp nửa vời của
người cộng sản trong lĩnh vực kinh tế có làm cho xã hội nhích lên đôi
chút nhưng lại chưa giải phóng đủ mức để tạo ra bước đi bằng nhân loại.
Hầu hết các ngành công nghiệp quan trọng có lợi nhuận cao như điện tử,
truyền thông, ô tô, xe máy đều không mảy may có chút thị phần nào trên
thương trường quốc tế. Hàng hóa bán ra trên thế giới hầu hết dưới dạng
nguyên liệu thô hoặc gia công lại. Chúng ta có thể nhận thấy rằng sức
cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam là rất yếu, rất dễ ngã quỵ trước
bất kỳ tai biến nào có thể xẩy ra trong tương lai.
Chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường nhưng những người cộng sản
vẫn chưa thay đổi nội dung giáo dục về mối quan hệ xã hội giữa giai cấp
tư sản và công nhân, trong các giáo trình chính trị vẫn dạy giai cấp
công nhân có sứ mạng lịch sử đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, vẫn dạy công
nhân nhìn tư sản bằng “đôi mắt mang hình viên đạn” thì rất khó tạo ra
mối quan hệ thân thiện, tin cậy lẫn nhau để cùng làm ra nhiều sản phẩm
cho xã hội!?
| |
| nhân danh ai đảng trấn áp dân nghèo? |
Dưới chính thể dân chủ người dân chỉ phải đóng thuế nuôi bộ máy nhà
nước và góp phần xây dựng các công trình công cộng thì dưới chính thể
cộng sản ngoài việc phải nuôi bộ máy nhà nước vốn dĩ đã rất cồng kềnh
thì người dân còn phải nuôi thêm một bộ máy thứ hai cũng không kém phần
đồ sộ là bộ máy tổ chức của những người cộng sản. Thế là, nguồn lực để
xây dựng các công trình công cộng phục vụ cho toàn dân chẳng còn là
bao, đến cái chỗ đi vệ sinh cũng phải mất tiền.
Lịch sử cộng sản là lịch sử của sự lừa dối và phản trắc, lời nói thường
không đi đôi với việc làm, những hành vi này được chính người cộng sản
ghi ngay trong tài liệu Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam. Phương cách ứng
xử của người cộng sản với các thành phần khác trong cộng đồng dân tộc
luôn luôn mang tính tranh thủ và lợi dụng trong từng giai đoạn, xong
việc là quay lại tiêu diệt họ ngay, khi cần tiền thì hô hào mọi người
đóng góp và sẵn sàng kêu thêm chữ yêu nước ở sau tên gọi của họ, nào là
tư sản yêu nước, địa chủ yêu nước, việt kiều yêu nước, nhưng cách mạng
thành công rồi lại đem chính những người yêu nước này ra xử tử. (Xem
các tài liệu viết về Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam sẽ thấy rõ điều
đó). Cách ứng xử như vậy của người cộng sản đối với người khác đã ứng
nghiệm vào ngay trong cách ứng xử của người cộng sản với nhau, kết quả
là đã sản sinh ra một xã hội mất lòng tin vào nhau, luôn dối trá với
nhau, lừa lọc nhau. Thể chế cộng sản tạo ra một xã hội băng hoại về đạo
đức, tha hóa về lối sống.
Thế hệ những người cộng sản tiền bối trở thành lãnh đạo thông qua môi
trường hoạt động khó khăn gian khổ, họ đi làm cách mạng vì một lý tưởng
cao đẹp là giải phóng nhân loại, cái thiếu sót của họ là ở chỗ không đủ
tri thức để nhận ra sự sai lầm của chủ nghĩa cộng sản, còn thế hệ cán
bộ cộng sản ngày nay vươn lên nhờ luồn lách, chạy chọt “mười năm phấn
đấu không bằng cơ cấu một đêm” cho nên tất cả gần như là cá mè một lứa,
xấu như nhau, không ai bảo được ai thậm chí “trên bảo dưới không nghe”
cho nên không thể nào điều hành nổi xã hội, những người cộng sản không
có khả năng chống tham nhũng và làm trong sạch ngay cả bộ máy của mình,
họ hoàn toàn bất lực nhìn xã hội đang ngày càng đắm sâu vào tha hóa.
Chỉ với một vài điều nêu trên cũng đã đủ để chúng ta đưa ra kết luận:
chính thể nhất nguyên độc đảng kiểu cộng sản đang được áp dụng ở trên
đất nước ta hiện nay chứa đựng trong đó quá nhiều yếu tố bất ổn làm kìm
hãm sự phát triển của xã hội.
Những biện giải của người cộng sản trong việc
xác lập quyền thống trị độc tôn của mình
Có lẽ ngay từ thủa xa xưa, dù nhận thức còn non nớt nhưng con người
cũng đã lờ mờ nhận ra rằng không ai có quyền sai khiến mình trừ cha mẹ
hoặc một đấng linh thiêng nào đó, bởi vậy người muốn làm vua thì phải
lý giải cho bằng được rằng mình là thiên tử (con giời) được ngọc hoàng
cử xuống trần gian để thực hiện sứ mệnh trị vì thiên hạ.
Đến thời đại văn minh hơn thì nhân loại đã phát hiện ra một giá trị
“con người sinh ra ai cũng có quyền bình đẳng”, thế là chẳng ai còn
được phép cậy mình xuất thân từ thành phần này hay thành phần nọ để
muôn đời sai khiến và điều khiển thiên hạ nữa. Ai muốn làm lãnh đạo
phải thể hiện tài năng của mình thông qua thi cử đàng hoàng. Kẻ nào
hung hăng dùng sức mạnh chiếm đoạt quyền hành bị người đời chê trách và
gọi bằng cái tên là độc tài.
Người cộng sản muốn nghiễm nhiên ngồi vào vị trí đứng đầu thiên hạ
không qua thi cử nhưng lại không muốn nhận mình là tên độc tài cho nên
đã tìm mọi cách để giải thích cho bằng được hành vi chiếm lĩnh vị trí
lãnh đạo độc tôn của mình trong xã hội. Do đã nhận mình là vô thần nên
không thể nói mình là con trời, hơn nữa lúc này chế độ phong kiến cũng
đã sụp đổ và nền văn minh phương tây “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”
cũng bắt đầu tràn vào nước ta, cho nên để bắt mọi người tôn thờ mình,
người cộng sản sử dụng thủ pháp đánh động lương tâm, xoáy sâu vào lẽ
sống uống nước nhớ nguồn trong nền văn hóa dân tộc, tạo ra một áp lực
tâm lý rằng nếu không nghe lời người có công là thành kẻ vong ân bội
nghĩa để buộc người khác phải thừa nhận sự lãnh đạo muôn đời của mình.
Người cộng sản mô tả công lao của họ đối với người dân Việt Nam to lớn
như trời như biển thậm chí cao hơn cả công sinh thành của cha mẹ. Trong
cuộc sống, đôi khi con cái còn được cãi lại cha mẹ chứ người dân không
bao giờ được phép cãi lại người cộng sản! trái ý thì hãy coi chừng!
Theo cái đạo ở trên đời thì người làm ơn không thích kể công, còn người
chịu ơn thì luôn tự vấn trong tâm khảm ghi lòng tạc dạ người có công để
rồi tìm cách báo đáp tùy khả năng, nay gặp phải những người sống bằng
văn hóa công lao đòi trả ơn bằng quyền làm người thì thiết tưởng mọi
người cũng nên đưa vấn đề này ra tính toán cho rõ ràng.
Cứ cho như rằng cộng sản là người lãnh đạo, thế nhưng đối với các cuộc
cách mạng không người này đứng ra lãnh đạo thì sẽ có người khác làm
điều đó (trong nhân dân không hề thiếu người tài giỏi và giàu lòng yêu
nước để làm công việc đứng mũi chịu sào), còn thực hiện thì không ai có
thể thay thế được nhân dân. Trong trường hợp như vậy thì công xá sẽ
được tính như thế nào? Mỗi loại công sẽ được lượng hóa ra chiếm tỷ lệ
bao nhiêu phần trăm? Thế rồi công sức mấy chục năm nay của nhân dân
nuôi dưỡng cán bộ đảng viên có được tính là công lao hay không, bao bà
mẹ phải “đào hầm dưới tầm đại bác” để che dấu cán bộ sẽ được tính như
thế nào, có được trừ bớt phần công lãnh đạo để người cộng sản sớm trả
lại quyền bình đẳng cho người dân hay không? hay người dân vẫn cứ phải
mãi mãi trả ơn cho người cộng sản bằng quyền làm người của mình? Người
cộng sản có nhận thấy mình cũng cần phải trả ơn cho lịch sử hay không?.
Nếu không có nhà Ngô, nhà Trần, nhà Nguyễn …giành độc lập và mở mang bờ
cõi về phía nam thì liệu có tồn tại đất nước Việt Nam từ ải Nam quan
đến mũi Cà mau để mà người cộng sản có công (tạm coi là như thế) đánh
đuổi thực dân Pháp và giải phóng miền nam?! Nếu như giờ đây người dân
muốn được hưởng quyền bình đẳng do tạo hóa ban tặng, muốn được sống
trong một xã hội dân chủ văn minh thì cần phải trả cho người cộng sản
bao nhiêu tài sản nữa để có thể thoát khỏi vòng kim cô ơn huệ?. Trong
nền văn hóa dân tộc liệu có cái đạo lý nào bắt phải trả ơn nhau bằng
quyền làm người hay không?! Mẹ Âu cơ và cha Lạc Long Quân có để lại di
chúc hay lời huấn dụ nào trao quyền quyết định tất thảy vận mệnh của
dân tộc vào tay những người có tư tưởng cộng sản hay không?. Chua xót
thay cho nền văn hóa công lao cộng sản!
| |
| nhân danh ai đảng trấn áp khủng bố tư tưởng? |
Người cộng sản cũng lại mượn ý, mượn tư tưởng của mấy ông Mác-Lê nói
rằng cộng sản là những người tài giỏi nhất, kiên quyết cách mạng nhất,
biết vì quyền lợi của người nghèo khổ nhất, có tổ chức chặt chẽ nhất
cho nên họ có sứ mệnh lịch sử đứng trên thiên hạ. Chưa cần xem xét cụ
thể tới những cái nhất nêu trên thì lập luận này cũng đã hết sức khiên
cưỡng rồi. Ông Mác ông Lê là cha đẻ của người cộng sản chứ không phải
là cha đẻ của dân tộc Việt Nam ta, người cộng sản cứ việc làm theo lời
huấn dụ của mấy ông này nhưng không được phép bắt cả dân tộc Việt Nam
phải cúi đầu tuân phục không có lấy một lời phản biện? Ngay người dân
đồng hương Đức, Nga của mấy ông này cũng đã chẳng thèm nghe theo họ
huống chi là dân Việt Nam ta. Thực tiễn cũng đã chứng minh rằng tri
thức của mấy ông này đã bị đa phần nhân loại bỏ xó, ngay ở các nước
cộng sản như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba thì cũng chỉ có số ít
người theo tư tưởng cộng sản, còn đại đa số người dân khác không hề
thích thú với những lý luận dông dài, rối rắm, phi nhân bản, phản khoa
học của mấy ông này. Dường như người cộng sản cũng biết được tình trạng
đó cho nên họ rất sợ đem lý luận Mac-Lê ra thảo luận công khai hay
trưng cầu dân ý về con đường phát triển của dân tộc. Chắc chắn đa phần
nhân dân ta sẽ loại bỏ học thuyết Mác Lê ra khỏi đời sống và không chọn
con đường đi lên CNXH.
Nhằm mục đích chặn đường ra đời của những lực lượng chính trị khác,
người cộng sản đã đưa ra một lý luận đại ý như Đảng cộng sản sẽ đứng ra
làm đại biểu cho các tầng lớp công nhân, nông dân và của cả dân tộc,
tức là đại biểu cho hết thảy mọi người Việt Nam, vì lẽ đó ở Việt Nam
chỉ cần một tổ chức đại biểu là đủ, thêm các tổ chức khác nữa là không
cần thiết và gây thêm phần phức tạp.
Phân tích kỹ ra thì luận điểm này đưa tới một kết quả thú vị, nếu như
trên đất nước này chỉ có một mình đảng của người cộng sản được đứng ra
làm đại biểu của nhân dân thì tổ chức đảng của họ sẽ trở thành đối
tượng vô công rồi nghề. Tạo ra chức danh đại biểu là để làm việc với
một đối tượng đối ứng nào đó. Không có đối tượng đối ứng (mà thực chất
là người cộng sản không bao giờ cho hình thành đối tượng đối ứng) thì
việc đặt ra chức danh đại biểu chỉ là thừa, không có cuộc họp nào chỉ
có một đại biểu duy nhất cả!. Mặt khác người cộng sản thời nay cũng
không thể làm đại biểu được cho người dân nghèo khổ vì hấu hết cán bộ
đảng viên hiện giờ đều thuộc tầng lớp giàu có, ở cương vị lãnh đạo họ
toàn đề ra các chính sách “hành dân là chính”. Thế rồi, nhận là một
chuyện còn có được nhân dân chọn mình là đại biểu hay không lại là một
chuyện khác, trong suốt mấy chục năm qua chưa một lần nào nhân dân tổ
chức bất kỳ cuộc bầu chọn đại biểu nào, thậm chí đến giai cấp công nhân
cũng chưa lần nào làm việc đó. Tư cách đại biểu của đảng cộng sản đối
nhân dân là thiếu tính chính danh.
Nói chung những luận cứ do người cộng sản đưa ra để bảo vệ ý muốn độc
tôn lãnh đạo xã hội là thiếu tính thuyết phục cả trên phương diện khoa
học và đạo lý. Người cộng sản không có bất kỳ lý do gì có thể biện minh
cho sự khác người của mình trong cộng đồng dân tộc. Càng biện minh cho
tính độc tôn của mình thì người cộng sản càng trở nên tầm thường hơn
bao giờ hết.
Rõ ràng xã hội VN là hoàn toàn bất bình đẳng. Lẽ nào dân tộc Việt Nam chúng ta lại dự định xây dựng một xã hội kiểu như thế?!
Một số mâu thuẫn xã hội cơ bản nảy sinh ở Việt Nam hiện nay
Sự tồn tại của xã hội gắn liền với việc nảy sinh các mâu thuẫn. Mâu
thuẫn này được giải quyết , mâu thuẫn khác có thể lại xuất hiện. Mâu
thuẫn có thể xuất phát từ xung đột về chia sẻ lợi ích, sự khác nhau về
phương pháp giải quyết vấn đề hay nảy sinh bởi lòng tự trọng bị xúc
phạm, quyền làm người bị tước đoạt…
Hiện nay, trong xã hội Việt Nam đã nảy sinh ra một số mâu thuẫn giữa
các nhóm người khác nhau, đặc biệt là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam
với những người cộng sản về vấn đề nhân quyền, tôn giáo, phương pháp
vận hành xã hội hay các quyền lợi cụ thể khác…:
| |
| “lãnh đạo” là để ăn cắp? |
Mâu thuẫn giữa nhân dân với người cộng sản về vấn đề quyền làm người.
Hầu hết tất cả các thành phần người trong xã hội Việt Nam gồm trí thức,
văn nghệ sĩ, doanh nhân, thương nhân, công nhân, nông dân…đều bị tước
mất quyền bình đẳng và nhiều quyền tự do trong cuộc sống do chính sách
cai trị độc đoán của những người cộng sản. So với mấy chục năm trước
đây thì người cộng sản cũng đã giảm bớt phần nào sự hà khắc nhưng chưa
đủ để người dân cảm thấy quyền làm người đã được tôn trọng, rất nhiều
quyền cơ bản như tự do thông tin, tự do lập hội, tự do biểu tình… chưa
thực sự hiện hữu ở trên đất nước Việt Nam này. Trong cuộc sống hàng
ngày người dân ít nhiều đều có va chạm với các cơ quan chính quyền nhà
nước thì tại nơi đây bộc lộ rõ thái độ trịch thượng, quan liêu, cửa
quyền, nhũng nhiễu người dân đến vô cùng tận của những người cán bộ
cộng sản và bộ máy cai trị kiểu cộng sản.
Mâu thuẫn giữa nhân dân với người cộng sản về việc lựa chọn con đường đi cho đất nước.
Con đường để đi tới đích thì có nhiều, con đường XHCN mà người cộng sản
chọn đã đưa dân tộc ta tới đích tụt hậu cùng với biết bao nhiêu thảm
trạng xã hội cực kỳ phức tạp, thế mà đến nay họ vẫn khăng khăng khẳng
định con đường đó là đúng đắn và tiếp tục bắt dân tộc ta phải đi theo.
Lý luận thì khiên cưỡng, thực tế thì nói một đằng làm một nẻo, luôn tìm
cách ngụy biện và nói cho bằng được thì thử hỏi nhân dân không sốt ruột
sao được trước tương lai của dân tộc?! Người dân Việt Nam ta đã bắt đầu
thấy cần phải nói chuyện với những người cộng sản về vấn đề lựa chọn
con đường đi của chính mình.
Mâu thuẫn giữa các chức sắc và tín đồ tôn giáo với người cộng sản về quyền tự do tôn giáo.
Các tổ chức tôn giáo không cam chịu sự điều khiển của người cộng sản bị
bức hại bằng nhiều cách, điều đó làm cho mâu thuẫn nảy sinh. Về phía
các tổ chức tôn giáo bị bách hại thì tìm mọi cách chống lại sự can
thiệp của chính quyền vào các sinh hoạt tôn giáo. Mâu thuẫn này sẽ còn
kéo dài khi người cộng sản vẫn còn duy trì quyền lực và áp dụng học
thuyết cai trị cộng sản phi tôn giáo.
Mâu thuẫn giữa những người bị oan sai với cán bộ chính quyền và tổ chức đảng cộng sản.
Mâu thuẫn này xuất phát từ các chương trình cưỡng chiếm đất đai hay
việc xử lý các vụ việc không thỏa đáng của các cơ quan công quyền đã
gây nên nỗi bức xúc lớn trong người dân. Ban đầu mâu thuẫn này liên
quan những đối tượng giải quyết vụ việc cụ thể, nhưng khi người dân
nhận thấy sự thờ ơ, vô trách nhiệm, giải quyết theo kiểu vòng vo của
các cấp lãnh đạo thì sự bực tức sẽ được trút lên đầu những người lãnh
đạo cộng sản.
Mâu thuẫn giữa những người dân lành với bọn lưu manh trộm cước, giết người cướp của về sinh mệnh và tài sản bị đe dọa hàng ngày.
Nạn nhân của những đối tượng “bất lương đêm” ngày càng nhiều, ngoài mối
lo về cơm áo gạo tiền cho cuộc sống hàng ngày thì người dân còn phải
dành một sự lo lắng đáng kể cho việc bảo vệ sinh mệnh và tài sản của
mình. Mâu thuẫn trực tiếp với kẻ gây ra tội ác là điều đương nhiên ,
nhưng người dân còn hướng sự chú ý tới đối tượng chính quyền đã gần như
bất lực trước sự lộng hành của bọn “bất lương đêm” này. Một trong những
nguyên nhân gây ra tình trạng bất an trong xã hội là do chính sách cai
trị độc đoán của người cộng sản làm cho đất nước bị nghèo đói, cuộc
sống người dân bị khổ cực quẫn quá phải đi “làm giặc”, bên cạnh đó tham
nhũng, hối lộ làm cho bộ máy chính quyền bị tê liệt rơi vào trạng thái
vừa thờ ơ lại vừa bất lực trước các tệ nã xã hội, chính vì thế đối
tượng “bất lương đêm” phát triển như thác lũ và sẽ hoành hành xã hội
trong một ngày không xa.
Những mâu thuẫn nêu trên rất cần được hóa giải để xã hội không phải rơi
vào cảnh hỗn loạn ngoài tầm kiểm soát. Thực ra thì cách thức giải quyết
mâu thuẫn cũng rất đơn giản, ai là người gây ra nguyên nhân mâu thuẫn
thì tìm cách thu hồi nguyên nhân đó lại là mọi chuyện xong xuôi, trong
các mâu thuẫn nêu trên chỉ cần người cộng sản xác lập lại vị trí của
mình trong cộng đồng dân tộc, không đặt mình ở trên tất thảy mà coi bản
thân mình cũng chỉ được quyền như mọi người và coi mọi người cũng có
quyền như mình. Người cộng sản có đại diện của mình là đảng cộng sản -
các thành phần dân chúng khác cũng có tổ chức đảng đại diện cho mình.
Được như thế mâu thuẫn giữa nhân dân và người cộng sản tự nó sẽ tiêu
tan.
Còn chuyện lãnh đạo đất nước thì ai tài giỏi hơn, có đạo đức tốt hơn sẽ
đứng ra đảm trách nhiệm vụ thông qua sự lựa chọn của nhân dân, người
chưa được chọn thì đứng ra làm đối trọng và giám sát lại người được
chọn. Khi tất cả các thành phần người khác nhau đồng thuận về nguyên
tắc cùng tồn tại như vậy thì việc xử lý những bất ổn xã hội chỉ còn là
vấn đề kỹ thuật. Khả năng giải quyết các vướng mắc phát sinh hoàn toàn
nằm trong tầm tay của dân tộc chúng ta, năm 1945 người cộng sản đã từng
chấp nhận mọi thành phần đều có đại diện của mình mà không sợ bị loạn,
lý gì năm 2006 này người cộng sản lại sợ bị loạn để rồi không chấp nhận
cho thành phần khác có đại diện của mình?
Những người cộng sản sẽ vì hạnh phúc của nhân dân mà chủ động giải
quyết mâu thuẫn hay cứ phải độc tôn quyền lực để đẩy mâu thuẫn lên cao?
Quả bóng đang nằm trong chân người cộng sản.
Mong lắm thay những người cộng sản nghĩ lại …mà thay đổi.
Thế nhưng nỗi niềm mong mỏi nêu trên dường như xa vời khi chưa có bất
kỳ một động thái nào cho thấy người cộng sản sẽ trả lại sự công bằng
cho nhân dân, nếu như có ý định đó chắc hẳn giờ này người cộng sản đã
phải thiết lập một lộ trình đưa xã hội Việt Nam tiến đến dân chủ mà
không sợ bị loạn. Giờ đây chỉ thấy các ông Lê Hồng Anh, Phạm Thế Duyệt
là những người đại diện cho đảng cộng sản phát biểu rằng không cho bất
kỳ thành phần nào được thành lập tổ chức của mình.
Vì sao người cộng sản chưa có ý định thay đổi?
Có thể là do người cộng sản phần lớn xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ,
mục tiêu cháy bỏng của họ là thỏa mãn nhu cầu về vật chất. Nhờ có quyền
lực trong tay mà những người dù kém cỏi đến mấy cũng trở nên giàu sang
phú quý, vậy lẽ nào lại đi từ bỏ quyền lực để mất đi bổng lộc? Quyết
định đó thật là khó khăn!
Đối với các bậc lão thành cộng sản tham gia cách mạng vì lý tưởng cao
đẹp hơn, có cuộc sống đạm bạc giản dị gần gũi với người dân hơn, có
thái độ bất bình với đội ngũ cán bộ cộng sản thời nay (tưởng đến mức
không thể ngồi chung với nhau được cùng một chỗ vì trái ngược nhau về
lẽ sống và đạo đức) thế nhưng vì sao họ vẫn muốn giữ vị trí độc quyền
của người cộng sản, phải chăng nhu cầu hãnh diện với ánh hào quang quá
khứ, thích được đi họp hành, thích được đi dự mít tinh, thích được
người đời ngắm bộ ngực đầy huân chương hay thỉnh thoảng lại được lĩnh
dăm ba chục ngàn tiền công lao là những lý do căn bản?
Cũng có thể người cộng sản cảm nhận rằng sau mấy chục năm dưới sự lãnh
đạo của mình, người dân đã mất hết niềm tin vào họ, đã thế lại không
chịu rèn luyện trong một thời gian dài, đã hình thành nên thói quen
quen sai khiến quát nạt người khác, quen ngồi ở vị trí ban giám khảo,
nay phải ra làm thí sinh thi cử để thiên hạ chấm điểm thì mất thể diện
lắm, vả lại khả năng bị trượt là rất cao cho nên họ cố gắng kéo dài
quyền bính được ngày nào hay ngày ấy và hy vọng một phép mầu nhiệm nào
đó kéo dài được muôn đời thì cũng hay? Người cộng sản có vẻ lo sợ rằng
dân chủ là đồng nghĩa với mất hết. Họ không dám rời cái ghế quyền lực
lấy nửa bước mặc dù cũng đã bắt đầu thấy bối rối.
Xem chừng! Việc trông chờ vào sự thay đổi tự nguyện của người cộng sản là trở nên vô vọng.
Cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ của người dân Việt Nam tất yếu xảy ra
Được sống trong sự bình đẳng, được hưởng đầy đủ quyền làm người, được
tự khẳng định mình, được tự hoàn thiện mình …là những nhu cầu thuộc
hàng bậc cao của con người, một khi những nhu cầu này bùng phát thì
không gì ngăn cản nổi con người bật dậy đấu tranh đòi hỏi cho bằng
được. Dù phải lên giàn hỏa thiêu thì Galilê vẫn cứ dõng dạc tuyên bố:
“Dù sao trái đất vẫn quay” để khẳng định chân lý do mình phát hiện.
Giới trí thức văn nghệ sĩ luôn là lực lượng tiên phong của một cộng
đồng người, có lẽ trong số họ đã bắt đầu có những người cảm thấy tủi
nhục khi không để lại một sản phẩm văn hóa khoa học kỹ thuật nào thực
sự có giá trị cho đời chỉ vì sống trong một xã hội không có tự do và
bản thân lại không dám đấu tranh cho tự do.
Bên cạnh đó, tương lai mờ mịt của dân tộc, những tác động tồi tệ trong
cuộc sống hàng ngày có nguyên nhân từ sự cai trị độc đoán chuyên quyền
của người cộng sản đã làm cho sự chịu đựng của người dân đã đến phần
tới hạn.
Thế là cái gì đến sẽ phải đến, tiếng thét gào đòi quyền bình đẳng,
quyền sống và quyền làm người của nhân dân Việt Nam đã được cất lên vào
ngày 8-4-2006 vừa qua bởi 118 vị anh hùng bằng những lời lẽ rất khẳng
khái và hào hùng thể hiện qua bản Tuyên ngôn tự do dân chủ 2006.
Sự kiện công bố bản Tuyên ngôn tự do dân chủ 2006 có thể được coi như
sự khởi đầu của một cao trào đấu tranh cho tự do dân chủ của đại đa số
nhân dân Việt Nam trong thời gian tới. Cỗ xe đấu tranh cho dân chủ được
gây dựng và duy trì bởi những Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Phạm Quế
Dương, Trần Khuê, Nguyễn Đan Quế, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng
Thích Quảng Độ cùng rất nhiều nhân sĩ trí thức yêu nước khác đã và đang
được nhiều người đẩy đi, nó sẽ tiến về phía trước với sức mạnh không gì
ngăn cản nổi.
Xin được cảm ơn các chiến sĩ đấu tranh cho tự do dân chủ, các chiến sĩ
đấu tranh cho hòa bình, các chiến sĩ đấu tranh cho công bằng và lẽ phải.
Tổ quốc và nhân dân sẽ đời đời ghi nhớ công lao của các vị!
Bản chất của cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ
Bản Tuyên ngôn tự do dân chủ 2006
đã minh định: “Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân
chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện
nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần
hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể
chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính
trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh
tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước,
trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân
lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân
loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.”
Như vậy bản chất của cuộc đấu tranh cho dân chủ là nhằm vào việc xây
dựng một thể chế xã hội công bằng cho tất cả mọi thành phần trong xã
hội, đảm bảo cho tất thảy đều có quyền như nhau và nghĩa vụ như nhau,
đảm bảo mọi người đều có cơ hội tham gia nhiều nhất vào các hoạt động
quản lý xã hội. Không có thành phần hay nhóm người nào được phép đứng
trên tất cả và được phép đứng ngoài vòng pháp luật. Đây không phải là
một cuộc đấu tranh tranh giành quyền lực, bởi vì kết quả của cuộc đấu
tranh là quyền lực được chuyển về về tay nhân dân chứ không phải nằm ở
trong tay những người tham gia tranh đấu. Nếu như người cộng sản bị mất
quyền lãnh đạo dưới chính thể xã hội dân chủ là do chính bản thân họ đã
đánh mất sự tín nhiệm từ nhân dân chứ không phải do bị người khác cướp
mất quyền.
Những người tham gia cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ đều xuất phát từ
lương tâm và trách nhiệm đối với dân với nước, họ chỉ có một khát vọng
cháy bỏng là được nhìn thấy một thể chế xã hội tốt đẹp hiện hữu ở trên
đất nước ta. Sau bao năm trải qua những thăng trầm của lịch sử, nhân
dân Việt Nam có đủ tri thức và bài học kinh nghiệm để lựa chọn người
lãnh đạo tốt nhất cho mình.
Có thể khẳng định rằng cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ hiện nay là
hoàn toàn chính nghĩa, đòi hỏi của các tầng lớp nhân dân là hết sức đơn
giản, chỉ cần mọi người sống trong cùng một nước hãy biết đối xử công
bằng với nhau trên một tinh thần tôn trọng nhau là mọi việc sẽ trở nên
tốt đẹp.
Một điều đơn giản như vậy lẽ nào người cộng sản không thể thực hiện được?!
Đề xuất một số ý kiến về cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ
Đấu tranh cho tự do dân chủ là nhằm vào việc xây dựng một xã hội dân
chủ có tự do, xây dựng một thể chế chính trị xã hội tốt đẹp hơn thể chế
chính trị xã hội hiện hành. Bởi thế, hơn ai hết những người tham gia
vào cuộc đấu tranh này là những người cần có tinh thần dân chủ, tôn
trọng sự khác biệt và áp dụng thể chế dân chủ ngay trong các hoạt động
của mình.
