Nôm na là cha mách qué
Theo Đàn Chim Việt - Tuệ Chương - 25-06-2006
Lời tác giả:
Khi còn ở trong nước, tôi có định kiến với các người trẻ lớn lên ở hải
ngoại. Họ học ở nhà trường Âu-Mỹ, nơi có biết bao nhiêu cái hay cái đẹp
để tìm hiểu, nghiên cứu. Chỉ nói riêng tới các nhà văn lớn của Pháp
trong “Thế Kỷ Ánh Sáng” cũng quá đủ cho ai muốn tìm hiểu về dân chủ, tự
do, nhân quyền cũng như học thuật, tư tưởng, triết học hiện đại. Ở Mỹ,
đọc Jack London, hỏi ai không say mê, còn nói tới John Steibeck hay
William Faulkner, Hernest Emingway, những nhà văn lớn được giải Nobel,
với bao nhiêu tác phẩm của họ, chỉ mới đọc thôi cũng đủ “mệt”, nói chi
tới những công trình nghiên cứu về họ; bỏ thì giờ đọc và nghiên cứu về
họ thì coi như mất hết cả một phần thời trẻ mê đọc sách, nói sao cho
hết!
Vậy mà khi tới trại tỵ nạn, tôi giật mình vì một bản tin nhỏ đăng trên
báo “Diễn Đàn Tự Do” xuất bản ở Virginia, về một cô gái đang chuẩn bị
luận án tiến sĩ. Cô ta dự định về Việt Nam nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm
cho luận án nầy.
Dưới con mắt của công an cộng sản, có thể họ cho rằng cô nầy chẳng
nghiên cứu gì hết, chỉ là nại cái cớ để về Việt Nam với sứ mạng nào đó
do CIA giao phó.
 |
Một bản Kim Vân Kiều chữ Nôm, xuất xứ từ thời Đồng Khánh (1885) - Ảnh: Tiền Phong
|
Tôi
không nghĩ như vậy. Văn học cổ Việt Nam, tuy chịu ảnh hưởng văn học Tàu
khá đậm nhưng không phải là không có những cái đặc sắc của nó. Thậm chí
còn hay hơn cả cái nguồn gốc mà từ đó nó chịu ảnh hưởng. Người Việt Nam
có học cổ văn, ai cũng thích truyện Kiều, có người mê Kiều là việc dĩ
nhiên. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng là một tác phẩm có nguồn gốc bên
Tàu, nhưng truyện Kiều của ta thì hay quá, coi như một biểu tượng đặc
sắc của Việt Nam có thể góp mặt với những tác giả vĩ đại khắp năm châu
bốn biển. Trong khi đó truyện Kiều của Dư Hoài bên Tàu thì chẳng ai
đánh giá cao. Ngay “Tỳ Bà Hành” cũng vậy. Không thiếu người mê “Tỳ Bà
Hành”. Theo nhiều nhà Nho ngày trước thì “Tỳ Bà Hành” của Phan Huy Vịnh
hay hơn “Tỳ Bà Hành” của Bạch Cư Dị rất xa.
Thế hệ ngày nay, chịu ảnh hưởng văn học Âu Mỹ khá đậm, nhất là văn học
Pháp, không thiếu người bắt chước, mô phỏng, dịch hay chạy theo, cũng
“dịch hạch”, cũng “nôn mửa”, cũng “phi lý”, nhưng xem ra các đệ tử nầy
thua sư phụ khá xa; không như người xưa, theo đó, mà vượt qua đó. Đủ
biết, chúng ta cần học hỏi ở tổ tiên chúng ta nhiều lắm, làm sao để như
người xưa, vượt qua được cái khuôn vàng, thước ngọc mà các sư phụ đã
bày ra.
Tôi từng có cái may mắn dạy cho học trò về tác phẩm của Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Lê Thánh-Tôn, Đoàn Thị Điểm, Ôn-Như Hầu gần 10 năm, ở các hai
lớp Đệ Ngũ và Đệ Tam nên vì chén cơm, có tìm hiểu đôi chút về các tác
giả nầy. Cái đặc sắc bậc nhất trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là triết học
“vô vi” của đạo Lão. “Vô vi” là không làm cái gì trái với đạo Trời, với
thiên nhiên. “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Về ăn thì mùa nào, trời cho cái gì thì ăn cái đó, không cầu kỳ, bày biện phức tạp. Về chơi, thì “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”
cũng là đều tự nhiên theo thiên nhiên vậy. Nguyễn Bỉnh Khiêm là bậc đạt
nhân quân tử. Khi gặp thời thì ra giúp vua trị nước; gặp lúc bọn nịnh
thần lộng quyền thì cáo quan về ngao du sơn thủy, đâu có phải vì danh
lợi mà ràng buộc cái thân mình vào đó. Chưa kể, khi bàn tới Nguyễn Bỉnh
Khiêm khó mà không nói tới “Sấm Trạng Trình”.
Bản tin nhỏ trên tờ báo “Diễn Đàn Tự Do” ám ảnh tôi đã 15 năm nay. Bây
giờ, trên web-site lại xuất hiện nhiều bài viết về nguồn gốc chữ Nôm
làm tôi suy nghĩ không ít. Chữ Nôm là chữ của người Việt Nam, nhưng từ
khi có chữ quốc ngữ, thì các tác phẩm chữ Nôm đều được phiên âm ra chữ
quốc ngữ. Vậy thì nghiên cứu, tìm hiểu chữ Nôm ắt phải có mục đích của
nó.
Tuy nhiên, văn chương chữ Nôm là một nền văn học lớn của người Việt chúng ta, bắt đầu bằng những bài “Vua dụ Vương Tường gã cho chúa Thuyền Vu”, “Vua Trần Trùng Quang tiển Nguyễn Biểu đi sứ”,
Nguyễn Biểu họa lại bài thơ của vua Trần, Bữa tiệc đầu người của Nguyễn
Biểu, Bài kệ của nhà sư chùa Yên Quốc tế Nguyễn Biểu khi Nguyễn Biểu bị
giặc Tàu giết ở chân cầu chùa này. Còn một bài nữa, bài văn tế cá sấu
của ông Nguyễn Thuyên, sau đổi là Hàn Thuyên, đọc trong buổi tế ở trên
sông Nhị để đuổi cá sấu đi.
Chữ Nôm bị coi khinh
Thân phụ tôi là người sinh ra vào năm thứ ba của thế kỷ trước nên từ
khi còn trẻ, ông đã được nội tổ tôi cho học chữ Nho. Khi tôi mới lớn,
khoảng những năm đầu 1940, tôi thấy ba tôi rất kính trọng chữ Nho mà
ông thường gọi là “chữ của thánh hiền”. Thấy một tờ giấy có chữ Nho, dù
là giấy gói những bao hương (nhang) của mấy tiệm ba Tàu, ba tôi cũng
lượm lên đốt chớ không cho vào thùng rác bao giờ. Sau nầy, hiểu biết
lịch sử về giòng họ tôi, tôi cho việc ấy là bình thường. Thế thì chữ
Nôm, trông qua cũng giống như chữ Nho là của ai sáng tạo ra, vậy mà tôi
từng nghe người ta nói, có khi được ghi lại trong sách câu “Nôm na là
cha mách qué”. Gọi mách qué là có ý chê, không tôn trọng nó như “chữ
của thánh hiền”. Nó không là “chữ của thánh hiền” sao?
Trong cuốn “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng, có đoạn mô tả khi nhà Tây
Sơn cai trị, vua Quang Trung ra lệnh bắt phải dùng chữ Nôm trong văn
thư chiếu biểu thì có một sĩ phu miền Bắc, khi đọc một bố cáo của chính
quyền viết bằng chữ Nôm, nói rằng: “Dốt. Dốt hết, từ vua chí quan đều
dốt hết!” Ý anh ta nói rằng vì dốt nên mới dùng chữ Nôm, không dám dùng
chữ Hán.
Từ những suy nghĩ từ thời thơ ấu đó, tôi viết bài nầy nói sơ về việc
hình thành chữ Nôm, tại sao chữ Nôm bị cho là “mách qué” và chính yếu
tôi sẽ giới thiệu những bài thơ Nôm đầu tiên trong văn học nước ta. Quí
độc giả sẽ ngạc nhiên, tại sao gần một ngàn năm trước, tổ tiên chúng ta
đã có những bài thơ Nôm hay như vậy!
Gọi là Nôm là để phân biệt với Hán hoặc Nho. Hán hay Nho là chữ của người Tàu, chữ Nôm là chữ của người Việt.
Trước hết, phải nói ngay rằng chữ Nôm (喃) là biến dạng của chữ “Nam”
(phương nam, 南). Chữ Nho là chữ của người Hán, người phương Bắc. Vậy
thì người phương Nam cũng có chữ nghĩa riêng của họ, đó là chữ Nôm
(Nam). Suy ra, sở dĩ có việc hình thành chữ Nôm là do tự ái dân tộc: tự
ái về lịch sử, về cá tính và dân tộc và tinh thần độc lập, sau đó là do
nhu cầu sinh hoạt văn chương mà ra. Khi soạn ra chữ Nôm, có lẽ người
xưa nghĩ rằng tại sao người phương Bắc có chữ Hán của họ mà người phía
Nam không có chữ của người phương Nam.
Thực ra, trước hoặc sau khi tiến hành việc định cư ở đồng bằng lưu vực
sông Nhị Hà, người Việt (Lạc Việt) đã có một thứ chữ riêng của họ nay
chỉ còn sót lại trong một số bản Mường, một loại chữ hình dáng như con
nòng nọc. Trong quá trình ba lần Bắc thuộc, có lẽ thứ chữ nòng nọc ấy
vì chính sách đồng hóa của người Tàu mà biến mất trong cộng đồng những
người Việt định cư ở vùng đồng bằng và trung du. Người Mường, dòng dõi
rất gần với người Việt nhưng định cư ở vùng núi, chế độ cai trị của
người Tàu lỏng lẻo hơn, người dân ít chịu ảnh hưởng Tàu hơn nên hiện
nay số chữ nòng nọc ấy còn sót lại một ít trong cộng đồng người Mường.
Như vậy thứ chữ nòng nọc ấy biến mất trong cộng đồng người Việt định cư
ở lưu vực sông Hồng? Nếu còn, tại sao họ không phát triển thành thứ chữ
đó cho người Việt mà phải mượn chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm?
Quả thật, cách viết và cách đọc chữ Nôm là bắt nguồn từ trong chữ Hán.
Xin trích một đoạn sau đây của ông Nguyễn Hữu Vinh nói về nguồn gốc chữ
Nôm:
“Chữ Nôm là một sáng tạo rất có ý nghĩa của tổ tiên cha ông ta. Sự
xuất hiện của chữ Nôm là một sự kiện lớn đánh dấu sự tiến triển của nền
văn hóa của dân tộc trong gần 2000 năm qua. Sự hình thành của chữ Nôm
có thể do sự bức bách cần thiết trong việc giáo hóa dân chúng ở vào
thời đại xa xưa, Văn Ða cư sĩ (1) cho rằng Nhâm Diên đã dùng chữ Nôm
trong công việc giáo hóa quần chúng. Càng về sau, mỗi lần đất nước bị
kẻ thù phương Bắc xâm lược thì trong những thời kỳ đó, chữ Nôm lại đóng
vai trò tích cực hơn trong việc chống trả ngoại xâm và xây dựng đất
nước”.
Chữ Nôm bắt đầu xuất hiện dưới thời Bắc thuộc. Nhưng Bắc thuộc trải qua
ba thời kỳ: Lần thứ nhất từ 111 trước Tây lịch đến năm 39 sau Tây lịch;
lần thứ hai từ năm 43 sau Tây lịch đến năm 544; lần thứ ba từ 603 đến
939. Cuộc đô hộ kéo dài cả ngàn năm nên làm sao biết chữ Nôm hình thành
năm nào, khoảng nào? (1)
Sử ghi rằng:
5.- Bố Cái Đại Vương (791).
Năm Tân Tỵ (791) quan đô hộ là Cao chính Bình bắt dân đóng sưu thuế
nặng quá, lòng người oán-giận. Khi bấy giờ ở quận Đường-lâm (bây giờ là
làng Cam-lâm, huyện Phúc-thọ, tỉnh Sơn-tây) có người tên là Phùng Hưng
nổi lên đem quân về phá phủ Đô-hộ. Cao chính Bình lo sợ thành bệnh mà
chết. Phùng Hưng mới chiếm giữ phủ thành, được mấy tháng thì mất.
Quân-sĩ lập con Phùng Hưng là Phùng An lên nối nghiệp. Dân ái-mộ Phùng
Hưng mới lập đền thờ và tôn lên là Bố-Cái Đại-vương, bởi vì ta gọi cha
là bố, mẹ là cái, nghĩa là tôn Phùng Hưng lên làm cha mẹ.
(Việt Nam Sử Lược –Trần Trọng Kim- Q. 1 tr. 60)
Ở đoạn trích dẫn nói trên, Trần Trọng Kim giải thích chữ bố là cha, chữ
cái là mẹ. Cái là mẹ, là bắt nguồn trong tiếng Mã Lai. Cả hai chữ nầy
đều là chữ Nôm. Nhiều sách cũng giải thích như thế để chứng minh rằng
chữ Nôm đã xuất hiện từ trước đời Phùng Hưng.
Sách Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim lại chép:
“Năm mậu thìn (968), Vạn-thắng-vương lên ngôi hoàng-đế, tức là Tiên-hoàng đế, đặt quốc-hiệu là Đại-cồ-việt, đóng đô ở Hoa-lư….”
Trong tên nước Đại-Cồ-Việt, chữ cồ là chữ Nôm. Do đó, bài của ông Nguyễn Hữu Vinh có đoạn: “Có người căn cứ trên ba chữ Ðại-Cồ-Việt để cho rằng Nôm có từ thời Ðinh Tiên Hoàng”.
Ông Đào Duy Anh thì cho rằng chữ Nôm hình thành vào thời kỳ “Họ Khúc dấy nghiệp”.
Trần Trọng Kim chép công nghiệp của Khúc Thừa Dụ như sau:
“Ở Giao-châu, bấy giờ có người họ Khúc tên là thừa Dụ, quê ở
Hồng-châu (thuộc địa-hạt bình-giang và Ninh-giang ở Hải-dương). Khúc
thừa Dụ vốn là người hào phú trong xứ, mà tính lại khoan hòa, hay
thương người, cho nên có nhiều ngưới kính-phục. Năm bính-dần (906) đời
vua Chiêu-tuyên nhà Đường, nhân khi trong châu có loạn, chúng cử ông ấy
làm Tiết-độ-sứ, cai-trị Giao-châu. Nhà Đường bấy giờ suy nhược, thế
không ngan cấm được, cũng thuận cho ông ấy làm Tỉnh hải Tiết-độ-sứ và
gia-phong Đồng-bình chương sự”.
Bửu Cầm chủ trương “chữ Nôm xuất hiện sau thời Sĩ Nhiếp và phát triển mạnh mẽ vào thời Trần”.
Trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, giáo sư Dương Quảng Hàm cũng viết như sau:
“2.- Người ta đã tìm thấy ở Hộ-thành sơn, thuộc tỉnh Ninh Bình một
tấm bia đề năm 1343 (Trần dụ-tôn, Thiệu-phong tứ 3) trên có khắc hai
mươi tên làng bằng chữ nôm, đó là cái tự tích chắc chắn về chữ nôm còn
truyền lại đến bây giờ)
(Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm, trang 114)
Nhìn chung, người ta có thể kết luận rằng chữ Nôm hình thành vào thời
Bắc thuộc và phát triển vào đời Trần. Cũng từ đời Trần trở về sau, các
tác phẩn văn Nôm bắt đầu xuất hiện. Trước nhứt là những bài thơ trong
“Nghĩa Sĩ Truyện” tôi sẽ giải thích sau đây, tiếp đến là truyện Trinh
Thử của Hồ Huyền Qui, truyện Trê Cóc và Lục Súc Tranh Công, không biết
tác giả là ai. Sau đó là các phẩm Nhị Độ Mai, Bần Nữ Thán, Quan Âm Thị
Kính, v.v… Văn Nôm phát triển nổi bật vào thế kỷ 18, tiền bán cũng như
hậu bán thế kỷ nầy, với những tác phẩn như Hoa Tiên Truyện, Bích Câu Kỳ
Ngộ, Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm và đặc biệt là Truyện Thúy
Kiều. Có người nói rằng nếu Anh Quốc có Shakespeare, Pháp có Victor
Hugo, thì Việt Nam có Nguyễn Du. Càng ngày, người Âu Mỹ càng nghiên cứu
về văn học Việt Nam càng thấy sự vĩ đại của truyện Kiều.
Theo tài liệu văn học, đặc biệt trong hai cuốn “Thi Văn Việt Nam” của
Hoàng Xuân Hãn và “Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển” của Dương Quảng Hàm có
ghi lại những bài thơ Nôm đầu tiên của văn học nước ta. Những bài nầy
được gom trong cuốn sách nhan là “Nghĩa Sĩ Truyện” có các bài thơ văn
đặc biệt như sau:
- Bài “Vua dụ Vương Tường gã cho chúa Thuyền Vu”
- Bài họa của Vương Tường.
- Bài “Vua Trần Trùng Quang tiển Nguyễn Biểu đi sứ”
- Bài Nguyễn Biểu họa lại bài thơ của vua Trần
- Bài Bữa tiệc đầu người của Nguyễn Biểu
- Bài kệ của nhà sư chùa Yên Quốc tế Nguyễn Biểu khi Nguyễn Biểu bị giặc Tàu giết ở chân cầu chùa này.
Còn một bài nữa, bài văn tế cá sấu của ông Nguyễn Thuyên, sau đổi là
Hàn Thuyên, đọc trong buổi tế ở trên sông Nhị để đuổi cá sấu đi. Tôi
không rõ bài nầy trích ở sách nào vì trong Nghĩa Sĩ Truyện chỉ chép có
5 bài nói trước mà thôi. Giáo sư Dương Quảng Hàm, trong Việt Nam Văn
Học Sử Yếu, ghi nhận như sau:
“Hàn Thuyên – A)- Tiểu truyện.- Ông vốn họ Nguyễn, người
huyện Thanh lâm,(nay là phủ Nam sách, tỉnh Hải Dương), đạu thái
học-sinh về đời Trần Thái-tôn (1225-1257).
“Theo lời sử chép (Cm.9.7. tr 26a) mùa thu tháng tám năm 1282 (Trần
Nhân tôn, Thiệu bảo thứ 4), ông đương làm hình-bộ thượng-thư, có con
ngạc ngư (cá sấu) đến sông Phú lương (tức sông Nhị-hà). Vua sai ông làm
bài văn vất xuống sông. Cá sấu tự đi. Vua cho việc ấy giống việc Hàn Dũ
bên Tàu, nên cho ông đổi họ là Hàn.
“Về bài văn ném xuống sông để đuổi cá sấu nầy, sử không chép rõ là viết
theo thể văn nào và làm bằng Hán văn hay Việt văn; vậy ta cũng không
nên vội cho là bài văn tế viết bằng tiếng Nôm. Chỉ khi nào tìm thấy
nguyên văn bài ấy mới giải quyết được vấn đề ấy, mà hiện nay thì bài ấy
không thấy chép ở sách nào cả.”
(Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm, trang 222)
Với sự dè dặt của người viết sử, giáo sư Dương Quảng Hàm viết như trên.
Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng bài văn tế cá sấu của Hàn Thuyên là
bài văn Nôm, nó mở ra thời kỳ văn Nôm trong văn học nước ta. Vai trò ấy
của bài văn tế cá sấu rất quan trọng vì trước nay, văn Nôm chỉ xuất
hiện trong giới trà dư tửu hậu mà thôi, có nghĩa chỉ là thứ dùng để
tiêu khiển. Nay, nếu như nhà vua cho dùng văn Nôm trong một bài văn
chính thức của triều đình, dù chỉ là một bài văn tế cá sấu thì vai trò
văn Nôm cũng được nâng cao nhiều lắm, nhất là bài văn tế ấy lại có kết
quả, làm cho con cá sấu bỏ đi. Đó cũng là một trong những động cơ làm
cho văn Nôm, kể từ đời nhà Trần phát triển hơn.
Trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm viết:
“Các tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nôm (đời Trần) -
“Trong đời nhà Trần, cứ theo sử chép thì người đồng thời với Hàn Thuyên
bắt chước ông làm thơ văn quốc âm nhiều. Sau đời ông, chắc cũng có
nhiều nhà theo gương ông trứ tác nữa.
(Việt Nam Văn Học Sử Yếu, - Dương Quảng Hàm, trang 292)
Ở phần tiếp theo, tác giả sẽ trích và giải thích ý nghĩa những bài thơ Nôm đầu tiên trong văn chương Chữ Nôm.
Copyright © 2006 by DCVOnline
DCVOnline:
(1)
— Chữ Nôm là cách viết biểu ý ngày xưa của tiếng Việt. Sau khi Việt Nam
thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939, chữ Nôm lần đầu tiên
thành chữ quốc ngữ để diễn đạt tiếng Việt qua mẫu tự biểu ý. Hơn 1.000
năm sau đó—từ thế kỷ 10 cho đến thế kỷ 20—một phần lớn các tài liệu văn
học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo và hành chánh được
viết bằng chữ Nôm. Dưới triều đại nhà Tây Sơn, toàn bộ các văn kiện
hành chánh được viết bằng chữ Nôm trong 14 năm, từ 1788 đến 1802. Nói
cách khác, chữ Nôm là công cụ duy nhất hoàn toàn Việt Nam ghi lại lịch
sử văn hoá của dân tộc trong khoảng 10 thế kỷ. Nguồn: Hội Bảo tồn Di sản Nôm.
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: