Nước Mỹ không thể chống tự do mậu dịch

Theo Người Việt - Ngô Nhân Dụng - 09-03-2006

Chính phủ Mỹ đang vận động để Ấn Ðộ mở cửa kinh tế, ít nhất cũng mở rộng thêm chút chút cho bằng Trung Quốc. Mà điều này thì có lợi cho Ấn Ðộ. Năm ngoái, số tiền ngoại quốc đầu tư vào Trung Quốc cao gấp mười lần vào Ấn Ðộ. Một lý do là Ấn Ðộ đã cải tổ chậm hơn 15 năm mà vẫn hạn chế ngay cả việc đầu tư. Thí dụ, công ty bán lẻ Wal Mart; có 6,500 cửa hàng trên khắp thế giới, trong đó có 56 cửa hàng bên Trung Quốc, nhưng vẫn không được phép vào Ấn Ðộ. Nhân chuyến công du vừa qua của Tổng Thống George W. Bush, Ấn Ðộ mới cho phép công ty Nike mở cửa tiệm bán giày đầu tiên ở xứ này.

Nước Mỹ vẫn chủ trương kinh tế thế giới phải tự do. Có trao đổi thương mại, đầu tư tự do thì các quốc gia mới cùng tiến bộ. Nhưng trong lúc chính quyền Mỹ vẫn hô hào như vậy, thì quốc hội Mỹ lại đưa ra những tín hiệu ngược chiều! Các đại biểu quốc hội đã thông báo cho Tổng Thống Bush rằng họ sẽ ngăn chận không cho công ty Dubai Ports World (DPW) tiếp thu việc quản trị sáu bến cảng ở Mỹ, sau khi công ty của chính phủ Dubai đã mua công ty P&O của Anh với giá 6 tỷ 8 mỹ kim. Lúc mới nghe có người chống đối, ông Bush làm cứng, tuyên bố nếu quốc hội làm luật ngăn cản thì ông sẽ phủ quyết, không chịu ký. Muốn lật ngược quyền phủ quyết của tổng thống, mỗi viện quốc hội phải hội đủ 2 phần 3 phiếu. Nhưng bây giờ nhiều đại biểu trong đảng Cộng Hòa cũng tính đi ngược lại với chủ trương của Hành pháp, ông Bush đã dịu giọng, ông không dọa phủ quyết nữa mà chỉ yêu cầu tìm cách thỏa hiệp. Ngày Thứ Tư, Ủy ban ngân sách của Hạ viện đã biểu quyết thuận 62-2, ghi thêm việc ngăn cản không cho công ty DPW quản lý các bến cảng ở Mỹ kèm theo một dựa luật về ngân sách. Muốn phủ quyết thì Tổng Thống Bush phải bác bỏ luôn ngân sách 91 tỷ đô la mà ông đã xin quốc hội phê chuẩn để chi cho cuộc chiến ở Iraq, Afghanistan, cùng với ngân sách cứu trợ nạn nhân bão Katrina.

Nhưng tại sao quốc hội Mỹ lại chống việc công ty Dubai mua quyền quản lý các hải cảng ở Mỹ? Những người chống đối nêu ra lý do an ninh. Nhưng lý do thực là vận động tranh cử cho cuối năm nay.

Những người lên tiếng chống đối đầu tiên tất nhiên là các đại biểu thuộc đảng Dân Chủ, vì đây là một cơ hội tốt cho họ. Lâu nay đảng Dân Chủ vẫn bị bên Cộng Hòa chỉ trích là không cứng rắn trong vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia. Bây giờ họ có dịp chỉ trích một chính quyền Cộng Hòa lơ là không lo bảo vệ an ninh các hải cảng, cho phép một công ty quốc doanh của người Ả rập vào coi sóc 6 hải cảng bốc giỡ hàng hóa ở Mỹ. Các đại biểu thuộc đảng Cộng Hòa không bênh vực ông tổng thống cùng đảng mà lại nói theo. Họ cũng muốn chứng tỏ là họ lo lắng chống khủng bố xâm nhập không thua đảng đối lập. Khi những người này nêu lên rằng chính phủ Dubai trước đây đã công nhận chính quyền Hồi Giáo Taliban cực đoan ở Afghanistan, và tổ chức al Qaeda đã từng dùng các ngân hàng của Liên hiệp các nước Ả rập UAE, mà Dubai là một thành viên, làm nơi chuyển tiền; thì họ đã tạo ra một hình ảnh xấu về tiểu quốc này khiến dân chúng Mỹ cũng lo lắng.

Một cuộc nghiên cứu dư luận gần đây cho thấy hai phần ba dân chúng Mỹ muốn cấm không cho công ty Dubai tiếp thu các hải cảng ở Mỹ! Các dân biểu Hạ viện đều phải tái tranh cử năm nay, họ thế nào cũng phải lắng nghe dư luận. Một phần ba các nghị sĩ cũng phải tranh cử lại, họ cũng nghiêng theo dư luận. Ðảng Dân Chủ thì được cơ hội tấn công đảng Cộng Hòa ngay trên sân của họ về vấn đề an ninh quốc gia, phải bắt lấy cơ hội hiếm hoi này. Giới lãnh đạo đảng Cộng Hòa trong quốc hội cũng phải ngả theo. Ông Bush bị đặt trong tình thế khó xử, đi theo hướng nào cũng kẹt. Nếu chiều ý quốc hội thì ông sẽ vi phạm chủ trương tự do kinh tế mà ông vẫn hô hào, lại gây thù hận với một nước Ả rập đồng minh quan trọng. Nếu chống lại thì gây chia rẽ ngay trong đảng của ông, làm cho đảng yếu hơn trong một năm bầu cử.

Nhưng việc công ty Dubai tiếp thu các bến cảng bốc hàng ở Mỹ từ tay công ty P&O có đe dọa an ninh nước Mỹ hay không?

Trước hết, các công ty trên chỉ quản lý các bến bốc hàng bằng “công” (container) chứ không quản lý tất cả hải cảng, trong đó còn có các tầu thủy loại khác. Khi họ quản lý các bến bốc hàng thì không phải là họ làm chủ các hải cảng như người ta có thể hiểu lầm. Hiện nay 60 phần trăm các bến bốc hàng ở Mỹ là do các công ty ngoại quốc chịu trách nhiệm; 5 phần trăm là các công ty quốc doanh nước ngoài. Các công ty này nhắm vào những bến cảng lớn tầm vóc quốc tế, các bến bốc hàng trong nước thường do các công ty Mỹ phụ trách. Cho nên trong số 10 bến cảng bến bốc hàng lớn nhất thì 80 phần trăm công việc do các xí nghiệp nước khác quản lý.

Mỗi hải cảng có rất nhiều bến bến bốc hàng, cho nên ở Los Angeles chẳng hạn, là bến lớn nhất nước Mỹ, có các công ty Ðan Mạch, Nhật Bản, Trung Quốc, Ðài Loan, Singapore quản lý các bến bến bốc hàng. Ðứng hạng ba, sau New York, là cảng Long Beach ở California, có các công ty Nhật Bản, Hàn Quốc và Hồng Kông. New York, New Jersey có các công ty Ðan Mạch, Hồng Kông. Từ năm 1981, công ty quản lý bốc hàng Trung Quốc là China Ocean Shipping Co. (viết tắt là Cosco) đã sử dụng bến Long Beach, có lúc họ muốn thuê miếng đất thuộc căn cứ hải quân, và bị quốc hội ngăn cản. Sau Cosco tìm được một mảnh đất khác, và được thuê làm bến bốc hàng.

Trên thế giới những công ty bốc dỡ hàng lớn nhất thuộc Hồng Kông, Singapore, Dubai, Ðan Mạch, là những quốc gia và lãnh thổ nhỏ nhưng có tham vọng trở thành những trung tâm thương mại quốc tế. Mỹ không có công ty bốc dỡ hàng hạng lớn quốc tế. Lý do giản dị, vì lương bổng trả người Mỹ cao hơn hẳn các nước kia, mà mức lời của công việc bốc dỡ hàng thì rất thấp. Công ty Sea-Land của Mỹ thành lập từ nửa thế kỷ nay, đã được đem bán, vì người Mỹ có thể đem tiền đầu tư vào các nghề khác kiếm lời nhiều hơn. Năm 1999 công ty CSX đã bán cho công ty Moller-Maersk của Ðan Mạch, từ đó họ làm chủ Sea-Land. Năm ngoái, cả công ty CSX được đem bán cho một công ty Singapore.

Các công ty quản lý bến bốc hàng chỉ lo việc bốc dỡ các “công,” những bến bốc hàng của họ nằm trong các khu riêng, không phải là nơi hành khách ra vào. Họ không làm chủ các bến mà chỉ thuê chỗ để làm ăn thôi. Việc kiểm soát an ninh những công hàng nhập vào Mỹ được thi hành ở ngay nơi xuất phát. Chính phủ Mỹ phụ trách bảo vệ an ninh, qua những cơ quan như Biên phòng Lãnh hải, Quan Thuế và Di trú, dù công ty quản lý bến thuộc quốc tịch Mỹ hay nước khác.

Như vậy thì những lời hô hoán về vấn đề an ninh khi công ty Dubai mua quyền khai thác các bến bốc hàng ở Mỹ từ tay công ty Anh quốc là không có lý do chính đáng. Chưa kể, Dubai và các tiểu quốc khác trong Liên hiệp Ả rập UAE là những quốc gia thân Mỹ hạng nhất trong các nước Ả rập. Không quân Mỹ đặt căn cứ trên đất UAE. Hải cảng Jebel Ali ở Dubai là nơi tiếp nhận nhiều chiến thuyền Mỹ nhất thế giới, ở ngoài nước Mỹ. Ðó là bến tàu duy nhất trong vùng có thể cho hàng không mẫu hạm Mỹ cập bến. Hải cảng và phi trường ở UAE đóng vai trò quan trọng trong các chiến dịch ở Afghanistan và Iraq; và nếu xảy ra xung đột với Iran thì quân Mỹ không thể nào không sử dụng các phương tiện này.

Nếu việc công ty Dubai mua công ty O&P Anh quốc, đã được chính thức công nhận ở Anh, mà bị ngăn chặn trong việc tiếp thu các bến bốc hàng ở Mỹ thì người Ả rập sẽ coi đây là một thái độ kỳ thị về chủng tộc và tôn giáo. Công ty Dubai do một người Mỹ làm tổng giám đốc điều hành, phần lớn nhân viên cao cấp là người Mỹ, Anh, Ấn Ðộ; khi làm việc ở Mỹ họ sẽ dùng các nhân viên của O&P chứ không đem người Ả rập qua; vì ngay trong nước họ cũng thiếu người. Trong dân số 2 triệu rưỡi của UAE có 80 phần trăm là di dân lao động.

Những tin tức nêu ra trên đây cho thấy việc các đại biểu quốc hội Mỹ tìm cách thọc gậy bánh xe vào một hợp đồng mua bán giữa hai công ty ngoại quốc là không có lý do chính đáng. Việc này sẽ gây khó khăn cho người Mỹ khi họ đi đầu tư ở nước khác, chưa kể là gây thêm hiềm khích với khối Ả rập. UAE là một khách hàng lớn của Mỹ, họ đứng hàng thứ 21 trong số các quốc gia mua hàng Mỹ, đứng trên các nước như Nga, Ấn Ðộ, Tây Ban Nha. Năm ngoái, công ty Boeing đã bán được 42 máy bay mới 777 cho hãng hàng không Emirates của UAE.

Sau khi mua được O&P, Dubai Ports trở thành công ty quản lý bến bốc hàng lớn thứ nhì thế giới, cạnh tranh với công ty Hồng Kông của nhà tỷ phú Lý Khai Thành. Nhưng số thương vụ của O&P ở Mỹ rất nhỏ so với các bến cảng khác trên thế giới của công ty này, trong khi mức lời trong việc khai thác ở Mỹ thì rất thấp so với các nơi khác. Trong năm ngoái, P&O bốc giỡ 15 triệu công hàng khắp nơi mà ở Bắc Mỹ chỉ có 2.4 triệu công, đa số là ở Vancouver, Canada. Công ty Dubai bốc giỡ 33 triệu công hàng trên thế giới, sẽ tăng thương vụ lên gấp rưỡi sau khi mua P&O. Cuối cùng công ty Dubai Ports đã giúp Hành pháp và Lập pháp Mỹ thoát ra khỏi cảnh bế tắc. Ông Edward Bilkey, vị tổng giám đốc người Mỹ của DPW đã tuyên bố sẽ theo lệnh chính phủ Dubai chuyển quyền khai thác các bến cảng ở Mỹ cho một công ty có quốc tịch Mỹ. Một lần nữa, chính trị đã thắng kinh tế, giống như vụ công ty C. Nooc của Trung Quốc bỏ cuộc không mua Unocal. Nhưng đây là một tiền lệ rất xấu, đối với một nước vẫn hô hào tự do mậu dịch.


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:
     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_nuoc_my_chong_tu_do_mau_dich_.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.