Trên tinh thần đó, với bên đối ứng là người cộng sản, chúng ta cần bày
tỏ một thái độ ứng xử văn minh, cao thượng hơn cách thức ứng xử độc tài
của họ, nếu như ta muốn họ chấp nhận ta khác họ là chuyện thường tình
thì ta cũng phải coi họ khác ta cũng là chuyện thường tình. Có lẽ cũng
là do vận mệnh của dân tộc, vì một lý do nào đó, học thuyết Mác-Lê đã
cập bến thành công vào trí não của một bộ phận người Việt Nam chúng ta
để biến đổi họ từ một người dân Việt Nam bình thường theo văn hóa Á
đông thành ra một người mang tư tưởng cộng sản. Dưới góc độ con người,
những người phi cộng sản tôn trọng sự tồn tại của người cộng sản, không
chống con người cộng sản mà chỉ chống lại những quan điểm và việc làm
của người cộng sản gây phương hại đến cuộc sống và quyền làm người của
những thành phần khác mà thôi.
Khi xác định vị thế của người cộng sản là một bộ phận trong cộng đồng
dân tộc thì mọi thành phần khác trong xã hội cũng cần nhận thức rằng
mình có quyền ngang bằng với người cộng sản trên mọi phương diện (dù
người cộng sản có công lớn đến thế nào đi chăng nữa thì cũng không việc
gì phải đem cái cái quý nhất của đời mình là quyền làm người ra trả cho
người cộng sản), bởi thế trong mối quan hệ với người cộng sản chỉ xác
định đây là mối quan hệ giữa người với người, không mặc nhiên thừa nhận
vị thế bề trên của họ, không phải trình bày với họ để xin xỏ này khác
(về nguyên tắc người cộng sản chẳng có gì để cho ai và họ cũng chẳng có
quyền để cho hay không cho ai cái gì), hãy coi Tổng bí thư Đảng cộng
sản chỉ là thủ trưởng của những người cộng sản - không phải là thủ
trưởng của tất cả mọi người, hãy coi Đảng cộng sản chỉ là tổ chức chỉ
của người cộng sản - không phải là tổ chức đại diện cho mọi thành phần,
người cộng sản có lợi ích khác với lợi ích của đại đa số nhân dân đặc
biệt là đối với nhóm người cộng sản quan chức giàu có “tư sản đỏ”, hãy
coi sinh hoạt đảng là chuyện nội bộ của đảng viên cộng sản – chúng ta
không có nghĩa vụ phải tham gia vào việc xây dựng đảng của họ mà chỉ
cần dõi theo xem lời nói và việc làm của họ, chính sách và quyết định
của họ có cái nào gây phương hại đến lợi ích của người dân thì chúng ta
tổ chức đấu tranh ngăn chặn. Vì thái độ trịch thượng và kiêu ngạo của
người cộng sản, chúng ta hãy để người cộng sản sống một mình trong sự
xa lánh. Trên phương diện pháp lý, những gì liên quan đến cuộc sống của
mỗi con người chỉ thông qua hệ thống tổ chức nhà nước. Khi chúng ta đưa
đảng cộng sản vào giải quyết các vụ việc của đời sống xã hội là mặc
nhiên thừa nhận quyền lực của họ.
Do yếu tố này hay yếu tố khác, vào những thời khắc quan trọng của lịch
sử, dân tộc ta đã không ngăn chặn nổi người cộng sản chiếm quyền điều
khiển nhà nước, điều đó đã đưa đẩy dân tộc ta rơi vào hoàn cảnh bị buộc
phải sống dưới thể chế do người cộng sản nắm quyền. Về nguyên tắc, dù
muốn hay không thì chúng ta vẫn phải chấp hành cái hệ thống pháp luật
hiện hành, nhưng việc chấp hành này không mang tính cam chịu mà vẫn
luôn tìm mọi cách cải biến lại toàn bộ hệ thống vận hành nhằm thiết lập
ra một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân bằng các hình thức
thích họp. Dù hệ thống luật pháp ở Việt Nam hiện nay còn thiên lệch về
phía bảo vệ vị thế độc tôn của người cộng sản nhưng vẫn còn nhiều
khoảng mở để cho người dân khai thác nhằm đấu tranh lại với người cộng
sản một cách chính danh và đúng pháp luật. Việc thực thi đúng pháp luật
chưa hẳn đã tránh được sự đàn áp của người cộng sản nhưng dù sao thì
cũng làm cho sự đàn áp bằng pháp luật của người cộng sản bị hạn chế đi
rất nhiều.
Bất kỳ một cuộc đấu tranh nào cũng cần phải nói cho đúng và đánh cho
trúng. Đối tượng của cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ ở Việt Nam vừa là
từng cá nhân người cộng sản được gọi dưới danh xưng “đảng viên” lại vừa
là tập thể những người cộng sản được gọi dưới danh xưng “đảng”. Trong
đó “đảng” là một đối tượng được người cộng sản đầu tư gọt dũa nhào nặn
thành ra một nhân vật huyền ảo mang những phẩm chất tốt đẹp nhất của
con người, tất cả những lời phát ra từ đảng (của nhiều người) đều rất
chuẩn mực và lúc nào cũng vì dân vì nước, đảng chỉ làm những điều tốt
đẹp, đảng không chấp nhận và không ủng hộ những việc làm sai trái, đảng
dị ứng với tất cả những thói hư tật xấu ở trên đời. Có thể nhận thấy
khó tìm thấy bằng chứng nào trên các tài liệu thể hiện rằng đảng có ý
định trở thành người xấu. Cái xấu (nếu có) được cho là do cá nhân gây
ra. Đã từng có đảng viên cộng sản hỏi: “Đảng (CS) xấu ở chỗ nào?”! và
hiện nay vẫn còn nhiều người không nghĩ rằng đảng là xấu, vẫn tin tưởng
và bảo vệ đảng đến cùng dù đã chán ngấy cái đội ngũ cán bộ lãnh đạo
hiện nay, họ rất dị ứng với những lời lẽ phê phán đảng. Do vậy để nâng
cao hiệu suất đấu tranh chúng ta cần phân định rõ vấn đề nào thuộc về
cá nhân đảng viên và vấn đề nào thuộc về đảng. Ví dụ như nói đảng bao
che cho tham nhũng thì chưa thực sự chính xác bởi lẽ hiện nay trong
đảng có rất đông đảng viên (đại đa số ở cấp thấp, đặc biệt là lớp cựu
chiến binh) đang tiến hành các hoạt động chống tham nhũng, lãnh đạo
đảng cũng hô hào chống tham nhũng, nói như vậy người ta có cảm giác như
không đúng, nhưng nếu nói rằng đa phần cán bộ của đảng vừa tham nhũng
lại vừa bao che cho tham nhũng thì mọi người sẽ thấy ngay rằng điều đó
rất chính xác…
Người cộng sản thường hay nhân danh đảng (tập thể) để ra các quyết định
nhằm tạo ra quyền uy và cũng là để lẩn trách trách nhiệm cá nhân trước
lịch sử. Bởi thế trước một việc làm sai trái, trước một quyết định gây
ra tội lỗi thì chúng ta cần gắn thêm trách nhiệm của những con người
liên đới để họ hiểu rằng lịch sử sẽ ghi lại tội lỗi của họ. Nếu nói
rằng tội lỗi này là do đảng gây ra thì nó rất chung chung và không có
ai phải lo sợ nhưng nếu chỉ đích danh người ra quyết định thì chắc chắn
rằng cá nhân liên quan cũng phải giật mình. Những người tham gia gây
tội lỗi thường hay tìm cách giải thích rằng họ thực sự không muốn nhưng
vẫn phải làm vì miếng cơm manh áo, cách giải thích đó chủ yếu nhằm trốn
trách trách nhiệm cá nhân, nếu ở con người có lương tâm thực sự mà thấy
sự việc quá vô lý như chuyện Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ
Bình, Lê Chí Quang bị đem ra kết tội gián điệp thì lẽ ra họ phải khoái
thác nhiệm vụ mới đúng là người tự trọng.
Rồi đến những vấn đề thuộc về lĩnh vực tình cảm cần đánh động lương tâm
thì không nên coi đảng là một đối tượng trao đổi mà cần trình bày tới
những con người cụ thể vì “đảng” chưa đủ đặc tính của một con người, cơ
chế hoạt động của đảng chỉ thuộc loại phản xạ có điều kiện mà thiếu hẳn
loại phản xạ tự nhiên vốn có của con người, đảng không hoạt động bằng
trái tim mà hoạt động bằng các nguyên tắc, do vậy cách ứng xử của đảng
không bao giờ chứa đựng yếu tố tình cảm như mối quan hệ của con người
với nhau.
Người cộng sản thường nói lý tưởng của họ rất cao đẹp nhưng về thực
chất thì lý tưởng của họ chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu về lợi ích vật chất
với “bao nhiệu lợi quyền ắt qua tay mình”. Sự liên kết lại với nhau để
hình thành nên tổ chức đảng là nhằm đoạt được một quyền lợi vật chất
nào đó, nếu không thu được quyền lợi thì họ cũng chẳng tham gia đảng để
làm gì. Đem vật chất ra chia nhau một cách công khai đàng hoàng thì vi
phạm vào chính những cái mà mình từng phê phán chế độ cũ là bất công,
thế cho nên người cộng sản bật đèn xanh cho phép chia nhau nhà cửa đất
đai nhằm giữ lại lực lượng. Bởi vậy muốn làm suy yếu lực lượng của
người cộng sản thì dùng cách chặt đứt các con đường thu hoạch bất chính
của họ, một khi không còn có chỗ nào tham nhũng vơ vét của cải được nữa
thì tự bản thân những người cộng sản sẽ rời bỏ đảng của mình.
Mục tiêu cao nhất của mỗi người cộng sản bây giờ là giữ ghế của cá nhân
và ghế của đảng cho thật chắc để còn có cơ hội tham nhũng nhằm thu lợi
hơn người, họ làm gì có lý tưởng giải phóng loài người và xây dựng một
xã hội công bằng khi cứ nặn từng đồng trong túi nhân dân khi phải đi
qua cửa quan?!. Để biết động lực giữ đảng của người cộng sản mạnh mẽ
như thế nào thì chúng ta chỉ cần sơ bộ lập một bản danh sách kê khai
phần tài sản nổi của cán bộ đảng viên là thấy rất rõ. Để thoát khỏi cái
nạn bị ức hiếp nơi cửa quan thì mọi người phái hết sức đồng lòng xông
lên chống tham nhũng cho thật mạnh, không chấp nhận đút lót hay nộp
tiền làm luật để giải quyết những công việc của cá nhân, nếu gặp cản
trở cần mạnh dạn đưa vấn đề ra công khai cho bàn dân thiên hạ rõ, hãy
biết chịu đựng khó khăn ngày hôm nay để có ngày mai tươi sáng hơn, hãy
biết vượt qua nền văn hóa luồn lách hơn người để tránh tai họa cho con
cháu ta ngày mai. Trong vấn đề tham nhũng, chính mỗi người dân chúng ta
cũng có phần làm cho tham nhũng và các tệ nạn xã hội phát triển, giờ
đây là lúc chúng ta ra lời kêu gọi hãy đừng nuôi dưỡng và tiếp tay cho
tham nhũng nữa.
Xét về mặt tiềm năng thì lực lượng tham gia vào cuộc đấu tranh cho tự
do dân chủ sẽ là rất đông đảo, sau mấy chục năm qua người dân Việt Nam
đã bắt đầu hiểu được chế độ cộng sản là gì, đảng cộng sản là như thế
nào, chế độ độc đảng cai trị nhân dân theo kiểu gì? Có thể đánh giá
rằng đa phần người dân đều không ưa gì cách cách thức và thái độ cai
trị của người cộng sản và đồng thời mong mỏi một sự thay đổi căn bản
nào đó về cơ cấu vận hành xã hội, tuy nhiên để biến thái độ bất mãn và
nỗi niềm mong mỏi sự thay đổi của người dân thành lực lượng đấu tranh
hùng mạnh cho tự do dân chủ thì đó là một quá trình có rất nhiều việc
phải làm. Chúng ta cần phải đoàn kết và liên kết mọi người lại với
nhau, đánh tan nỗi sợ hãi trong mỗi người dân, tập cho mọi người có ý
thức và làm quen dần với các cuộc đấu tranh từ đơn giản đến phức tạp…
Về bản chất cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ là một xâu chuỗi của những
hành động tạo áp lực nhằm buộc người cộng sản phải chấp nhận sống trong
sự bình đẳng trong cộng đồng dân tộc, chúng ta cần làm cho người cộng
sản thấy rằng quan điểm của họ là phi nghĩa, cách thức quản lý xã hội
của họ là lạc hậu, người ủng hộ họ chỉ là thiểu số, ngược lại việc xây
dựng một xã hội tự do dân chủ là chính nghĩa, người có nhu cầu được
sống trong một xã hội dân chủ là rất đông đảo còn lòng kiên nhẫn trong
người dân đang mất dần, nếu kéo dài thêm nữa thì hậu quả sẽ khôn lường.
Ngoài việc gây áp lực ở các cơ quan công quyền cấp trên như Quốc hội,
nhà nước, chính phủ thì cũng cần tạo áp lực lên cả những cá nhân ở cấp
thấp hơn như đại biểu quốc hội, thủ trưởng ở các cơ quan nhà nước có
liên quan. Thực hiện việc tạo áp lực bằng những đòi hỏi nhà nước phải
thỏa mãn những nhu cầu về quốc kế dân sinh, cải thiện đời sống, sự an
toàn của bản thân, chống được tham nhũng…
Để tạo áp lực bằng số đông thì sự liên kết mọi người lại với nhau là
cực kỳ quan trọng nhưng bản chất của tinh thần tự do dân chủ tự nó lại
quy định sự liên kết của mọi người là rất mềm dẻo và không có bất kỳ sự
giàng buộc nào mang tính cưỡng bức, nói chung mục tiêu của mọi người là
giống nhau và chỉ khác nhau về phương pháp đấu tranh, do vậy việc hình
thành nhiều nhóm liên kết khác nhau mới chính là sức mạnh của cuộc đấu
tranh cho tự do dân chủ. Sau mấy chục năm nắm quyền hành, người cộng
sản đã tạo dựng được một sức mạnh nhất định và bản thân họ cũng có rất
nhiều mưu kế trong việc bảo vệ vị thế độc quyền của mình, bởi vậy những
người đấu tranh cho dân chủ cũng cần phải có rất nhiều các phương pháp
đấu tranh khác nhau, trong cuộc đấu tranh này không có phương pháp hay
mà cũng chẳng có phương pháp dở, không có công việc lớn mà cũng chẳng
có công việc nhỏ, tất cả mọi phương pháp và công việc hướng đến dân chủ
hóa đất nước đều có giá trị như nhau. Tất cả các hoạt động đấu tranh
đều nằm trong sự tương hỗ với nhau: Ví dụ như cuộc đấu tranh kiên cường
của các chức sắc tôn giáo ở trong nước làm nền tảng cho cuộc vận động
áp lực quốc tế từ bên ngoài, phong trào đấu tranh kiên trì của nhân dân
tạo ra nỗi lo sợ mất đảng để thúc ép các đảng viên lão thành đấu tranh
với nhóm lãnh đạo hiện thời.
Sự đa dạng của phương pháp đấu tranh được xuất phát từ vị thế và hoàn
cảnh riêng của mỗi người, nhân dân lao động có nhu cầu cao nhất là cơm
áo gạo tiền hàng ngày thì mục tiêu đấu tranh sẽ là xóa đói giảm nghèo,
nhân dân bị oan ức thì chỉ mong sao nỗi oan khuất được giải là hạnh
phúc lắm rồi, văn nghệ sĩ có nhu cầu được khẳng định mình với những tác
phẩm để đời thì sẽ nảy sinh yêu cầu đòi tự do sáng tác, những người có
tình cảm cháy bỏng với quê hương đất nước mong muốn được nhìn thấy một
xã hội lành mạnh thì có nhu cầu đấu tranh đòi thay đổi thể chế... Nhiều
mục tiêu và phương pháp đấu tranh khác nhau không có nghĩa là một sự
chia rẽ. Trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam ngày nay đủ để mọi người giải
quyết sự khác nhau một cách tốt đẹp.
Lời kết
Tin Việt Nam chúng ta có thể được gia nhập WTO ngay trong năm 2006 sau
khi đạt được thỏa thuận với Hoa Kỳ trong vòng đàm phán vừa qua được coi
là một tin vui, nhưng bên cạnh đó vẫn còn bao nỗi buồn chất chứa trong
lòng. Câu hỏi đặt ra cho tất cả người Việt Nam chúng ta là sẽ cạnh
tranh trên trường quốc tế như thế nào khi mà nền lập pháp chỉ biết đề
ra các quy định tạo thuận lợi cho những người làm quan, khi mà mọi thủ
tục qua cửa quan đều phải làm luật, khi mà mạch máu giao thông phải
ngừng chảy từ những chiếc bóng áo vàng áo xanh, khi mà cha mẹ lo học
cho con thì ít mà lo tránh nghiện ma túy cho con thì nhiều, khi mà con
người cứ luôn sống trong tâm trạng lo sợ bị trộm cắp cướp giật, khi mà
tầng lớp “bất lương đêm” đang ngày càng lớn mạnh, khi mà con người cứ
phải sống trong sự dối trá và lừa lọc, khi mà môi trường sống đang ngày
càng bị hủy hoại, khi mà cả hệ thống quy hoạch kiến trúc bị phá nát,
…và còn biết bao nhiêu những cái “khi mà” khác nữa đang hiện hữu ở trên
đất nước ta. Thử hỏi, những cái “khi mà” đó sẽ tạo ra bao nhiêu phần
trăm lực cản trên con đường phát triển của đất nước. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế vài chục phần trăm liệu có làm thay đổi được sự bất bình đẳng
giữa thành phần người cộng sản với những thành phần người khác không?
Liệu có thể góp phần làm sáng sủa hơn cho nền văn hóa dân tộc và đạo
đức xã hội đang suy thoái không? Người cộng sản nghĩ gì về hiện tình
của đất nước? Mà sao cứ chuyên quyền độc đoán?!
• Người dân khác nghĩ gì về hiện tình của đất nước?! Mà sao chưa hành động tích cực?!
• Một năm là quá ngắn cho một sự thay đổi, nhưng năm năm lại là quá dài trước tốc độ phát triển đến chóng mặt của thời đại.
• Đã đến lúc tất cả mọi người hãy can đảm xúm vào đẩy cỗ xe đất nước tiến lên!
Trần Lâm
Tháng 5/2006
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: