Tác giả viết bài này nặng về quan-diểm thần-học trích-dẫn bằng Thánh-Kinh cho Ky-tô-hữu trong thời-đại mới của khoa-học.
Ngày
mai, 19-5-2006 Phim The Da Vincy Code do Dan Brown viết sẽ được chiếu
trên toàn thế giới. Trên 30 triệu quyển-sách này đã được bán ra với
nhiều thứ tiếng. Được biết có đến 1/3 người đọc tiểu-thuyết này và tin
là thật.
Sau đây là những luận-cứ phản-bác lại căn-cứ vào
Thánh-kinh và suy-luận gồm điểm chánh ai là 144.000 người bí-mật đã
được Thánh-kinh đề-cập vào ngày tận-thế. Mục đích là để chứng minh Đức
Giê-xu tuy mang bản-tánh con-người nhưng Ngài không cần phải có những
va-chạm tình-dục xác-thịt để hoàn tất sứ-mạng cứu-độ chúng-sinh mà
Thượng-đế đã giao-phó cho Ngài. Cho nên những gì sách The Davincy Code
có “vẽ vời” cũng không có gì là quan-trọng đối với Đức-tin của
Ky-tô-hữu.
1. BÀ MA-RI MA-ĐƠ-LEN LÀ VỢ CỦA ĐỨC CHÚA GIÊ-XU.
Điều này không đúng. Trong 4 Sách Phúc-âm của 4 môn-đồ Ma-thi-o, Mác,
Lu-ca và Giăng và cả các thơ của thánh-đồ Phao-lô không hề nói đến. Nói
tóm lại trong cả Kinh-thánh từ Cựu Ước lẫn Tân-Ước đều không nói điều
này, kể cả hai người là tình-nhân của nhau.
2. MA-RI MA-ĐƠ-LEN LÀ MÔN-ĐỒ MÀ CHÚA GIÊ-XU YÊU.
Đúng là có 8 câu trong Tân-Ước nói “người môn-đồ” mà Chúa yêu, nhất là
Phúc-Âm Giăng. Nhưng không Phúc Âm nào nói đích-danh đó là bà Ma-ri
Ma-de-len. Lâu nay các thần học gia tin rằng đó là môn-đồ Giăng vì
khiêm nhường không muốn nêu lên đó là mình. Nhưng những nghiên cứu
kỹ-hơn về đặc tính nóng nảy của ông Giăng (như đòi gọi lửa từ trời
xuống tiêu diệt cả một thành-phố, và hay làm mất lòng các môn-đồ khác)
thì cho thấy có lẽ là ông La-xa-rơ là người mà Chúa yêu và đã làm cho
sống lại thì thích hợp hơn. Nhưng đây cũng chỉ là một phỏng-đoán mà
thôi.
3. MA-RI MA-ĐƠ-LEN NẰM TRÊN NGỰC CHÚA GIÊ-XU
Đúng
là Phúc-âm Giăng có nói có một môn-đồ nằm trên ngực Chúa Giê-xu trong
buổi ăn-tối tiệc-ly (the last supper), nhưng không nói tên là ai.
Họa-sỹ Da Vincy khi vẽ bức-tranh này đã vẽ một người “giống” phụ-nữ
ngồi bên phải Ngài, nhưng không thể đoán chắc đó là Ma-đơ-len. Vì ông
Davinci có thể tưởng-tượng theo ý ông, hoặc đó là một môn-đồ trẻ tuổi
chưa có râu mà thôi. (Có một bức ông vẽ Giăng Báp-tit (Gioan Tẩy-giả)
giống hệt một phụ-nữ, cười hóm hỉnh thì sao !)
4. CHỮ “M” VÀ CHỮ “V” ẨN-Ý TÌNH-NHÂN GIỮA 2 NGƯỜI
Davinci vẽ Ma-đơ-len ngồi bên phải Chúa Giê-xu và 2 người ngã về 2
phía, tạo thành một chữ tưởng-tượng là M, ý nói đó là Marriage
(hôn-nhân), chỉ là sự tưởng-tượng của tác-giả tiểu-thuyết Dan Brown mà
thôi. Rồi giữa chữ M lại có khung cửa-sổ thẳng đứng, họa-sỹ có thể cho
đó là ký-hiệu của phụ-nữ, thì cũng là một sự tưởng-tượng hay nghịch
ngợm mà thôi.
5. CÁC SÁCH PHÚC-ÂM “NGỤY KINH” GNOSTIC GOSPELS THÌ SAO?
Ngay cả những Phúc-Âm Gnostic (Sự Hiểu Biết = Minh Triết) như Phúc Âm
theo Tông-Đồ Ma-ri Ma-đơ-len (bị Thiên-Chúa-Giáo cấm phổ-biến từ Thế Kỷ
thứ 3) hay Phúc-Âm theo Tông-đồ Phi-lip (cùng một thời đó), và Phúc-Âm
theo Tông-đồ Giu-da (mới được phổ-biến trên báo chí tháng 4 năm 2006
vừa qua sau khi bị chôn vùi 17 thế-kỷ dưới sa-mạc Ai-cập) cũng không hề
nói Giê-xu và Ma-đơ-len là vợ-chồng hay là tình nhân.
Nếu
Giê-xu là chồng của bà, thì bà phải hãnh-diện lắm và ghi trong Phúc-Âm
của bà chứ! (The Gospel of Mary Madelaine)? Trong khi Tông-đồ Phi-lip
chỉ ghi rằng Chúa đã hôn bà Ma-đơ-len trên …. (kiss on the …) (bị mất
nơi bản chính) mà thôi. Lại còn ghi rằng Chúa đã giao quyền lãnh-đạo
Đạo-Chúa (Christianity) cho Ma-đơ-len chớ không phải là cho Tông-đồ nào
khác và ông đã “trở-thành” vị Giáo-hoàng đầu tiên. Nhưng sự hôn miệng
này (nếu là đầu hay miệng, trán, má, không rõ) chỉ là phong-tục của
thời bấy giờ ở Trung-Đông. Ngày xưa khi dân Do Thái thề còn phải để tay
người thề lên “đùi” người kia thì sao (bởi vậy nên mới có chữ Testify
gốc của chữ Testicle)
6. XƯNG-HÔ GIỮA CHÚA GIÊ-XU VÀ MA-RI MA-ĐƠ-LEN
Ma-đơ-len là người đầu tiên thấy Đức Giê-xu sống lại trong mồ. Bà là
người PHỤ-NỮ đầu tiên và là “MÔN-ĐỒ” đầu-tiên trong 13 môn-đồ thấy Chúa
Giê-xu sống lại. Nếu là chồng thì bà đã gọi là “Chồng ơi, anh ơi, hay
mình ơi !”v.v…Nhưng bà lại gọi là “THẦY ơi!” hay là “Thưa THẦY”
(Rabuni, có nghĩa là Thầy) (Phúc-âm Giăng (Gioan) 20:16 “Đức Chúa
Giê-xu phán rằng: Hỡi Ma-ri! Ma-ri bèn xoay lại lấy tiếng Hê-bơ-rơ mà
thưa rằng: Rabuni (nghĩa là Thầy)! Nếu để ý ta sẽ thấy Đức Giê-xu không
có gọi bà là: Vợ ơi, em ơi, người tình ơi, hay là mình ơi!
Một trường-hợp khác là khi Chúa Giê-xu chết nơi thập-giá đã trăn-trối
với Ba (3) người phụ-nữ có mặt, gồm Đức-Mẹ Ma-ri, mẹ Ngài, Dì Ngài là
Ma-ri vợ của Cô-lê-ơ-ba, và Ma-ri Ma-đơ-len. Ngài trối với Mẹ Ngài về
người môn-đồ mà Ngài yêu (chỉ có 3 phụ-nữ lúc đó): Thưa Mẹ, đây là CON
của Mẹ, và quay sang nói với người môn-đồ đứng kế-bên: Và đây là MẸ của
ngươi! (Kinh-thánh tiếng Anh thì viết là “thy”, có nghĩa là “your”).
Kinh thánh ghi tiếp là “từ đó, người môn-đồ này rước Mẹ Ngài về ở với
mình!” Xin lý luận rằng: “Nếu người này là tông-đồ Giăng hay là ông
La-xa-ro, họ đều là đàn-ông thì sao lại rước Mẹ của Ngài về ở, đâu có
tiện. Vậy thì phải là Ma-ri Ma-đơ-len, là một “môn-đồ” đã lẻo-đẻo theo
Chúa nhiều năm thì việc này mới có lẽ thích hợp hơn. Đây cũng
chứng-minh cho thấy Mẹ Ma-ri KHÔNG CÓ NGƯỜI CON NÀO KHÁC cả có thể lo
cho Bà, nên Chúa Giê-xu đã gởi-gắm cho “người môn-đồ mà Chúa yêu” này.
Và lúc đó thì chỉ có 3 người phụ-nữ tại đó mà thôi! Vậy thì người đó là
ai ?------- Nơi đây ta cũng không thấy có một sự xưng-hô nào giữa Chúa
Giê-xu và Ma-ri Ma-đơ-len bằng danh xưng giữa người yêu hay là giữa vợ
chồng nào cả! Có thể lúc-đó Ngài nhắn-nhủ với tất cả ai TIN nơi Ngài,
và yêu-mến Ngài phải xem Mẹ Ngài như Mẹ mình vậy! (Phúc Âm Giăng đoạn
19 câu 27).
7. NHỮNG HỘI KÍN NỬA ĐỜI NỬA TÔN-GIÁO MÀ DAN BROWN NÓI ĐẾN?
Tổ chức Templar Knights có từ thế kỷ 11 có thể là một tổ-chức kín để
bảo-vệ “dòng dõi” của Chúa Giê-xu do Ma-đơ-len sanh ra một cách
mầu-nhiệm như sự thụ-thai của Đức Mẹ Ma-ri mà không qua luật sinh-lý
của con người như chúng ta. Xin độc-giả đừng hốt-hoảng về những suy
luận này. Đây là những tu-sĩ kiêm chiến-sĩ (warrior monks) giống như
Thiếu Lâm Tự bên Tàu ngày xưa. Tổ chức quyền uy và giàu có này sau còn
có tên là Priory of Zion (núi Xi-ôn) và cho tới ngày nay đã biến thể
thành hội kín Mason Tam-Điển đã từng thảo ra Hiến- pháp nước Mỹ.
Và họ đã bảo vệ dòng-dõi con cháu vô-nhiễm nguyên-tội của Đức Giê-xu
truyền qua cách mầu-nhiệm qua Ma-de-len và ngày nay họ đang sống trong
vòng chúng ta, CÓ THỂ là 144,000 người bí mật mà trong 2,000 năm nay
chúng ta không rõ là ai.
Mười bốn vạn bốn ngàn (144.000) người
này có đầy đủ đặc-tính của con-cháu của Chúa Giê-xu: Hãy xem sách
Khải-huyền Giăng đoạn 14:1 “Tôi nhìn xem thấy Chiên Con đứng trên núi
Si-on, và với Ngài có 14 vạn 4 ngàn người ĐỀU CÓ DANH CHIÊN CON VÀ DANH
CHA CHIÊN CON GHI TRÊN TRÁN MÌNH. Họ hát một bài ca mới trước ngôi…
không ai học được bài ca đó, họa chăng chỉ có mười bốn vạn bốn ngàn
người, đã được CHUỘC KHỎI ĐẤT mà thôi…CHIÊN CON ĐI ĐÂU, NHỮNG KẺ NÀY
THEO ĐÓ. Những kẻ đó đã được CHUỘC TỪ TRONG LOÀI NGƯỜI”. (Tức là phải
đã làm qua kiếp người rồi, như Đức Giê-xu đã phải hóa-thân làm người
rồi thì mới được cứu-chuộc).
Thánh kinh ghi “Chiên con đứng
trên núi Si-ôn” thì đạo-quân bí-mật này đã từng bị tàn-sát thời
trung-cổ lại có tên là “The Priory of Zion (tức là Núi Si-ôn)! Dan
Brown nói đúng về lai-lịch của đạo-quân này trong sách của ông! Và tại
thư-viện Pháp ngày nay cũng có “The Secret Files” của tổ-chức này nữa,
có đăng-ký tại thư-viện Pháp mới đây. Nhưng theo các báo-chí và
cảnh-sát Pháp thì người này đăng-ký hội-kín này vào năm 1956 đã xác
nhận công-khai với truyền-hình Anh là ông đã “bịa-đặt” để mạo-nhận rằng
ông là dòng-dõi của một ông Vua nước Pháp vào thế-kỷ thứ 12 là
Merovingiam. Và ông vua này lại là hậu-duệ của Chúa Giê-xu và Ma-đơ-len
!------ Điều-tra về ông, ông khai là làm “tài-liệu giả” rồi ghi những
danh nhân nổi tiếng như là Isac Newton, Voltaire, và Leonard Da Vincy
vào 2 tờ gia-phả giả-mạo, và ám chỉ rằng họ cũng là hậu-duệ của Chúa
Giê-xu và Ma-de-len. Vì vậy Dan Brown mới căn-cứ vào đó mà viết cuốn
tiểu-thuyết mình. Ông tên là Pierre Plantard và đã mất năm 2000.
Luận
về con số 144.000 người và nếu bảo rằng cả thế giới (nay đang có tới 2
ngàn triệu tín-đồ Ky-tô-giáo, tức là 2 tỷ mà chỉ có 144.000 người được
Chúa cứu đưa về Thiên-Đàng thì là quá vô lý. Còn 4 tỷ người con lại
không theo đạo “Cơ-Đốc-Giáo hay Ky-tô-Giáo hay Đạo Chúa” không lẽ là
người “gian ác” cả sao, và Thiên-Chúa không cứu-độ và bỏ họ vào
hỏa-ngục cả sao? Còn hàng tỷ người đã chết rồi không lẽ không có ai
được cứu-độ nữa hay sao? Vậy thì 144.000 người này phải là loài người
rất đặc-biệt! Họ là ai, mà lại có khắc tên CHA là Chiên-Con và tên ÔNG
NỘI là Cha của Chiên-Con mình trên trán, nếu không phải là hậu-duệ, là
dòng-dõi con cháu của Đức Giê-xu? Đoạn sau sẽ cho thấy Thượng Đế đã
nhiều lần muốn xâm-nhập dòng-dõi Trời vào thế-giới chúng ta.
8. THƯỢNG-ĐẾ ĐÃ NHIỀU LẦN MUỐN CẤY (plant) NGƯỜI XUỐNG TRẦN-GIAN NÀY
Đây không phải là lần đầu Thiên-Chúa muốn đặt một số “đại-sứ” của Ngài
ở trần-gian. Mà là có thể là LẦN THỨ 3, để gìn-giữ chúng-sinh khỏi
nanh-vuốt của Qủy Sa-tăn, đối-thủ (opponent) nguy-hiểm của Ngài. Tôi
gọi Sa-tăn này là “Hạ-đế”(Low King) để đối nghịch lại với “Thượng-Đế”
cho nó có vẻ vô-tư giữa các thế-lực trên trời tranh-chấp với nhau!
(Thánh Phao-lo nói: “Chúng ta không phải chiến-đấu với THỊT và HUYẾT,
mà là với những thần dữ của các thế-lực tối-tăm TRÊN CÁC TỪNG TRỜI).
Chúng ta được đồng-minh là Thiên-Chúa giúp, nhưng chúng ta phải tự-mình
mà chiến-đấu!
Lần thứ nhất Thượng-đế đã gửi “sứ-thần” xuống
trần gian để giúp chúng ta có được một “hậu-duệ”của Ngài thanh-sạch,
nhưng Sa-tan đóng-đô sẵn trên địa-cầu này còn quá mạnh, nên Ngài đã
phải “thu-hồi” các đại-sứ về Trời. Ta hãy xem câu kinh-thánh sau trong
Sách Sáng-Thế-Kỷ đoạn 6:1 “Và khi loài người bắt đầu gia-tăng và sanh
được con-gái rồi (có nghĩa trước đó loài người chỉ có đàn ông mà thôi,
đông-đúc thêm nhờ phương pháp “multiplied” chớ không qua sự sinh-đẻ,
như E-va đã được multipled/cloned ra từ A-dam ) thì các con trai Đức
Chúa Trời thấy các con gái loài người xinh-đẹp bèn cưới làm vợ những
người họ chọn. Chúa Trời phán: “THẦN ta sẽ chẳng ở mãi với loài-người
(chúng-sinh), vì chúng chỉ là xác-thịt, đời người sẽ chỉ được 120 tuổi
(Ta chỉ cho sống tới chừng đó thôi)” (Xem sách Giop có đến 2 lần ghi
những cuộc “hội-nghị” trên trời giữa các “đại-sứ” của vũ-trụ về chầu
Thượng-Đế, ta sẽ thấy họ là các “con trai” của Đức Chúa Trời! Giop đoạn
1:6 và 2:1. “Một ngày kia các con-trai của Đức Chúa Trời đến chầu Ngài,
Sa-tăn cũng đến với họ để chầu Chúa Trời. Chúa hỏi Sa-tăn, ngươi từ đâu
đến? Sa tăn đáp: Tôi đi quan-sát đó đây, qua lại khắp nơi trên địa-cầu
” (Cho thấy địa-cầu cũng có đại-sứ là Sa-tăn nữa).
Lần thứ nhất
này đã thất bại, nên lần thứ hai Thượng đế đã hóa-thân (incarnated) qua
bụng Đức Mẹ Ma-ri, và máu tinh-sạch từ Trời của Ngài đã làm tinh-sạch
máu của Đức Mẹ, và đã biến Đức Mẹ thánh vô-nhiễm nguyên-tội, và Đức Mẹ
chính là con-người đầu tiên nhận Mình Thánh Chúa (Tiệc Thánh/Eucharist)
Và Thượng –đế đã thành công bằng phương-pháp hóa-thân này. Vì vậy mà
Đức Giê-xu mới được gọi là NGƯỜI-TRỜI (God-man), bản-tính là Trời,
nhưng bản-chất là con-người. Và là con người nên Ngài mang đủ mọi
hỷ-nộ-ái- ố như con người vậy. Nhưng Ngài đã chiến-thắng bản-chất người
của mình khi Ngài chịu “uống chén của Cha mà không theo ý của con” để
chết cứu-độ cho kiếp người mang nguyên-tội của chúng-sinh (ác-nghiệp
chớ không phải tội-lỗi).
Và khi Ngài “trút linh-hồn” trên cây
tử-hình (thập-giá) thì chính ngài đã THỞ RA (HÀ HƠI) THẦN-KHÍ của Ngài
để bao-phủ lên khắp chúng-sinh từ cổ chí kim, kể cả những người không
hề nghe và biết và tin nơi danh Giê-xu nữa! Và đó là ÂN-ĐIỂN vĩ-đại
nhất từ Trời ! (Bởi vậy mà trời-đất mọi rung chuyển động-đất và nhiều
thánh-nhân đã sống lại từ mồ mả!)
Phải chăng lần thứ ba này
Ngài đã để lại hậu-duệ của Ngài ( như là hiện thân của Đức Thánh linh ở
lại để yên ủi và giúp đỡ chúng sinh?) chính là 144.000 người này có ghi
tên họ Ngài trên trán mình. Còn cho chắc chắn hơn, còn ghi cả tên “ông
Ngoại, ông Nội “là Thiên-Chúa trên trán nữa! Ngai hóa-thân ĐẾN bằng
phép mầu, thì Ngài hóa-thân LƯU-LẠI cũng bằng phép mầu! Có việc gì mà
Đức Chúa Trời không làm được? (Ngày nay nhơn loại còn có thể cấy, mổ,
cắt ở trong bụng bằng tia Lazer thi huống hồ gì kỹ-thuật của Đức Chúa
Trời không hơn vạn lần như vậy sao!) Ta hãy xem câu Kinh-Thánh sau đây
xem ý Chúa Giê-xu nói gì, có phải là Ngài ám-chỉ Ngài lưu-lại hậu-duệ
để cứu nhân-loại chúng ta trong những ngày cuối-cùng trước ngày tận-thế
và Ngài trở-lại?
Trong sách Giăng 21:18 Có một hôm Chúa Giê-xu
tra hỏi Phê-rô đến 3 lần : “Anh yêu Thầy không? Phê-rô bực mình với
Chúa đáp “Thì Thầy biết tôi yêu Thầy mà sao Thầy cứ hỏi hoài!” Nhân đó
Phê-rô thấy người môn-đồ mà Chúa yêu, hôm tiệc ly đã nằm sát trên ngực
Chúa lò-mò tới, nên dường như ganh tức, khó-chịu mới hỏi Chúa: “Còn
“người này” về sau Thầy tính sao?” Chúa Giê-xu đáp: “Nếu ta muốn người
cứ Ở CHO ĐẾN KHI TA ĐẾN (until I come, until I arrive) thì can-hệ gì
đến anh?…Vậy có tiếng đồn ra trong vòng các anh em rằng người môn-đồ đó
SẼ KHÔNG CHẾT. Nhưng Chúa Giê-xu không phải nói là KHÔNG CHẾT mà chỉ
nói NẾU NGƯỜI CỨ Ở CHO TỚI KHI TA ĐẾN thì can-hệ gì tới Phê-rô đó thôi
(tôi viết gọn lại cho sáng ý nên có thêm bớt đôi chữ). Trong 2.000 năm
qua nhiều nhà thần-học không hiểu ý Chúa muốn nói gì về câu này! Phải
chăng “môn-đồ” đó không chết, có nghĩa là SỐNG ĐỜI cho đến ngày Chúa
trở lại trần-gian này! Hay là SỐNG QUA CON CHÁU và hậu-duệ của mình. Mà
nếu hậu-duệ đó không có đặc-tính vô-nhiễm nguyên-tội của Chúa Giê-xu
mầu-nhiệm ban cho thì sự sống đó cũng đâu có ý-nghĩa gì? Vậy thì phải
chăng đó là 144.000 người trên núi Si-ôn kia?( Prior of Sion, tên của
Hội kín từ thế kỷ thứ 12)
9. PHÊ-RÔ VỀ GIÀ BỊ MA-QỦY DẮT ĐI LẠC ĐƯỜNG LÀM RÕ Ý-NGHĨA CÂU TRÊN?
Xin nhớ cho là khi Chúa Giê-xu nói câu trên với Phê-rô thì ngay trước
đó Ngài đã nói sấm-ngôn (tiên-tri) về cuộc đời của Phê-rô như sau:
“Quả thật, quả thật, Thầy nói cùng anh, khi anh còn trẻ, anh tự-mình
thắt-lưng lấy MUỐN ĐI ĐÂU THÌ ĐI. Nhưng khi anh GIÀ, sẽ giơ bàn tay ra,
NGƯỜI KHÁC thắt-lưng cho và DẪN ANH ĐI ĐẾN NƠI MÌNH KHÔNG MUỐN” (Giăng
21:18 và Kinh Thánh Tân-Ước Công-Giáo tại VN đã in rời câu này ra trên
kinh-thánh, rất dễ thấy, không như của Tin-lành, in chìm trong trang
giấy) Phải chăng vì câu này mà Đức Giáo Hoàng John Paul II đã viết
quyển “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy-Vọng”? ý nói nay là” ngày già” của Giáo
hội Vatican?
Phải chăng Chúa Giê-xu thấy trước qủy Sa-tan sẽ
dẫn-dắt Giáo-Hội, Đạo-Chúa, Cơ-đốc-Giáo, Cải-Cách Giáo, Tin Lành Giáo
hay là chính Vatican đi đến NƠI MÌNH KHÔNG MUỐN, nên Chúa Giê Su đã
dự-phòng 144.000 hậu-duệ của Ngài để cứu Giáo-Hội và Đạo Chúa khỏi
lầm-đường lạc-lối.
Sa-tăn đã chực sẵn trong vườn địa-đàng E-den
để gạt bà E-va “Ăn Trái Cấm” để vướng vào nguyên-tội (ác-nghiệp). Nó
lại chực sẵn trên núi nơi Đức Giê-xu lên để tuyệt-thực và cầu-nguyện 40
ngày trước khi xuống núi hoằng-pháp, cứu-độ chúng-sinh, rồi làm cho 3
môn-đồ yêu-qúy của Ngài phải hai lần ngủ-gục trong Vườn Ghet-se-ma-ne
để làm nản lòng cho Chúa bỏ-cuộc khỏi phải lên thập-giá. Vậy thì Sa-tăn
sao lại bỏ-cuộc nếu đánh-phá được Hội-Thánh Chúa hay Vatican trong
những ngày cuối cùng của năm 2000 này?
Nếu Vatican xem Đức
Giáo-Hoàng là Tông-đồ Phê-rô ngày về già thì lời cảnh-cáo của Chúa
Giê-xu với Phê-rô sẽ là chuyện không tránh được. Không lẽ Chúa Giê-xu
đã hy-sinh xuống trần chết cho nhân-loại này mà lại để cho Sa-tăn là kẻ
chiến-thắng cuối cùng? Chắc chắn Ngài đã có kế-hoạch và dự-phòng khác,
và đó là hậu-duệ của Ngài còn sống-sót, lưu-lạc hay đang sống vững-chắc
cho đến ngày cuối cùng ra tay để giúp-đỡ Hội-Thánh Chúa khỏi nanh-vuốt
của Sa-tăn.------ Chúng ta thử tìm họ trong những hội-kín như là
Templar Knights, Priory of Sion, Hội Mason Tam-điểm, Opus Dei hay những
nơi thánh-thiện nào khác! (Ta thử hỏi tại sao trên đồng dollar Mỹ có
hình kim-tự-tháp trên có mắt-Thần giống Đạo Cao-đài! Tại sao Hitler lại
giết 6 triệu người Do-Thái, và đi tìm những Thiên-Linh-Ngọc U-rim và
Thu-mim (Xuất 28:30) mà Thượng-đế đã trao cho Dân Do Thái xưa?…)
10. ĐỪNG TIN NHỮNG NGUY-KINH (Gnostic Gospels) MA-QỦY NGỤY-TẠO
Đã có những chân-kinh của Thượng-đế hướng-dẫn cho nhân loại, thì cũng
có những nguy-kinh do Sa-tăn (Hạ-đế) ngụy tạo. Vào những thế-kỷ đầu nhờ
các bậc Thượng-phu của Cơ-đốc-giáo nghiền ngẫm Thánh-kinh nên họ đã
chọn-lọc và phân-biệt được Chân-Kinh mà Công-Giáo, Cải-cách, Tin-lành
đang dùng giống nhau. Khác với ngụy kinh gồm có Cựu Ước và Tân Ước.
Trong vũ-trụ có những lực-lượng chống đối nhau. Nhưng cái ta biết thì
một bên là Thiên-Chúa và một bên là Ma-qủy, hay Sa-tan. Mỗi bên đều tạo
ra những kinh-điển cho chúng-sinh dùng. Có chân thì có nguy. Vì vậy mà
thử-nghiệm đầu-tiên Thượng đế đặt để trong vườn địa-đàng cho chúng-sinh
lựa- chọn một cách TỰ-DO, đó là NÊN hay KHÔNG nên “ĂN” “Trái-Cấm” để
loài-người nhận-thức khả-năng phân-biệt được Thiện và Ác của mình. Và
nay là lúc chúng sinh phân-biệt được chân-kinh và nguy-kinh, một sự
lựa-chọn mà suốt dòng lịch-sử nhân-loại luôn luôn phải đương đầu..
Cho nên 2000 năm trước khi chân-kinh được viết bởi các môn-đồ của Chúa
Giê-xu, thì Sa-tăn cũng thấy xa là sẽ ngụy-tạo Phúc-Âm Knostic (Tin
Chúa Giê-xu bằng kiểu Minh Triết) lan tràn trong 2 thế-kỷ đầu tại Vùng
Địa-Trung-Hải để đối-đầu lại với Phúc-Âm của Chúa Giê-xu. Lịch sử cho
thấy Phúc-Âm Cơ-đốc-giáo hủy diệt Phúc-Âm Gnostic hay đề cao phụ-nữ và
đời-sống tinh thần nhiều hơn. Những sáng-lập của Gnostic này được khám
phá là con-cháu của dòng-dõi Ca-in, người đã giết em mình trong thời ra
khỏi Vườn Địa Đàng. Có lần Đức Giê-xu đối mặt với dòng dõi này và đã
kêu đích-danh nó ra chửi: (Giăng 8:44 “Các ngươi bởi cha mình, là
ma-qủy mà sanh ra, và các ngươi muốn làm nên sự ưa-muốn của cha mình.
Vừa lúc ban đầu, nó (Ca-in) đã là kẻ giết người…. Nó (Sa-tăn) vì là vốn
nói-dối và là cha của sự nói-dối”. Vì Sa-tăn nay đã dụ-dỗ bà E-va và đã
“ăn phải trái-cấm” (tức là bị nó lấy, ăn-nằm với Sa-tan, nên đã vướng
vào nguyên-tội là vậy). Ca-in là đứa con lai, nửa máu Trời và nửa máu
Qủy do Eva sanh ra sau khi lấy con rắn là Sa tăn.. Nên nó đã giết em nó
là A-bên, vì A-bên mang máu của A-dam nhưng vẫn bị mang máu “có tội”
của mẹ mình rồi. (Vì vậy mới có câu: “Dầu một người “vô-tội”cũng
không”, có nghĩa là như vậy).
Nhưng dòng-dõi Ca-in của Qủy này
vẫn cố-tình cải chày cải cối: “Chúng tôi chẳng phải là con ngoại-tình
(ý nói Ca-In là tổ-phụ không phải có cha là Sa-tan), chúng tôi chỉ có
một Cha là Đức Chúa Trời” (Đoạn 8 câu 41). Chính nhóm này mới là tổ-phụ
của nhóm Gnostic, và đã viết ra các ngụy kinh.
SẼ CÒN RẤT NHIỀU NGỤY-KINH VÀ BẰNG-CHỨNG KHOA-HOC ĐƯỢC TÌM-THẤY.
Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học, các môn về khảo-cổ, điện-toán,
hóa-học, địa-chất, Lazer, không ảnh …nhân-loại sẽ còn phải đối-đầu với
rất nhiều khám-phá mới về lịch-sử tôn-giáo,về bằng chứng khoa-học có
thể làm lung-lay đức-tin của người tín-đồ, nhất là Ky-tô-giáo. Nếu
chúng ta không open mind, (phá chấp) mở rộng niềm tin về những CĂN BẢN
DUY-BÁC-ÁI của Cơ-đốc-giáo, thấu hiểu những “bí mật” trong Thánh-kinh
theo nhãn quan của khoa-học của Thiên Niên Kỷ thứ 3 này, mà vẫn còn ôm
lấy những “đức-tin” mù-quáng của 2,000 năm trước, e rằng sẽ có nhiều
ngươi trong chúng ta sẽ “bỏ đạo”.
Ngày nay Thiên Chúa đã cho
trí-óc chúng ta khám-phá được những kỹ-thuật mới, như là cloning, cấy
tế-bào gốc, internet, điện-toán, DNA, digital memories, vệ-tinh
viễn-thông, khám phá vũ trụ không gian, y-khoa v.v…mà Thánh Kinh đều đã
nói trước cả, để chúng ta biết rằng chúng ta nguyên gốc là đến từ Trời,
từ trong vũ-trụ xa xôi, và “nhân loại” chúng ta trải qua hàng tỷ tỷ năm
của tiên-hoa dưới sự quan-phòng của Thượng-Đế, thì những chuyện như là
Người Trời có truyền-giống trên trái-đất này vì mục-đích Ngài muốn
cứu-vớt chúng-sinh khỏi đại-họa nguyên-tử gây ra do chính lòng tham của
mình, thì cũng là điều đáng cho chúng ta cảm-ơn Ngài là Cha Trời của
Vũ-Trụ Càn-Khôn vậy thôi.
Mục sư Nguyễn Quang Minh
Little Saigon, California
18 May 2006
nguyenquangminh1@aol.com