Những xoay xở của VNCH và Ðại Sứ Martin, Khi Ðồng Minh Tháo Chạy
Bài 3
Ván Bài Cuối Cùng, và thay lời kết: Nhìn Baghdad, nhớ Sài Gòn
“Allah
akbar, Allah akbar” (Chúa là cao cả, Chúa là uy quyền), cả trăm ngàn
người quỳ gối, úp mặt xuống đất cầu xin. Những tà áo dài trắng bay lất
phất theo chiều gió như cố quạt đi sức nóng gay gắt của miền sa mạc.
Một chiếc quan tài bằng gỗ đơn sơ có phủ tấm lông lạc đà mầu nâu được
nhóm người đàn ông trịnh trọng khiêng trên vai tiến vào giáo đường. Khi
quan tài đã đưa tới góc chân tường về phía đông, tiếng than thở ai oán
bắt đầu rên rỉ. Tân Vương Khalid không cầm được nước mắt, ôm mặt nức nở
khi thi hài phụ vương Faisal được hạ xuống đặt dưới chân pho tượng
Khalid Abdel Aziz. Ðó là quang cảnh tang lễ quốc vương Saud al Faisal,
xứ Saudi Arabia, người vừa bị chính cháu mình là hoàng tử Faisal Musad
Aziz sát hại.
Cậu
Aziz theo học môn Khoa Học Chính Trị tại Ðại học Colorado và Ðại học
California ở Berkeley trong nhiều năm. Thích đánh bạc và uống rượu
Scotch, điểm học thấp, quanh quẩn chỉ được C và D. Theo cô Christine
Surma, một người bạn gái Mỹ thì cậu luôn nhớ tới người anh mình là
Khalid. Cậu Khalid đã bị cảnh sát bắn chết khi theo chúng bạn đánh phá
đài truyền hình tại thủ đô Riyadh. “Quyết tâm trả thù, đặc biệt là đối
với người Ả Rập, là điều mà người thanh niên nuôi trong lòng suốt đời,”
một bạn thân của Aziz nhận xét. Aziz cho rằng chính quốc vương Faisal
đã dính líu trong vụ này. “Nếu thực sự anh ta đã sát hại người cậu của
mình, thì tôi cho đó chỉ là để trả thù mà thôi,” Christine nhận định.
Ông Vua Hảo Tâm
Ngày
chôn cất Quốc Vương Faisal, TT Thiệu gửi điện chia buồn cùng Hoàng Gia
Saudi, cầu xin Allah sớm đưa ngài về nơi cực lạc (KÐMTC, trang
310-318). Vua Faisal là người đã tỏ ý muốn giúp đỡ VNCH trong lúc hoạn
nạn. Khi bị cắt hết viện trợ, ông bằng lòng cho vay mấy trăm triệu đôla
để mua xăng nhớt và tiếp liệu. Một miếng khi đói bằng một gói khi no.
Chính phủ Miền Nam vô cùng hân hoan, cảm tạ. Bao nhiêu hy vọng, họp lên
họp xuống chuẩn bị thương thuyết. Vua Faisal bằng lòng cho giải ngân
thật sớm, VNCH hy vọng sẽ giải quyết được một phần nào vấn đề xăng
nhớt, tiếp liệu vào cuối tháng Ba. Nhưng họa vô đơn chí, đùng một cái,
nhà vua bị sát hại, và ông đã nằm xuống ngày 25 tháng Ba, 1975, ngày
quân lực VNCH rút khỏi cố đô Hoàng Triều Huế. Thế là chuyện giải ngân
bị khựng. Ðâu có ngờ rằng cái chết của ông vua người xứ Saudi lại ảnh
hưởng tới khả năng quốc phòng của VNCH vào thời điểm chót.
Dù
biết rằng Hoàng Gia Saudi đang rất bận về ma chay và bối rối trong nội
bộ, nhưng vì tình thế khẩn trương nên chỉ vài tuần sau, chính phủ VNCH
vẫn cử Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc đi Ryadth gặp tân quốc vương Khalid
để tiếp tục cầu viện (NT Bắc hiện cư ngụ tại Paris). Ngày 14 tháng 4,
tân Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn trình diện tân nội các lên Tổng Thống. Ông
Thiệu dặn tôi vào gặp ông ngay sau nghi lễ. Vừa vào phòng, ông đưa cho
tôi xem một công điện đề ngày 14 tháng 4 do ông Bắc gửi từ Luân Ðôn về,
báo cáo lạc quan về kết quả chuyến đi: “Tất cả, đặc biệt là vua Haled
(Khalid) đã cho tôi những bảo đảm vững chắc về việc tiếp tục yểm trợ và
viện trợ kinh tế cho VNCH.” Ông Bắc yêu cầu cho phép ông ghé Washington
hai ngày để thẩm định tình hình trước khi trở về Sài Gòn. Xem ra ông
Thiệu có bề lên tinh thần đôi chút và nói tôi nên tiếp tay với ông Bắc
làm việc tại Washington. Ông phê vào công điện:
“Vậy
là ông Bắc, ông Hưng và ông (Ðại sứ) Phượng có thể sẽ là một trio (bộ
ba) để lo vấn đề viện trợ tại Mỹ trong tuần lễ crucial (quyết định)
này. Nếu vậy thì Thủ Tướng cho ông Hưng đi, và cho cả ông Bắc qua
Washington.” (KÐMTC, trang 313).
Tính
ra thì dù tôi có đi ngay, khi tới Washington cũng chỉ còn ba ngày trước
hạn chót mà TT Ford đã đưa ra cho Quốc Hội biểu quyết quân viện cho
Miền Nam. Tôi dự định sẽ thức suốt đêm viết một bài dài in trên hai tờ
Washington Post và New York Times để khiếu nại tới Quốc Hội và nhân dân
Hoa kỳ. Như đã viết trong cuốn 'Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập,” (xuất bản năm
1987, trang 549), tôi điện thoại yêu cầu ông Tổng Trưởng Dân Vận đặc
phái Giám Ðốc Việt Tấn Xã - ông Nguyễn Ngọc Bích, một người bạn từ hè
1960 khi chúng tôi gặp nhau tại thành phố New York - đi theo tôi để
giúp chuẩn bị tài liệu, liên lạc với truyền thông Hoa Kỳ.
Xin đừng bỏ phiếu “không”
TT
Thiệu muốn hoãn lại việc Quốc Hội sẽ bỏ phiếu vào ngày 19 tháng 4 chống
tăng quân viện. Vào giờ phút đó, kế hoạch vay viện trợ là điều duy nhất
còn có thể được đặt ra. Ông hy vọng rằng nếu chỉ yêu cầu ‘vay’ tức là
đưa ra một sự lựa chọn khác thì có thể Quốc Hội khỏi phải bỏ phiếu về
việc ‘cho’ viện trợ. Việc cần làm ngay là phải hoãn quyết định ‘không’.
Bởi
vậy, việc 'vay' viện trợ của Mỹ là việc liên hệ trực tiếp tới chuyến
công tác cuối cùng của VNCH và do chính bản thân tôi thi hành.
Nguyên
thủy kế hoạch vay là như thế này: Từ mùa Hè 1974, khi liên hệ giữa Sài
Gòn và Washington ngày một bi đát, TT Thiệu bàn với Ðại sứ Martin về
việc yêu cầu Quốc Hội cấp một ngân khoản cuối cùng cho Miền Nam. Ý kiến
này được một số nghị sĩ, dân biểu Mỹ và báo Washington Post ủng hộ. Tuy
nhiên, cũng khó mà thành công nên Tổng Thống cho nghiên cứu một giải
pháp phòng hờ, đó là một khoản “vay viện trợ,” như là một ân huệ cuối
cùng của Hoa Kỳ đối với đồng minh. Có lần ông Thiệu còn nói châm biếm:
“Bây giờ Việt Nam đã thành một tình nhân già, sắp bị bỏ rơi rồi.”
Trước
khi tôi đi công tác, một bức thư cho TT Ford được soạn thảo sẵn để trên
bàn TT Thiệu. Ông dặn là tại Washington, nếu tôi thấy có khả năng tốt
về việc này thì điện ngay về để ông ký và đưa cho ÐS Martin. Lời lẽ
thắm thiết, bức thư kêu gọi lương tri và lòng trắc ẩn của nhân dân Hoa
Kỳ đối với một đồng minh đã chấp nhận bao nhiêu hy sinh thống khổ để
giành một cõi sống dưới bầu trời tự do, và giờ đây,
“Tôi
trân trọng thỉnh cầu Ngài kêu gọi Quốc Hội cho VNCH vay dài hạn 3 tỷ đô
la, chia làm ba năm, lãi suất do Quốc Hội định, và xin triển hạn 10 năm
trước khi trả vốn và lời. Tài nguyên dầu lửa và canh nông của VNCH sẽ
được dùng thế chân cho món nợ này... Ðây là một hành động cuối cùng của
chúng tôi kêu gọi sự giúp đỡ của Hoa Kỳ với tư cách là một đồng minh.”
Ðể giúp tôi thi hành công tác, TT Thiệu nhờ ÐS Martin yểm trợ. Martin đánh điện về cho Ngoại Trưởng Kissinger:
“Tôi
báo cáo để Ngoại Trưởng biết rằng ông Thiệu đề nghị nếu việc xin thêm
$722 triệu quân viện có thể bị Quốc Hội bác bỏ, ta nên tìm cách hoãn
ngày bỏ phiếu lại. Mặc dầu ông Thiệu không muốn nói ra nhưng rõ ràng
rằng cả ông ta lẫn tất cả mọi người khác đều không biết rồi sự việc sẽ
ra sao (nếu QH bỏ phiếu chống)?”
Sau
đó ông đã gửi một công điện nữa để đề nghị thẳng việc VNCH xin vay. Và
ngày 17 tháng Tư, cũng trong mật điện 0709, ông Ellerman nói thêm chi
tiết về kế hoạch này:
“Trong
một thông điệp khác cũng qua ngả này (đường dây mật), ông Ðại sứ đã nêu
ý kiến về việc VNCH xin vay một khoản tiền là $5 tỷ như một giải pháp
để tránh sự bế tắc hiện nay tại Quốc Hội (về việc cấp thêm quân viện).
Tại
sao VNCH chỉ muốn vay có $3 tỷ mà ông Ellerman lại nói là $5 tỷ? Sau
này, khi thăm viếng cựu Ðại sứ Martin lúc về hưu, tôi có hỏi, và ông
trả lời: “Với Quốc Hội Mỹ, nếu muốn $3 tỷ thì phải xin $5 tỷ,” rồi
thêm: “Chính phủ Miền Nam toan tính như vậy là đúng, vì vào lúc đó, nó
thực tế hơn là xin thêm quân viện.”
Ðề cập tới tính cách khả thi của kế hoạch vay, Ellerman viết tiếp:
“Tôi
tính toán sơ sơ là với lãi suất 3%, 10 năm ân hạn, và 25 năm cho thời
gian hoàn trả thì thấy rằng có thể khả thi được. Chúng tôi đã yêu cầu
ông Cooper nghiên cứu về vấn đề này. Xin ông vui lòng hỏi xem tiến bộ
ra sao, và điều quan trọng hơn cả là đừng cho Bộ Ngoại Giao cũng như cơ
quan USAID (Viện Trợ Mỹ) biết.
Báo cáo cho Tòa Bạch Ốc biết về chuyến đi của ông Hưng
Ngay
từ khi nhận được chỉ thị của TT Thiệu để đi công tác, tôi đã tỏ vẻ dè
dặt với ÐS Martin về Bộ Ngoại Giao Mỹ, và nói tôi còn phải tham khảo ý
kiến của Tiến sĩ Warren Nutter, Cựu Phụ Tá Quốc Phòng (cũng là ông thày
cũ của tôi ở Ðại học Virginia) xem sao đã rồi tùy tiện, mới bàn việc
này với Bộ Ngoại Giao. Vì vậy, Ellerman đã viết cho ông Butler “điều
quan trọng hơn cả là đừng cho Bộ Ngoại Giao và cơ quan USAID biết,” và
dặn ông ta tìm ông Hưng để nhắn nhủ. Mật điện 0709 viết tiếp
“Ông
Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch đã rời Sàigòn đi Washington lo việc vận động
về viện trợ nói chung và để đề nghị ý kiến xin vay tiền nói riêng, một
ý kiền hầu như chỉ do mình ông ta về phía VNCH. Có thể là ông ta sẽ bắt
đầu đưa đề nghị này với Bộ Ngoại Giao và cơ quan USAID trước; ông ta
hành động như vậy là vì tin tưởng rằng nhân dân Hoa Kỳ sẽ sẵn sàng chấp
nhận. Chúng tôi coi đây là một giải pháp cuối cùng mới phải dùng đến,
và việc xúc tiến còn tùy theo những tính toán (của các ông) về phản ứng
của Quốc Hội.
“Ông
có thể tìm gặp ông Hưng và cho ông ấy biết rằng chính ông và ông Cooper
cũng đang làm việc về vấn đề này (xin vay), nhưng ông ta phải tôn trọng
những suy luận của chúng ta về việc đánh giá phản ứng của Quốc Hội...”
Trân trọng,
MARTIN
Tòa Bạch Ốc phản ứng như thế nào về 'vay' viện trợ?
Sau đây là câu trả lời. Cũng theo văn bản 7196 từ Tòa Bạch Ốc (ngày 19 tháng 4, 1975):
4. “KHOẢN VAY $5 TỶ
CÁC
ÔNG COOPER VÀ STEARMAN ÐÃ BÀN ÐỊNH VẤN ÐỀ NÀY HÔM QUA, VÀ TÔI ÐÃ NÓI
CHUYỆN VỚI CẢ HAI ÔNG NGÀY HÔM NAY. Ý KIẾN CHUNG LÀ CHÚNG TA KHÔNG CÓ
CÁCH NÀO LÀM ÐƯỢC VIỆC NÀY TRONG HOÀN CẢNH HIỆN TẠI. TÔI CHƯA ÐỌC NHỮNG
CÔNG ÐIỆN MỚI TỚI NÊN CHƯA CÓ NHỮNG CHI TIẾT, NHƯNG NẾU (việc vay mượn)
ÐÒI HỎI QUỐC HỘI PHẢI CHUẨN CHI THÌ THẬT LÀ KHÓ, ÍT NHẤT LÀ CHO TỚI KHI
TÌNH HÌNH (ở Miền Nam) ÐƯỢC ỔN ÐỊNH.
Bình luận:
Lúc
ấy Hoa Kỳ chỉ còn lo tháo gỡ, không muốn phiền lụy gì thêm nữa. Tôi bàn
công việc với Tiến sĩ Warren Nutter, cựu Phụ Tá Quốc Phòng, ông cố vấn
cho tôi rằng khỏi phải tiếp xúc với phía Hành Pháp nữa, vì họ đã phủi
tay hết rồi. Bởi vậy tôi lảng tránh, và tiếp tục hoạt động một mình.
Cảnh cáo hay đe loi?
Ông Butler viết tiếp:
“TÔI
CHƯA GẶP ÐƯỢC ÔNG HƯNG, NHƯNG SẼ TIẾP TỤC TÌM ÔNG ẤY; TÔI ÐỒNG Ý RẰNG
NẾU ÔNG TA CỨ TỰ MÌNH TRANH THỦ CHO KHOẢN VAY NÀY THÌ SẼ TAI HỌA CHO
ÔNG TA (it would be a disaster for him)
Tại
sao lại tai họa? Chắc là vì tôi đã đi trật đường rầy chăng? Thay vì gặp
các quan chức bên Hành Pháp, tôi tìm gặp ngay vị Tuyên Úy Thượng Viện
Hoa Kỳ là Mục Sư Edward Elson, một người rất có uy tín tại Quốc Hội
(sáng nào ông cũng cầu nguyện với thượng Viện trước khi khai mạc), và
là chỗ thân tình từ lâu. Tôi nhờ ông cố gắng thuyết phục các nghị sĩ
cứu xét một khoản vay thay vì bỏ phiếu ‘không’. Ông Elson hứa sẽ cố
giúp nhưng cho hay có thể là đã quá muộn.
Trong
khi chờ đợi câu trả lời để đánh điện về cho TT Thiệu, sáng ngày 18
tháng Tư, anh bạn Lê Văn sắp xếp để tôi lên đài VOA phỏng vấn về đề mục
“còn nước còn tát.” Tôi vừa ngồi chờ trước chiếc micro trong phòng thu
âm thì Lê Văn bước vào. Thay vì phỏng vấn, anh lại đưa ngay cho tôi xem
bản tin các hãng thông tấn đánh đi: “Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Viện vừa
bỏ phiếu chống việc tăng quân viện cho VNCH. Ủy Ban Bang Giao quốc tế
cũng vừa chấp thuận việc cho quyền TT Ford dùng quân đội Hoa Kỳ để di
tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam.
Lúc
đó là 10 giờ 30 sáng ngày 18 tháng Tư, 1975, một thời điểm đối với tôi
thật là khó quên. Làm sao diễn tả được những xúc động của mình lúc ấy?
Ê chề, chua xót, thất vọng hoàn toàn! Khi tạm biệt TT Thiệu tại Dinh
Ðộc Lập để đi Mỹ ngày 15 tháng Tư, tôi thấy ông có vẻ đăm chiêu, lo
lắng nhưng không có dấu hiệu gì là tuyệt vọng. Tôi nghĩ rằng chắc cũng
còn thời gian để hoạt động. Lúc tới phi trường Baltimore một người bạn
ở Tòa đại sứ VNCH tại Washington ra đón. Vừa thấy tôi và ông Bích, anh
ấy tương cho một câu: “Giờ này mà còn công tác gì nữa?” Tôi nổi giận:
“Mấy anh bỏ cuộc nhanh thế, còn nước vẫn còn tát.”
Thế
nhưng bây giờ thì một giọt nước cũng chẳng còn. Tôi lủi thủi xách cặp
ra về. Ðài VOA nằm trong cao ốc Bộ Y Tế, Giáo Dục và An Sinh (HEW), chỉ
cách Quốc Hội có ba phố. Lái xe vài phút là đã đi qua tòa nhà có cái
tháp vòng cung khổng lồ ấy rồi. Bao nhiêu suy nghĩ trong tâm trí. Và
tôi thầm nghĩ: Cả một cường quốc, với năm vị Tổng Thống có dính líu,
bao nhiêu hứa hẹn, bao nhiêu cam kết, để rồi rút cuộc cũng chỉ thế này
thôi! Chẳng ‘cho’ thêm, cũng chẳng muốn ‘cho vay,’ xong là xong, chỉ có
vậy. Nghĩ loay hoay làm sao mà trên đường về, tôi lại lái xe đi lạc.
Ðường sá ở thành phố này thì tôi quá quen thuộc, quen hơn ở bất cứ tỉnh
nào khác, kể cả Sàigòn, Hà Nội, Thanh Hóa (quê tôi), vì Washington là
nơi tôi đã sinh sống lâu nhất
Khi
chẳng còn giọt nước nào để tát, buổi chiều tôi đến ngay nhà Mục sư
Edward Elson Tuyên Úy Thượng Viện (ngụ tại Ðại lộ Cathedral) yêu cầu
ông giúp tôi kịp thời thay đổi sứ mạng: tập trung vào việc cứu giúp
người Việt tỵ nạn.
Ðó
là ngày thứ Sáu, 18 tháng Tư. Ngày mai cuối tuần, Tòa Bạch Ốc còn phải
sửa soạn những thủ tục cuối cùng cho chuyền đi New Orleans của TT Ford
vào thứ Tư, 23 tháng Tư. Hôm
ấy, TT Ford thủng thẳng bước vào 'giảng đường' của Ðại học Tulane, rồi
dõng dạc tuyên bố trước hàng ngàn sinh viên, với đầy đủ truyền thông
Hoa Kỳ và quốc tế:
“Ðối với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc...
“Nước
Mỹ có thể lấy lại được niềm hãnh diện đã có trước (chiến tranh) Việt
Nam. Nhưng niềm hãnh diện ấy sẽ chẳng có thể đạt được bằng cách tham dự
trở lại cuộc chiến mà riêng đối với Mỹ nó đã chấm dứt rồi.”
Giảng
đường như muốn vỡ ra vì tiếng vỗ tay, huýt sáo, la hò, vui mừng. Thế là
đã xong. Từ nay, ứng cử viên Gerald Ford có thể tập trung lo tranh cử
chức Tổng Thống vào năm 1976.
Ngày
5 tháng Tư, 1975, sau khi thẩm định tình hình tại Việt Nam theo lệnh TT
Ford, chính Tướng Fred Weyand đã báo cáo cho ông Ford rằng VNCH chưa bỏ
cuộc. Tình hình quân sự thì hết sức nguy ngập và họ đang gần kề sự thất
bại hoàn toàn.
“Tuy
nhiên Miền Nam còn đang làm kế hoạch để tiếp tục chống giữ với những
tài nguyên còn lại của họ... Chúng ta đã giơ tay ra cho nhân dân Miền
Nam và họ đã nắm lấy. Giờ đây, họ đang cần đến bàn tay giúp đỡ ấy hơn
bao giờ hết...
“Uy tín của Hoa Kỳ, trong cương vị một nước đồng minh, hiện đang bị thử thách tại Việt Nam...” (KÐMTC, trang 267).
Thay lời kết
Nếu những toan tính cuối cùng của VNCH và sự yểm trợ của ÐS Martin được Washington đồng ý thì tình hình đã như thế nào?
Rất có thể là kết cục đã khác.
Theo
như Ðại sứ Martin, nếu có tiếp liệu và nếu Washington không lộ diện quá
rõ là bỏ rơi Miền Nam rồi, thì lúc đó VNCH còn có thể cầm cự được thêm
ít lâu nữa. Chắc chắn rằng cũng không lâu, nhưng vẫn còn có chút khả
năng để điều đình một giải pháp chính trị. Ông Martin cho rằng, theo
giải pháp chính trị mà ông (và Ðại sứ Pháp Merillon) vận động lúc đó,
sự chuyển tiếp chắc sẽ có bề ôn hòa hơn và khả năng cao là đã không có
các trại học tập, cải tạo tiếp theo sau.Một cuộc chiến lâu dài tất phải
kết thúc, nhưng nó đã có thể kết thúc một cách bớt đau thương hơn, ít
hơn là những vết thương lòng mà sau hơn 30 năm cũng chưa được hàn gắn.
Ông
Ðại sứ cuối cùng của Hoa Kỳ tại Miền Nam cứ nhất quyết rằng cho tới
ngày 27 tháng Tư, 1975, Bắc Việt vẫn còn đồng ý điều đình một giải pháp
chính trị, và chỉ đổi ý vào đêm hôm ấy. Sau này ông cũng đã trình bày
lại với Quốc Hội Mỹ y như thế. Sự việc này cũng được chính Ngoại Trưởng
Henry Kissinger khẳng định trong cuộc họp báo ngày 5 tháng Năm, 1975
(KÐMTC, trang 391).
Tại
sao Bắc Việt lại đổi ý đêm 27 tháng 4 để chỉ dùng giải pháp quân sự là
tiến vào Sàigòn bằng xe tăng? Liệu lời tuyên bố của TT Ford vào ngày 23
tháng 4, có ảnh hưởng gì tới sự kiện này không?
Rồi
hậu quả của việc bỏ rơi Miền Nam thì như thế nào? Uy tín của Hoa Kỳ bị
thiệt hại ra sao? Ðể trả lời những câu hỏi này, một cách đơn giản nhất
là cứ nhìn xem thái độ và hành động của các nước trên thế giới đối với
uy tín của Hoa Kỳ trước và sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Một phần nào,
điểm này đã được bàn đến trong cuốn KDMTC (trang 465-466). Ngày trước
chỉ có mình Liên xô là mối đe dọa đối với nước Mỹ. Bây giờ thì kể cả
lãnh tụ của mấy quốc gia nho nhỏ cũng nhao nhao thách đố, đe dọa. Từ
Iran tới Syria, Lebanon, Afghanistan, El Salvador, tới Venezuela, Bắc
Hàn, Iraq. Và sau khi Miền Nam sụp đổ, Mỹ đã phải tham chiến bao lần,
một phần cũng là vì đối phương đã coi thường sức mạnh của Hoa Kỳ.
Như
ông Robert Thompson (chuyên gia về du kích, cố vấn cho chính phủ Hoa
Kỳ) đã nhận xét trong báo cáo cho TT Ford chỉ hai tháng trước khi sụp
đổ:
“Miền
Nam đang sẵn sàng tiếp tục chiến đấu, và nếu có được sự ủng hộ tối
thiểu để khích lệ nhân dân họ và để ngăn cản Hà Nội, giúp họ kiên trì
dai dẳng đủ lâu, thì sẽ đi tới chỗ chấm dứt được sự can dự của Hoa Kỳ.
Thế nhưng, nếu không được yểm trợ, Miền Nam sẽ sụp đổ trước sự hổ thẹn
muôn đời của Hoa Kỳ.” (KÐMTC, trang 236-237).
Mới
đây, chính TT Bush đã phải nhắc đến sự việc là cả lãnh tụ nhóm Al Queda
cũng đã cho rằng Mỹ sẽ tháo chạy ở Iraq giống như ở Việt Nam. Trong một
văn thư của Ayman al-Zarwahi gửi cho tư lệnh chiến trường là Abu Musab
al-Alzarqawi do tình báo Mỹ bắt được, có câu:
“Sự
việc có thể biến chuyển mau lẹ hơn là ta tưởng. Những hậu quả về việc
sụp đổ của sức mạnh Hoa Kỳ tại Việt Nam - và việc họ bỏ chạy và bỏ rơi
những người đã theo họ - làm cho chúng ta nên suy nghĩ... Ta phải sẵn
sàng bắt đầu ngay.”
Tiếng
Pháp có câu “plus change, plus revient au même” (the more things
change, the more they stay the same). Càng nhìn Baghdad, tôi lại càng
nhớ Sài Gòn.
“Vang
vang trời vào Xuân,” thế là Tháng Tư đã tới rồi. Cảnh vật vừa ra khỏi
một mùa Ðông giá lạnh và đang bắt đầu lấy lại sức sống. Trên đường từ
khu Ðại Học về nhà, khi băng qua chiếc cầu trên dòng sông Potomac, tôi
đã thấy hoa anh đào nở rộ, dệt lên những tấm thảm trắng hồng, điểm thêm
cho vẻ đẹp lộng lẫy của thủ đô. Phong cảnh nơi đây thật nhộn nhịp mà
sao lòng mình vẫn nao nao, không quên được bao nhiêu cảm xúc của những
giờ phút vào Tháng Tư năm ấy.
Rồi tôi lẩm bẩm:
“Chiều nay gửi tới quê xưa,
Biết là bao thương nhớ cho vừa!”
| Những Bài Liên Quan: |
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |