Tạp Ghi Văn Nghệ -
Có
những nơi chốn, thành những tên tuổi của ký ức chẳng thể nào quên.
Những địa danh, nhắc lại một thời. Những thời gian, ghi dấu lại những
thăng trầm của cuộc đời, những cột mốc đánh dấu hành trình nhân sinh.
Với
tôi, có những nơi, nhắc lại một thời êm đềm. Nhưng cũng có chốn, nhắc
lại là cả một trời đắng cay chua xót. Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ
đời, những cơn ác mộng ấy vẫn có lúc còn ám ảnh trong tiềm thức, có
những lúc hiện về, đứt ruột.
Thời gian ấy, tôi vừa được trở về
sau những năm tháng bị tù. (Tôi thấy cái chữ cải tạo còn hiền lành quá,
mà phải gọi là trại trừng giới mới đầy đủ ý nghĩa). Về Sài Gòn, không
có hộ khẩu, phải bắt buộc hồi hương hoặc đi vùng kinh tế mới. Hồi hương
thì tôi làm gì có quê để mà về, thôi đành chọn một chỗ nào đó, gần gần
Sài Gòn để đi “kinh tế mới”. Dù biết rằng, đi như vậy là chọn một
phương cách không tốt cho mình và cho cái ý tưởng muốn vượt biên lúc
nào cũng bừng bừng trong tâm trong óc. Nhưng ở lại Sài Gòn cũng không
được, công an và phường khóm mỗi ngày làm phiền hăm dọa. Cái chuyện bị
bắt lại là một chuyện khả dĩ...
Nơi tôi đi đến là xã Tân Thành,
thuộc Thủ Thừa, Long An, tuy cách Sài Gòn chỉ khoảng có 50 cây số đường
chim bay nhưng là một góc trời tăm tối hoang vu. Nằm sát với Đồng Tháp
Mười, nơi mà xưa kia người Pháp gọi là “Đồng cỏ lác“ (Plains des Jonds)
và chỗ đó thiên nhiên còn hiểm ác với chướng khí, với muỗi đỉa, với
bệnh tật. Từ Sài gòn đón xe đò xuồng Thủ Thừa. Rồi từ đây đến Tân
Thành, không có đường bộ, chỉ có đường thủy, một chuyến đò đi và một
chuyến trở về. Dọc theo bên bờ kinh, là những vùng kinh tế mới của
những người bị đánh tư sản người Hoa ở quận 5 Chợ Lớn bị đầy ải xuống
đây. Hoặc là những nông trại của bộ đội, của thanh niên xung phong, vừa
khai hoang vừa làm công việc biên phòng. Con tàu đò đi từ bến, qua
những khu của người Hoa, đến chỗ nông hội xã mà tôi cư ngụ rồi vào sâu
hơn, những nơi mà thanh niên xung phong hoặc bộ đội đóng rồi trở về.
Con
kinh ấy, nước đục đục mầu phèn là con đường giao thông duy nhất trong
vùng. Tôi đến Tân Thành bằng một chuyến đò với những cơn mưa nắng bất
chợt. Buổi sáng khi nắng vừa hửng trên mặt nước, khi tiếng còi của
chuyến đò gọi khách tu tu trên kinh nghe buồn não nuột. Tâm trạng của
một kẻ đi đầy cũng thê thảm đến mức này thôi. Cũng liều nhắm mắt đưa
chân, gặp nạn thì từ từ mà né, xá gì chuyện thâm sơn cùng cốc, muỗi kêu
như sáo thổi, đỉa lền như bánh canh, cỏ mọc thành tinh, rắn gầm biết
gáy. Đi, rồi sẽ phải kiếm cách trở về. Con tàu đò vừa đi được một lúc
thì trời nổi cơn dông. Mưa mù mịt. Gió thốc loạn cuồng. Hình như, đất
và trời cũng liên cảm và chia sớt nỗi buồn với tôi. Rồi cuồng nộ một
lúc, trời lại xanh và nắng lại lên man mác trên cảnh vật…
Bài
thơ đã viết trong trí nhớ, từ chuyến đò đi vào vùng lưu đầy, vào cõi
của địa ngục hoang vu mênh mông. Đã lâu, bây giờ lõm bõm trong trí nhớ:
“Thôi đã hết chiến tranh
sao chẳng về cố thổ
mà chân bước đi quanh
hai bờ kinh cơn lũ
chuyến đò đưa ta tới
những hắt hiu chạnh lòng
nơi vùng kinh tế mới
mồ hôi sẽ như sông
thầm trong tâm câu hỏi
sao lưu lạc chốn này
đỏ mặt trời nắng chói
chợt vô vọng tầm tay
thân không làm lính thú
thời gió bụi điêu linh
bây giờ theo cơn lũ
trôi nổi đợt sóng ghềnh
ôi tiếng còi như thét
mù mặt nước bao la
chợt vẫy tay vĩnh biệt
xa xưa mắt nhạt nhòa.
Thân chẳng làm lính thú
Sao lạ bước chốn này
Đời tạm cư tạm ngụ
Buốt lạnh hạt mưa bay…”
Bài
thơ ấy, cách nay hai mươi sáu năm, đêm hôm qua nhớ lại khi gặp một
người bạn cùng cảnh ngộ thời đó. Đúng là câu tha hương ngộ cố tri,
chúng tôi nói với nhau về những chuyện “hồi ấy”, những nỗi niềm của
những người lính thua trận phải giả dại cho qua ải. Lạ một điều, cả hai
đứa tôi đếu có ấn tượng rất sâu về những chuyến tàu đò, với âm thanh
tiếng máy làm khua động cả buổi trưa êm ắng và tiếng còi có lúc như
tiếng than, có lúc như tiếng gọi để thúc đẩy chúng tôi phải chọn một
con đường nào rời bỏ được chốn này.
Dọc theo con kinh, có những
đơn vị thanh niên xung phong, làm việc và quân số hình như nữ đông hơn
nam. Do đó, trên chuyến đò cũng có rất nhiều đôi mắt ngây thơ, có những
bím tóc lắc lư theo cơn gió và cũng có những bộ đồng phục thanh niên
xung phong nữ có một chút đỏm dáng nào đó, dù có khi là bàn tay đầy gân
vì lao động nặng, dù gương mặt bị đen đúa vì nắng mưa dưới nếp mũ tai
bèo. Dù sao, cũng là những bông hoa để làm đỡ thảm thiết hơn những
tháng ngày lụn tàn như sắp chết. Có lúc, tôi làm thơ vu vơ, cho một ánh
mắt nào thoáng qua, cho một hình dáng nữ nào, lãng đãng sương khói. Lúc
ấy, tuổi vừa hơn ba mươi, nên lòng nhiều xúc động, dù, chỉ là một vài
giây phút thoáng qua. Nếu không làm thơ, nếu không mơ mộng lãng mạn, dễ
gì đứng vững nổi đôi chân trên vũng sình chát chua phèn, của màu đất
đốm vàng màu rỉ sắt cằn khô mọi sinh lực. Thơ, là những con đường đi để
khác hơn những liếp thơm trùng trùng, những buổi sáng mù mịt, những
buổi trưa nắng như một biển lửa màu vàng tươi nhưng ngôt ngạt. Không
gian chết và thời gian cũng thở nuối ngáp ngáp theo…
“qua kinh Tân Thủy nắng lên
Đò mù sương để ướt mềm tóc ai
Mắt trôi bèo nước dặm dài
Hỏi ai mấy nẻo mốt mai có cùng ?
Mồ hôi đọng muối ngang lưng
Cỏ bờ vá được lạnh lùng hồn tôi
Cây đàn đứt một giây rồi
Nên bài hát cũ đành thôi nhắc thầm
Nước phèn con cá trầm ngâm
Muốn gửi em nụ hoa vàng ngút xanh
Gốc tràm rong cuộn đoạn đành
Củi em hong được nắng hanh mấy trời
Sáng nay soi nước nhớ người
Thấy hoang vu một khuôn trời đã riêng
Trên kinh nắng dột mấy miền
Un ai bếp trấu nhớ quên gọi hoài.”
Chúng
tôi kể cho nhau nghe những kỷ niệm, nhắc về những cuộc sống cũ thời xa
xưa ấy. Vì thuộc Đồng Tháp mười, đất bị phèn nặng nên chẳng có một thứ
cây trồng nào chịu nổi. Khoai lang là thứ cây mạnh mẽ nhất mà ở đây
cũng không thể ngoi lên nổi. Khoai mì cắm ngọn hom xuống lên những cây
tong teo không ra hình thù cây cỏ gì cả. Chỉ có một thứ chịu được là
thơm với những liếp bề ngang gần thước rưỡi bề dài cả trăm thước. Ngút
ngàn là những liếp thơm, trải dài ra và ghê gớm nhất là cái nắng, nắng
hun hút đốt ửng da thịt đen xạm mặt mày. Mùa nắng, nước ngọt là vàng.
Những ghe đổi nước đã mang một thứ cần yếu cho dân vùng này. Trong khi
nước phèn mênh mông mà con người lại bỏng khát chờ mong từng giọt nước
ngọt. Sinh kế ở đây thì lên liếp thơm cho nông trường chỉ là công việc
kiểu ù ơ ví dầu, làm cho lấy có, chứ nếu tính công điểm thì chỉ có nước
hớp không khí cho no mà thôi. Nếu muốn đủ tiền mua gạo ăn thì phải liều
mình vô đồng đốn củi tràm chở về chợ Tân An bán. Đi theo triều con nước
từ hai ba giờ sáng, vào Đồng Tháp Mười chặt rễ tràm chất lên xuồng đến
hai ba giờ trưa theo con nước trở về. Cây tràm có một điều rất lạ là rễ
mọc ngược trên sình và các tiều phu bất đắc dĩ (và cũng bất hợp pháp
nữa) lội xuống chặt làm củi. Nếu may mắn chót lọt, ngày ấy được chừng
món tiền mua gao đủ ăn cho vài ngày. Nhưng nếu xui xẻo gặp du kích thì
không những củi bị tịch thu mà ghe xuồng, cưa búa, những phương tiện
làm củi cũng bị xung công luôn. Và vài ngày sau lại thấy các chức sắc
trong xã dạm bán xuồng, còn du kích cắc ké thì dạm bán cưa, búa. Rồi,
dân mua lại, rồi bị tịch thu, cứ thế mà tái diễn. Đời sống, ở đó, như
thời mạt pháp, nhìn quanh toàn những tối tăm, những bất công chồng chất…
Cũng
may, còn có những người chung quanh, từ tứ xứ về đây. Có những cô tiểu
thư tuy buổi cùng đường nhưng vẫn mang vóc dáng cũ. Vẫn có trên chuyến
đò những bộ quần áo dù nước phèn có làm lem luốc nhưng vẫn còn nét đẹp
sang. Vẫn còn những ngón tay búp măng e ấp giữ trên mái tóc. Những gia
đình bị cải tạo tư sản ép buộc lên đây sinh sống dọc theo hai bờ kinh
nên những chuyến tàu đò đông người đã làm bớt đi cái vẻ cô tịch của một
miền sơn cùng thủy tận. Và có những bóng hồng thấp thoáng hình như đã
làm bao nhiêu chàng ngơ ngẩn bâng khuâng…
Những cô thanh niên
xung phong từ Sài Gòn bị điều động lên đây, dù với bộ đồng phục te tua,
dù với chiếc mũ tai bèo quê mùa nhưng vẫn còn vóc dáng của người thành
thị. Và một số khá đông là con em của những người lính VNCH chúng tôi,
có cả một số em là những sinh viên học sinh nữa. Tôi đã gặp nhiều em
khi ngồi trên tàu đò hoặc chờ mua vé xe tâm sự là cha em đang bị cải
tạo. Hoặc có những em, với khuôn mặt sáng sủa đọc những bài thơ với vẻ
ngây ngất vô cùng. Dù trên tay các em cầm những tập thơ Tố Hữu, thơ Hồ
Chí Minh,.. nhưng lại thuộc thơ và đọc những bài thơ Nguyên Sa, Hoàng
Anh Tuấn, những bài thơ của trời đất yêu nhau, của ngọt ngào vị ô mai
thấm thía đầu đời…
Ôi! Những người ở đó, của một thời lận đận,
của những cơn lụt trắng đồng, của những ngày giáp hạt đói kém, của một
thời ngăn sông cấm chợ, một thời mà “cây cột đèn cũng muốn đòi đi vượt
biển tìm tự do. Và, chúng tôi đã sống ở đó, dù chỉ là một thời gian
ngắn nhưng cũng đủ đau đớn cho một nỗi niềm.
Có, một bài thơ
viết về cơn lụt, của ngày nào xa lắm tôi làm trong khi đang đứng trên
bờ bao mong manh nghe nước sói mạnh dưới chân mình, nghe lòng sũng ướt
những nỗi đau lạnh buốt theo từng cơn gió thốc. Mưa, những hạt mưa rơi
trong tôi. Nước, những ứ tràn từ thiên cổ dội về. Tâm tư mình, có lúc
tê dại cảm giác, để thấy những bài thơ là khúc kinh nguyện cầu, để nỗi
khổ nhọc mất đi, để tin tưởng rằng vẫn có trời đất, vẫn có công đạo cho
người lương thiện.
“nước tràn dâng từ trong Đồng Tháp
kinh Thủ Thừa bờ bãi mênh mang
ôi đời ta loi ngoi mưa tạt
tầm mắt chìm bóng tối bàng hoàng
chân vẫn đứng trên sình ngóng gió
ở chỗ này thiên địa phân vân
ở chỗ này tâm tư cuồng nộ
có phải ta đang sống dương trần?
Tiếng gọi đò buốt vang buổi sớm
Em áo bay tà lụa cơn mơ
Hay tương tư mắt nai vừa chớm
Đã phũ phàng băm vụn tuổi thơ
Nước tràn dâng lòng ta cơn sóng
Tỉnh hay mê ta hỏi một đời
Nắng đỏ trời mây xanh lồng lộng
Sao u trầm thủy tận bèo trôi
Tiếng gọi đò bình minh ướt đẫm
Mù làn sương đôi mắt ai cay
Nhìn theo người dưng không ngơ ngẩn
Dòng kinh trôi biền biệt tháng ngày
Lòng ướt mềm tả tơi theo lũ
Gọi ai đây khản tiếng tàn hơi
Ta gọi ta một thời xưa cũ
sao âm vang thầm tiếng thở dài…”
những
bài thơ ấy, bây giờ là kỷ niệm. Đời sống qua đi, thấm thoát hơn hai
mươi sáu năm chắc có nhiều thay đổi. Tôi có đọc một bài báo trong báo
Văn Nghệ Trẻ ở trong nước viết về một nông trường gọi tên là “Nông
Trường Cô Bé Hai” ở xã Tân Thành. Đúng là chỗ mà cách nay hai mươi sáu
năm tôi đã lưu lạc tới. Thế mà, qua thời gian dài như vậy mà nhắm chẳng
có gì thay đổi nhiều. Vẫn bắt đầu phá hoang cải tạo đất, vẫn còn lẩn
quẩn từ chỗ làm khoán hay quốc doanh, vẫn chưa có đường bộ để vào, và
vẫn còn những cơn lụt kinh khiếp, những cơn nắng đỏ trời, những khung
trời mù mù hoang vu. Tôi ở hải ngoại, lúc nào cũng mong quê hương an
bình no ấm nên cũng thầm mong những công trình ấy sẽ thành công, để
người dân ở đó khỏi phải lo gạo cơm những ngày giáp hạt, để con trẻ
được đến trường, để đời sống ở đó và Sài Gòn không còn là một so sánh
của tận cùng. Dù rằng trước đó, trong hơn hai chục năm nhiều nông
trường đã giải tán, nhiều khu kinh tế mới đã bỏ hoang …
Nguyễn Mạnh Trinh