Theo www.vietnet.no - HUY PHƯƠNG - 15-05-2006
Một buổi chiều tháng 6 năm
1975, trong khi chồng đang ở trong tù, người vợ phải đưa đứa con gái út
đang bị sốt nặng vào bệnh viện tỉnh nhà. Trong lúc làm hồ sơ bệnh lý,
người y tá hỏi chồng chị đâu, thật thà, chị trả lời là anh đang “đi cải
tạo chưa về”. Y không nói gì, nhưng một lúc sau, chị thấy y thầm thì gì
với viên y sĩ đang khám bệnh, và sau đó kết quả là chúng bỏ mặc con gái
chị nằm đợi trên sàn nhà cho tới lúc trời tối. Lúc thấy đứa bé sốt và
bắt đầu mê man, nói lảm nhảm, chị hốt hoảng bồng con la hét cầu cứu.
Môt viên y sĩ mới lên phiên đã khám bệnh cho con chị và cho chị biết
cháu bị sưng màng óc, cần phải chích một loại thuốc phải đi mua ngoài
với một số tiền mà chị không thể nào có được. Chị phải ôm con suốt đêm,
chờ sáng hôm sau, đến giờ làm việc mới bán được ¼ lít máu, đủ tiền mua
cho con một liều thuốc. Đứa bé này lớn lên, mất hết trí nhớ, thường lên
cơn động kinh, trở thành tàn tật suốt đời.
Đó là điều người ta gọi là “đối xử phân biệt”, không hề che dấu lòng thù hận một cách tàn bạo dưới chế độ Cộng Sản. Cũng như thế, hằng trăm nghìn người thương binh của miền nam, không thể nào che dấu lý lịch với đôi mắt mù, cái chân cụt và quá khứ đã là một người lính có thành tích chiến đấu chống Cộng Sản ngoài mặt trận. Không còn khả năng làm lụng để kiếm miếng cơm nuôi gia đình và chính bản thân mình, những người này còn phải sống trong không khí lạnh lùng, ngờ vực và khinh rẻ của kẻ chiến thắng không có tình người. Chính phủ, quân đội, đơn vị, cấp chỉ huy, đồng đội không còn, gia đình quyến thuộc không đủ sức cưu mang vì chính họ cũng bị nhận chìm tận cùng dưới đáy xã hội.
Trong xã hội mới, những người thương binh VNCH thật sự đã là “những người bị bỏ quên”.
Trước đây chúng ta có nghe tới 2,000 người trong cái làng Việt Nam ở Palawan và nói rằng họ là “những người bị bỏ quên”. Luật sư Trịnh Hội và nhiều cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới đã bỏ ra bao nhiêu tiền của, sức lực và thời gian mười năm để vận động cho họ được đi định cư, có một đời sống ấm no, hạnh phúc.
Những người con gái
Việt Nam vì cơm áo, đã tự nguyện bỏ nước ra đi để lấy chồng ngoại quốc,
chẳng may một số rơi vào hoàn cảnh bị bạc đãi, nhân phẩm bị chà đạp,
ngay chính phủ đã đẩy họ vào con đường cùng cũng không làm gì để cứu
họ. Vì họ là “những người bị bỏ quên” nên nhiều vị linh mục, cơ quan
thiện nguyện đã gây quỹ để có thể đến tận nơi giúp đỡ, cứu vớt họ.
Những người chẳng may mắc phải những chứng bệnh phong cùi đang sống cuộc đời nghèo đói, bất hạnh trên khắp quê hương, trong khi chính phủ Việt Nam thờ ơ, không giúp đỡ, họ là “những người bị bỏ quên”, đã được các cơ quan phước thiện mở những phong trào cứu trợ rộng lớn, để đồng hương hằng tâm hằng sản của chúng ta tận tình giúp đỡ.
Ở Việt Nam, dân chúng bần cùng là “những người bị bỏ quên”: nhiều trẻ em ở các vùng nông thôn Việt Nam bụng đói, không có áo quần mặc và vì vậy cũng không có cơ hội đến trường. Nhiều nơi, người già không có cơm ăn. Nhiều trẻ em khuyết tật cần vá môi. Nhiều người mù cần mổ mắt. Hải ngoại luôn luôn nghĩ đến quê nhà và đồng bào nên đã có những chiến dịch rộng lớn để làm những công việc ấy, thường trực và khắp nơi vì cho rằng chính phủ Việt Nam không nghĩ đến hay không đủ sức lo cho họ. Trường học cần xây thêm, chùa và nhà thờ cũng cần xây lớn hơn.
Đã có những hội đoàn, những tổ chức, những nhóm thiện nguyện cứu đói, cứu nghèo, cứu bệnh tật, cứ gái sa chân, cứu trẻ bị bán đi, cứu già thiếu gạo...
Tôi có cảm tưởng những vùng đất cứu trợ trên đã được chính quyền trong nước cho khai quang, có khi còn giữ “an ninh bãi đáp” cho trực thăng đổ người xuống cứu trợ để đỡ tay đỡ chân cho đảng lo việc trấn áp dân chủ, nhân quyền. Còn địa hạt thương phế binh VNCH còn đầy mìn bẫy, hầm hố, thù hận khiến công việc cứu trợ phải tiến hành lén lút, bí mật hay đột kích gây thêm nhiều trở ngại, khó khăn cho cả phía những người hảo tâm và cả những nạn nhân xấu số này.
Thương phế binh, đáng lẽ là những người mà hải ngoại cần phải nhớ trước tiên, từ khi cấp chỉ huy quân đội miền nam bước chân lên Đệ Thất Hạm Đội hay đảo Guam, từ khi người vượt biển được đặt chân lên đất liền, từ khi người cựu tù được người ra đón ở sân bay, lại là những người bị quên lãng nhất.
Bà Dương Nguyệt Ánh, chuyên viên chất nổ của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, tác giả trái bom “nhiệt áp” đã nói rằng, là một người tỵ nạn chiến tranh, bà “không bao giờ quên được hình ảnh người lính Hoa Kỳ và VNCH đã từng bảo vệ cho bà có một cuộc sống an toàn ở miền nam trước đây”. Chúng ta cũng hiểu rằng người lính VNCH thiệt thòi hơn cả sau chiến tranh chính là người thương phế binh hôm nay.
Cô Liên Hương, một bác sĩ trong nhóm Huynh Đệ Chi Binh ở San Jose, cũng như chúng ta đã có mặt tại Hoa Kỳ tự do, no ấm hôm nay sau những ngày “tan hàng” đã hoạt động để cứu giúp “những người bị lãng quên”, vì cô nghĩ rằng cô đã mang ơn những người này, người thương phế binh VNCH:
“Tôi viết thư cho anh hôm nay không phải như một người Việt Kiều xa xứ được ưu đãi trong một đời sống an lành và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần đang nghiêng mình xuống với người đồng loại bất hạnh, nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái năm xưa đã lớn lên yên ổn giữ thành phố Saigon, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hằng đêm vẫn vọng về từ một chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả một thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó vẫn có biết bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng chiến đấu đơn độc với những giờ phút chót, để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.
Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh cho các bạn của anh, những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần ba mươi năm qua, để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ bị xóa nhòa. Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết một phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, và những người Việt tỵ nạn như tôi cũng đã mất hết một nơi chốn dung thân để phải tha hương lưu lạc khắp mọi phương trời. Có một điều ngày hôm nay tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau, để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi và cô độc.
Cuối cùng dù tôi không thể gởi nguyên một bài hát về cũng xin cho tôi được tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát “You Are My Heroes”, bởi vì cuối cùng trong cuộc đời này không có điều gì anh hùng và cao thượng hơn là hy sinh cuộc đời mình để cho người khác được quyền sống. Trong mắt tôi mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những con người trai anh hùng một thời chọn cho mình con đường đi và và sống đích thực có ý nghĩa nhất”.
(trích thư của cô Liên Hương gời một người thương phế binh VNCH)
Những dòng chữ trên đây của một người con gái, một đứa em hậu phương cũng như tất cả chúng ta đã mang một món nợ không bao giờ trả nỗi, món nợ xương máu mà chúng ta đã nương nhờ, vay mượn từ lúc chúng ta được yên ổn ở hậu phương, rất xa mặt trận, và cả đến lúc chúng ta ngoảnh mặt rời quê hương ra đi. Những năm trước, bức thư này đọc trên đài phát thanh ở Bắc Cali đã làm rơi lệ hằng nghìn người nghe ở hải ngoại, nhưng rồi cơm áo đa đoan, cuộc sống bề bộn, nhiều lúc chúng ta đã quên hẳn hình ảnh người thương phế binh Việt Nam một cách phụ bạc, nhẫn tâm mà đáng ra phải canh cánh ghi nhớ trong lòng.
Ở hải ngoại từ trước đến nay, những sự quyên góp giúp đỡ cho thương phế binh được đưa xuống hàng thứ yếu sau những chiến dịch dai dẳng cho người nghèo, cho trẻ thất học, cho chùa chiền, thánh thất, cho mổ mắt vá môi... Nếu có lòng, thì cũng với những hoạt động lẻ tẻ do một nhóm người, một tổ chức quy tụ một số thân hữu giúp cho năm bảy gia đình, hay khá hơn là vài trăm thương binh. Chúng ta chưa có được một ngày dành cho thương binh, một chiến dịch rộng lớn như những ngày chúng ta đóng góp cho quỹ kháng chiến, để rồi cuối cùng sự việc chẳng đi tới đâu, khiến lòng tin của hải ngoại mỗi ngày một suy kiệt.
Ẩn mình từ trong những xóm làng xa xuôi sống nhờ trên mảnh đất khô cằn khoai sắn, hay bầm giập giữa phố thị với xấp vé số trên tay, thậm chí còn trở thành kẻ hành khất kêu gọi tình thương của người qua đường đâu đó. Nỗi xót xa, tủi nhục ấy bao giờ tiêu tan được, cũng như những nỗi đau sâu thẳm trong tâm hồn họ không bao giờ hết, trong khi qua thời gian làn da nơi chân tay què cụt đã chai đá, những vết thương đã lành. Lớn hơn hết là những người thương phế binh này đã mang mặc cảm là “người đã bị bỏ quên” trên quê hương, nơi mà thù hận chưa nguôi, đối xử vẫn còn phân biệt như những người lính lạc đơn vị bị bỏ lại trên đất địch...
Ôi những vòng hoa chiến thắng ngày nào, những câu hát từ người em gái hậu phương, những mỹ từ và lời xưng tụng người ta đã dành cho anh. Số phận của người lính thất trận đã đổ nhào thêm lên tấm thân cụt què, yếu đuối. Họ sống cuộc đời cay đắng ấy (nếu còn có thể gọi đó là cuộc đời), có người mới hơn ba mươi năm, có người đã gần hết cuộc đời, thế giới ngày nay của họ có thể là một chiếc giường tre của người bị bại liệt, trên chiếc xe lăn của người què cụt lê lết hay ốm đau, già nua quanh quẩn trên sân nhà.
Thế giới hôm nay của chúng ta so với đời sống thương phế binh ở quê nhà là thiên đường và địa ngục, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Dù có san sẻ tới mức nào cũng không lấp đầy nỗi thống khổ, dù bù đắp tới mức độ nào cũng không xứng đáng với sự hy sinh. Nhưng không lẽ chúng ta khoanh tay để nhìn những thương binh VNCH sống lặng lẽ cho hết một cuộc đời tàn tạ mà không bày tỏ được một cử chỉ biết ơn hay sao?
| XIN TÌM ĐỌC: Hai tập tạp ghi được bạn đọc yêu mến của HUY PHƯƠNG: - NƯỚC MỸ LẠNH LÙNG (266 trang) in lần thứ ba. - ĐI LẤY CHỒNG XA, (296 trang) tái bản sau bốn tháng phát hành. Nam Việt xuất bản. Mỗi cuốn giá $15.00 gồm cước phí gởi đến nhà. Mua sách xin đề Le Phuong, P.O. Box 1954- Garden Grove. CA 92842 |