Chính
phủ Mỹ đang vận động để Ấn Ðộ mở cửa kinh tế, ít nhất cũng mở rộng thêm
chút chút cho bằng Trung Quốc. Mà điều này thì có lợi cho Ấn Ðộ. Năm
ngoái, số tiền ngoại quốc đầu tư vào Trung Quốc cao gấp mười lần vào Ấn
Ðộ. Một lý do là Ấn Ðộ đã cải tổ chậm hơn 15 năm mà vẫn hạn chế ngay cả
việc đầu tư. Thí dụ, công ty bán lẻ Wal Mart; có 6,500 cửa hàng trên
khắp thế giới, trong đó có 56 cửa hàng bên Trung Quốc, nhưng vẫn không
được phép vào Ấn Ðộ. Nhân chuyến công du vừa qua của Tổng Thống George
W. Bush, Ấn Ðộ mới cho phép công ty Nike mở cửa tiệm bán giày đầu tiên
ở xứ này.
Nước
Mỹ vẫn chủ trương kinh tế thế giới phải tự do. Có trao đổi thương mại,
đầu tư tự do thì các quốc gia mới cùng tiến bộ. Nhưng trong lúc chính
quyền Mỹ vẫn hô hào như vậy, thì quốc hội Mỹ lại đưa ra những tín hiệu
ngược chiều! Các đại biểu quốc hội đã thông báo cho Tổng Thống Bush
rằng họ sẽ ngăn chận không cho công ty Dubai Ports World (DPW) tiếp thu
việc quản trị sáu bến cảng ở Mỹ, sau khi công ty của chính phủ Dubai đã
mua công ty P&O của Anh với giá 6 tỷ 8 mỹ kim. Lúc mới nghe có
người chống đối, ông Bush làm cứng, tuyên bố nếu quốc hội làm luật ngăn
cản thì ông sẽ phủ quyết, không chịu ký. Muốn lật ngược quyền phủ quyết
của tổng thống, mỗi viện quốc hội phải hội đủ 2 phần 3 phiếu. Nhưng bây
giờ nhiều đại biểu trong đảng Cộng Hòa cũng tính đi ngược lại với chủ
trương của Hành pháp, ông Bush đã dịu giọng, ông không dọa phủ quyết
nữa mà chỉ yêu cầu tìm cách thỏa hiệp. Ngày Thứ Tư, Ủy ban ngân sách
của Hạ viện đã biểu quyết thuận 62-2, ghi thêm việc ngăn cản không cho
công ty DPW quản lý các bến cảng ở Mỹ kèm theo một dựa luật về ngân
sách. Muốn phủ quyết thì Tổng Thống Bush phải bác bỏ luôn ngân sách 91
tỷ đô la mà ông đã xin quốc hội phê chuẩn để chi cho cuộc chiến ở Iraq,
Afghanistan, cùng với ngân sách cứu trợ nạn nhân bão Katrina.
Nhưng
tại sao quốc hội Mỹ lại chống việc công ty Dubai mua quyền quản lý các
hải cảng ở Mỹ? Những người chống đối nêu ra lý do an ninh. Nhưng lý do
thực là vận động tranh cử cho cuối năm nay.
Những
người lên tiếng chống đối đầu tiên tất nhiên là các đại biểu thuộc đảng
Dân Chủ, vì đây là một cơ hội tốt cho họ. Lâu nay đảng Dân Chủ vẫn bị
bên Cộng Hòa chỉ trích là không cứng rắn trong vấn đề bảo vệ an ninh
quốc gia. Bây giờ họ có dịp chỉ trích một chính quyền Cộng Hòa lơ là
không lo bảo vệ an ninh các hải cảng, cho phép một công ty quốc doanh
của người Ả rập vào coi sóc 6 hải cảng bốc giỡ hàng hóa ở Mỹ. Các đại
biểu thuộc đảng Cộng Hòa không bênh vực ông tổng thống cùng đảng mà lại
nói theo. Họ cũng muốn chứng tỏ là họ lo lắng chống khủng bố xâm nhập
không thua đảng đối lập. Khi những người này nêu lên rằng chính phủ
Dubai trước đây đã công nhận chính quyền Hồi Giáo Taliban cực đoan ở
Afghanistan, và tổ chức al Qaeda đã từng dùng các ngân hàng của Liên
hiệp các nước Ả rập UAE, mà Dubai là một thành viên, làm nơi chuyển
tiền; thì họ đã tạo ra một hình ảnh xấu về tiểu quốc này khiến dân
chúng Mỹ cũng lo lắng.
Một
cuộc nghiên cứu dư luận gần đây cho thấy hai phần ba dân chúng Mỹ muốn
cấm không cho công ty Dubai tiếp thu các hải cảng ở Mỹ! Các dân biểu Hạ
viện đều phải tái tranh cử năm nay, họ thế nào cũng phải lắng nghe dư
luận. Một phần ba các nghị sĩ cũng phải tranh cử lại, họ cũng nghiêng
theo dư luận. Ðảng Dân Chủ thì được cơ hội tấn công đảng Cộng Hòa ngay
trên sân của họ về vấn đề an ninh quốc gia, phải bắt lấy cơ hội hiếm
hoi này. Giới lãnh đạo đảng Cộng Hòa trong quốc hội cũng phải ngả theo.
Ông Bush bị đặt trong tình thế khó xử, đi theo hướng nào cũng kẹt. Nếu
chiều ý quốc hội thì ông sẽ vi phạm chủ trương tự do kinh tế mà ông vẫn
hô hào, lại gây thù hận với một nước Ả rập đồng minh quan trọng. Nếu
chống lại thì gây chia rẽ ngay trong đảng của ông, làm cho đảng yếu hơn
trong một năm bầu cử.
Nhưng việc công ty Dubai tiếp thu các bến cảng bốc hàng ở Mỹ từ tay công ty P&O có đe dọa an ninh nước Mỹ hay không?
Trước
hết, các công ty trên chỉ quản lý các bến bốc hàng bằng “công”
(container) chứ không quản lý tất cả hải cảng, trong đó còn có các tầu
thủy loại khác. Khi họ quản lý các bến bốc hàng thì không phải là họ
làm chủ các hải cảng như người ta có thể hiểu lầm. Hiện nay 60 phần
trăm các bến bốc hàng ở Mỹ là do các công ty ngoại quốc chịu trách
nhiệm; 5 phần trăm là các công ty quốc doanh nước ngoài. Các công ty
này nhắm vào những bến cảng lớn tầm vóc quốc tế, các bến bốc hàng trong
nước thường do các công ty Mỹ phụ trách. Cho nên trong số 10 bến cảng
bến bốc hàng lớn nhất thì 80 phần trăm công việc do các xí nghiệp nước
khác quản lý.
Mỗi
hải cảng có rất nhiều bến bến bốc hàng, cho nên ở Los Angeles chẳng
hạn, là bến lớn nhất nước Mỹ, có các công ty Ðan Mạch, Nhật Bản, Trung
Quốc, Ðài Loan, Singapore quản lý các bến bến bốc hàng. Ðứng hạng ba,
sau New York, là cảng Long Beach ở California, có các công ty Nhật Bản,
Hàn Quốc và Hồng Kông. New York, New Jersey có các công ty Ðan Mạch,
Hồng Kông. Từ năm 1981, công ty quản lý bốc hàng Trung Quốc là China
Ocean Shipping Co. (viết tắt là Cosco) đã sử dụng bến Long Beach, có
lúc họ muốn thuê miếng đất thuộc căn cứ hải quân, và bị quốc hội ngăn
cản. Sau Cosco tìm được một mảnh đất khác, và được thuê làm bến bốc
hàng.
Trên
thế giới những công ty bốc dỡ hàng lớn nhất thuộc Hồng Kông, Singapore,
Dubai, Ðan Mạch, là những quốc gia và lãnh thổ nhỏ nhưng có tham vọng
trở thành những trung tâm thương mại quốc tế. Mỹ không có công ty bốc
dỡ hàng hạng lớn quốc tế. Lý do giản dị, vì lương bổng trả người Mỹ cao
hơn hẳn các nước kia, mà mức lời của công việc bốc dỡ hàng thì rất
thấp. Công ty Sea-Land của Mỹ thành lập từ nửa thế kỷ nay, đã được đem
bán, vì người Mỹ có thể đem tiền đầu tư vào các nghề khác kiếm lời
nhiều hơn. Năm 1999 công ty CSX đã bán cho công ty Moller-Maersk của
Ðan Mạch, từ đó họ làm chủ Sea-Land. Năm ngoái, cả công ty CSX được đem
bán cho một công ty Singapore.
Các
công ty quản lý bến bốc hàng chỉ lo việc bốc dỡ các “công,” những bến
bốc hàng của họ nằm trong các khu riêng, không phải là nơi hành khách
ra vào. Họ không làm chủ các bến mà chỉ thuê chỗ để làm ăn thôi. Việc
kiểm soát an ninh những công hàng nhập vào Mỹ được thi hành ở ngay nơi
xuất phát. Chính phủ Mỹ phụ trách bảo vệ an ninh, qua những cơ quan như
Biên phòng Lãnh hải, Quan Thuế và Di trú, dù công ty quản lý bến thuộc
quốc tịch Mỹ hay nước khác.
Như
vậy thì những lời hô hoán về vấn đề an ninh khi công ty Dubai mua quyền
khai thác các bến bốc hàng ở Mỹ từ tay công ty Anh quốc là không có lý
do chính đáng. Chưa kể, Dubai và các tiểu quốc khác trong Liên hiệp Ả
rập UAE là những quốc gia thân Mỹ hạng nhất trong các nước Ả rập. Không
quân Mỹ đặt căn cứ trên đất UAE. Hải cảng Jebel Ali ở Dubai là nơi tiếp
nhận nhiều chiến thuyền Mỹ nhất thế giới, ở ngoài nước Mỹ. Ðó là bến
tàu duy nhất trong vùng có thể cho hàng không mẫu hạm Mỹ cập bến. Hải
cảng và phi trường ở UAE đóng vai trò quan trọng trong các chiến dịch ở
Afghanistan và Iraq; và nếu xảy ra xung đột với Iran thì quân Mỹ không
thể nào không sử dụng các phương tiện này.
Nếu
việc công ty Dubai mua công ty O&P Anh quốc, đã được chính thức
công nhận ở Anh, mà bị ngăn chặn trong việc tiếp thu các bến bốc hàng ở
Mỹ thì người Ả rập sẽ coi đây là một thái độ kỳ thị về chủng tộc và tôn
giáo. Công ty Dubai do một người Mỹ làm tổng giám đốc điều hành, phần
lớn nhân viên cao cấp là người Mỹ, Anh, Ấn Ðộ; khi làm việc ở Mỹ họ sẽ
dùng các nhân viên của O&P chứ không đem người Ả rập qua; vì ngay
trong nước họ cũng thiếu người. Trong dân số 2 triệu rưỡi của UAE có 80
phần trăm là di dân lao động.
Những
tin tức nêu ra trên đây cho thấy việc các đại biểu quốc hội Mỹ tìm cách
thọc gậy bánh xe vào một hợp đồng mua bán giữa hai công ty ngoại quốc
là không có lý do chính đáng. Việc này sẽ gây khó khăn cho người Mỹ khi
họ đi đầu tư ở nước khác, chưa kể là gây thêm hiềm khích với khối Ả
rập. UAE là một khách hàng lớn của Mỹ, họ đứng hàng thứ 21 trong số các
quốc gia mua hàng Mỹ, đứng trên các nước như Nga, Ấn Ðộ, Tây Ban Nha.
Năm ngoái, công ty Boeing đã bán được 42 máy bay mới 777 cho hãng hàng
không Emirates của UAE.
Sau
khi mua được O&P, Dubai Ports trở thành công ty quản lý bến bốc
hàng lớn thứ nhì thế giới, cạnh tranh với công ty Hồng Kông của nhà tỷ
phú Lý Khai Thành. Nhưng số thương vụ của O&P ở Mỹ rất nhỏ so với
các bến cảng khác trên thế giới của công ty này, trong khi mức lời
trong việc khai thác ở Mỹ thì rất thấp so với các nơi khác. Trong năm
ngoái, P&O bốc giỡ 15 triệu công hàng khắp nơi mà ở Bắc Mỹ chỉ có
2.4 triệu công, đa số là ở Vancouver, Canada. Công ty Dubai bốc giỡ 33
triệu công hàng trên thế giới, sẽ tăng thương vụ lên gấp rưỡi sau khi
mua P&O. Cuối cùng công ty Dubai Ports đã giúp Hành pháp và Lập
pháp Mỹ thoát ra khỏi cảnh bế tắc. Ông Edward Bilkey, vị tổng giám đốc
người Mỹ của DPW đã tuyên bố sẽ theo lệnh chính phủ Dubai chuyển quyền
khai thác các bến cảng ở Mỹ cho một công ty có quốc tịch Mỹ. Một lần
nữa, chính trị đã thắng kinh tế, giống như vụ công ty C. Nooc của Trung
Quốc bỏ cuộc không mua Unocal. Nhưng đây là một tiền lệ rất xấu, đối
với một nước vẫn hô hào tự do mậu dịch.
|
|