Theo VNN - Trần Đức Tường - 08-05-2006
Trong bản dự thảo Báo Cáo Chính Trị của Đại Hội 10 đảng CSVN, ở nhiều đoạn, có đề cập đến vấn đề "kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin" và "công bằng xã hội". Cộng sản chủ trương đấu tranh giai cấp để tạo ra công bằng xã hội. Nhưng cũng chính đấu tranh giai cấp đã gây ra bất công xã hội. Các chế độ cộng sản trên thế giới đã sụp đổ chỉ vì bất công xã hội đã lên tới mức người dân không thể chịu đựng được nữa. Ở Việt Nam hiện nay, bất công xã hội đã và đang là vấn đề bức xúc trong nhân dân. Lo sợ trước một sự vùng lên của quần chúng, đảng CSVN đang nêu lên vấn đề này trong đại hội của họ. Nhưng liệu họ có thể thực hiện được công bằng xã hội hay không khi chính chủ thuyết mà họ tuyên bố kiên trì mâu thuẫn với công bằng xã hội.
Trong bản dự thảo Báo Cáo Chính Trị của Đại Hội 10 đảng CSVN, ở nhiều đoạn, có đề cập đến vấn đề "kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin" và "công bằng xã hội". Cộng sản chủ trương đấu tranh giai cấp để tạo ra công bằng xã hội. Nhưng cũng chính đấu tranh giai cấp đã gây ra bất công xã hội. Các chế độ cộng sản trên thế giới đã sụp đổ chỉ vì bất công xã hội đã lên tới mức người dân không thể chịu đựng được nữa. Ở Việt Nam hiện nay, bất công xã hội đã và đang là vấn đề bức xúc trong nhân dân. Lo sợ trước một sự vùng lên của quần chúng, đảng CSVN đang nêu lên vấn đề này trong đại hội của họ. Nhưng liệu họ có thể thực hiện được công bằng xã hội hay không khi chính chủ thuyết mà họ tuyên bố kiên trì mâu thuẫn với công bằng xã hội.
Trong nhiều năm của thế kỷ trước, giới "trí thức" Âu Tây, nhất là ở Pháp đã "say mê" chủ thuyết Mác-Engels và cho rằng chủ thuyết này là lý tưởng mang tính cách mạng để đem lại một xã hội công bằng không có cảnh "người bóc lột người". Nhưng lịch sử đã chứng minh là chủ thuyết đó đã đưa xã hội loài người vào thảm trạng "bất công" tột độ. Và chủ thuyết đó đã chết vì bị nhân loại vứt bỏ. Các chế độ áp dụng chủ thuyết này đã sụp đổ một cách thảm thương. Nhưng trên thế giới hiện nay, cũng còn một vài nước thuộc loại "cộng sản ăn theo" còn cố gắng duy trì nó vì lợi ích của đảng cầm quyền, bất chấp những tai họa nó mang đến cho Đất Nước. Việt Nam là một trong mấy nước đó. Trong 20 năm qua, đảng cộng sản Việt Nam (CSVN) đã đưa ra chính sách "đổi mới", tức là từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về mặt kinh tế để ôm lấy kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản. Trong Đại Hội 10 của họ sẽ diễn ra trong tháng 4/2006 này, họ khoe khoang những thành tích đạt được trong 20 năm đổi mới và cho đó là công lao, tài cán của lãnh đạo đảng. Nhiều người lạc quan nghĩ rằng, bây giờ là lúc đảng này nên dẹp bỏ hẳn cái chủ nghĩa xã hội là bình phong đi để dễ dàng hội nhập với thế giới. Nhưng, mặc dù có rất nhiều góp ý của những người đã từng phục vụ đảng suốt cuộc đời của họ, đề nghị nên dân chủ hóa xã hội, nên có đa nguyên đa đảng; bản Cáo Cáo Chính Trị đã khẳng định ngược lại là "... kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội...". Văn bản này cũng đề cập đến vấn đề "thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội". Thử tìm hiểu xem chủ nghĩa Mác-Lênin có thể đem lại công bằng xã hội cho VN hay không?
Chủ Thuyết Mác Lênin Và Công Bằng Xã Hội
Tháng 11/1847, Đại Hội lần thứ 2 của "Liên Minh Những Người Cộng Sản" nhóm họp tại Luân Đôn và đã giao cho Karl Marx cùng Friedrich Engels thảo bản "Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản". Đây vừa là bản kêu gọi giai cấp công nhân đứng lên tranh đấu chống giai cấp tư bản, vừa là bản tóm lược chủ trương, đường lối của cộng sản. Câu mở đầu của bản tuyên ngôn này viết: "Lịch sử của mọi xã hội cho đến ngày nay (1) chỉ là đấu tranh giai cấp". Đi từ thực tế lịch sử phát triển xã hội loài người với sự hình thành của các giai cấp, Marx và Engels đã giới hạn cuộc đấu tranh gay gắt giữa giai cấp chủ nhân hay tư bản và giai cấp công nhân hay vô sản. Nhiều người tự nhận là Marxist đã nghĩ rằng Marx chủ trương đấu tranh giai cấp là để xóa bỏ bất công xã hội. Thực chất không phải vậy. Chính Marx đã từng tuyên bố, ông không phải là "người marxist". Rất nhiều người mang danh marxist mà ít đọc Marx hay đọc không hết Marx nên đã có những định kiến sai lạc về Marx. Qua nghiên cứu bản tuyên ngôn của đảng cộng sản và cuốn Tư Bản Luận của Marx, người ta thấy được là Marx đưa ra chủ trương đấu tranh giai cấp không nhằm giải quyết bất công xã hội hay thực hiện công bằng xã hội. Marx chủ trương huy động giai cấp vô sản đứng lên xóa bỏ xã hội đương thời bằng những hành động quyết liệt để nắm chính quyền nhằm xây dựng xã hội cộng sản, xã hội không có giai cấp, xã hội không có chính quyền, xã hội không có cảnh "người bóc lột người", xã hội làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Marx đã viết "Mọi giai cấp muốn thống trị - dù rằng thống trị có điều kiện như trường hợp giai cấp vô sản, xóa bỏ tất cả mô hình xã hội cũ và những hình thức thống trị nói chung - phải trước hết cướp lấy chính quyền..." Cũng theo Marx thì "giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản, có một giai đoạn biến đổi cách mạng từ cái kia sang cái này. Thời gian chuyển tiếp chính trị đó là gì nếu không phải là Nhà Nước cách mạng chuyên chính của giai cấp vô sản".
Từ những giáo điều này, tại Liên Xô và các nước áp dụng chủ nghĩa Mác những tay chúa trùm cộng sản như Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Fidel Castro vv... đã thiết lập ngay nền chuyên chính vô sản và tiến hành thanh toán các giai cấp khác, đứng đầu là giai cấp tư sản. Tuy rằng trong Tuyên Ngôn của đảng cộng sản năm 1847, Marx chỉ nêu ra cuộc đấu tranh một mất một còn giữa hai giai cấp là Tư sản và vô sản. Nhưng trong thực tế thiết lập nền chuyên chính vô sản, đảng cộng sản đã coi tất cả những giai cấp không phải giai cấp công nhân vô sản đều là thù nghịch. Đó là các giai cấp địa chủ, điền chủ, trí thức, nghệ thuật, thương buôn vv... Cộng sản tiêu diệt các giai cấp thù nghịch đã đành; nhưng gia đình con cái thuộc các giai cấp này cũng bị đòn chuyên chính vô sản đánh đến không ngóc đầu lên được.
Kinh nghiệm ở Việt Nam cho thấy, với khẩu hiệu "Trí, Phú, Địa, Hào: Đào tận gốc, trốc tận rễ", biết bao gia đình đã là nạn nhân của cuộc "cải cách ruộng đất" bất nhân và đẫm máu trong thập niên 50 của thế kỷ trước. Sau khi chiếm được miền Bắc năm 1954 và cả nước năm 1975, CSVN lại áp dụng đúng bài bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Những người thuộc chính quyền cũ đã bị tù đày, cải tạo hàng chục năm. Những nhà tư sản đã bị nhiều đợt "cải tạo tư sản tư doanh" đánh cho tay trắng, đánh cho tàn mạt... Những giai cấp đối tượng của cách mạng vô sản và gia đình của họ đã không còn chỗ đứng trong xã hội. Một chính sách kỳ thị dã man đã được mang ra áp dụng đối với họ. Nhà cửa, tài sản, cơ sở sản xuất của họ bị tịch thu. Họ không có hộ khẩu trong thành phố và bị đuổi đi đến những vùng gọi là "kinh tế mới" xa xôi nơi rừng thiêng nước độc... Con em họ không được đi học. Chúng bị xếp vào những tiêu chuẩn thấp nhất trong các kỳ thi tuyển vào đại học, cao đẳng... Đúng là tập đoàn cộng sản phi nhân đã đào tận gốc, trốc tận rễ các giai cấp mà chúng coi là thù địch.
Trên thực tế, ngay trong nội bộ của đảng CSVN, nhất là dưới thời bao cấp, bất công đã hiện hữu giữa cán bộ, đảng viên với nhau. Cán bộ, đảng viên có quyền cao, chức trọng đều có tiêu chuẩn cao hơn cán bộ, đảng viên cấp thấp cả về nhà ở, lương thực, thực phẩm, dịch vụ, sinh hoạt, giáo dục y tế... Điển hình là có những bệnh viện dành cho cán bộ có một mức lương tối thiểu nào đó; dưới mức lương đó, dù là đảng viên cũng không có quyền vào điều trị. Tại các bệnh viện này, thuốc men và các phương tiện trị liệu hơn hẳn các bệnh viện dành cho cán bộ cấp thấp và cho nhân dân. Tại các cửa hàng bách hóa, không phải mọi cán bộ, đảng viên đều được phép mua những hàng hóa cao cấp. Từ những ưu đãi này, đời sống của cán bộ cao cấp trở nên khá giả hơn cán bộ cấp dưới. Đã không có sự công bằng trong nội bộ đảng thì làm sao có công bằng ngoài xã hội, nhân dân?
Nếu trong quá trình lịch sử phát triển xã hội với sự hình thành các tầng lớp hay giai cấp xã hội do khả năng và thành quả lao động của từng nhóm thành viên của xã hội, thì dưới chủ nghĩa xã hội, quyền lực đã là yếu tố quyết định giai tầng trong xã hội. Không cần phải nhất nghệ tinh, không cần có trình độ học vấn cao, chỉ cần là đảng viên và được ở vào những chức vụ lãnh đạo thì đương nhiên quyền lợi và của cải có nhiều hơn người khác. Cũng vì thế mà Marx đã không đếm xỉa tới công bằng xã hội mà chỉ muốn huy động giai cấp vô sản tiêu diệt tất cả những giai cấp khác, đặc biệt là giai cấp tư sản để cướp lấy của cải, phương tiện sản xuất về trong tay giai cấp vô sản mà đảng cộng sản tự nhận là đại diện cho giai cấp này.
Bất Công Xã Hội Tại Việt Nam
Sau khi khối cộng sản thế giới, đứng đầu là Liên Xô sụp đổ rồi tan biến kéo theo sự phá sản của chủ nghĩa Mác Lênin, cộng sản Hà Nội đã lo sợ làn sóng dân chủ tự do sẽ lan tới Việt Nam. Họ đã đối phó kịp thời bằng cách từ bỏ con đường kinh tế XHCN chỉ mang lại nghèo đói và gây nhiều bất công xã hội để chạy theo kinh tế thị trường kiểu tư bản. Được tháo cũi, sổ lồng, nhân dân ta đã mau chóng đưa nền kinh tế đi lên. Nhưng, bộ máy cầm quyền vẫn không thay đổi. Vẫn những con người cộng sản, với tư duy cộng sản thống trị các giai cấp khác chuyển sang điều khiển nền kinh tế tuy gọi là thị trường, nhưng thật ra là nền kinh tế hoang dã. Hai mươi năm qua, như đã nói ở trên, những con người cộng sản này đã trở thành các đại gia, trọc phú, không nhờ ở khả năng và thành tích lao động hay sản xuất của mình, mà ỷ vào quyền thế để một mặt bóc lột nhân dân, một mặt biển thủ công quỹ mà hầu hết là tiền vay mượn của nước ngoài.
Về quyền lợi vật chất thì hiện nay, những người CSVN tự phong là đội ngũ tiền phong của giai cấp công nhân, của giai cấp vô sản, đã trở thành những "tư bản đỏ" giàu có nhất nhì thế giới. Trong lúc GDP đầu người ở Việt Nam là khoản 535 Mỹ kim một năm và công nhân đang phải đình công để tranh đấu đòi mức lương 50 Mỹ kim một tháng thì có cán bộ cộng sản cầm quyền, cờ bạc, cá độ và thua đến 7 triệu đô la Mỹ(!). Hồi tháng 11/2005, báo Tiền Phong có đăng một bài nhan đề "Dân chơi Hà thành và những chiếc xe bạc tỷ", trong đó ký giả đã làm một thiên phóng sự nhỏ, theo dõi những chiếc xe ngoại quốc đắt tiền chạy trên đường phố Hà Nội. Bài báo viết: "Những chiếc Murano "nhập cảnh" Hà Nội sớm nhất là vào tháng 1/2005 và mới đây nhất là vào tháng 8/2005". Riêng đối với chiếc Murano mang bảng số 29V-77 tờ báo cho biết "Trên sổ sách có giá suýt soát tỷ bạc (VN). Nhưng giá thị trường, chúng được chào mua 125.000 USD đến 130.000 USD (khoảng 2 tỷ đồng). Murano là loại xe hai cầu đã rất được ưa chuộng tại thị trường Mỹ, và một số nước phát triển". Ngoài ra bài báo còn liệt kê những hiệu xe đắt tiền khác như Lexus GX 470 hai cầu dã chiến 8 chỗ, động cơ 4.6 lít; BMW sêri 7 như: BMW 745, 760, những chiếc xe này có giá từ 145.000 đến 150.000 USD (2,3 tỷ đồng); Mecedes phân khối lớn như dòng S500, S600 với giá lên đến 160.000 USD (2,5 tỷ đồng); Hummer mới giá 180.000 USD (3 tỷ đồng), tuy nhiên những chiếc xe Hummer không cũ có giá khoảng 145.000 USD... Bài báo đã đặt câu hỏi: "Chủ nhân xe hàng hiệu: Họ là ai?" và đưa ra câu trả lời: "Họ phải là người nhiều tiền... Xe hơi không chỉ phản ánh sự giàu có của gia chủ mà nó còn phản ánh cá tính, địa vị xã hội và thậm chí là nghề nghiệp của chủ sở hữu:... các "quý tử" của một số đại gia cỡ bự, một số quan chức...".
Trên đây chỉ là hai ví dụ điển hình. Điển hình nữa là trong lúc nhân dân lao động ở thành thị cũng như ở nông thôn, nhà tranh vách đất, giột nát, chật hẹp thì cũng có những người ở trong những biệt thự hoành tráng một cách hỗn xược, coi thường dư luận, khinh mạn quần chúng. Sự phân liệt giầu nghèo đã trở nên bức xúc đến tột độ: Người thì đổ mồ hôi, sôi nước mắt không kiếm đủ đồng tiền nuôi sống bản thân, nuôi sống gia đình, cho con cái đi học. Kẻ thì có thể bỏ ra 7 triệu đô la để vui chơi cờ bạc, bao gái, đàng điếm; kẻ thì bỏ hàng tỷ bạc ra chơi xe hơi sang trọng. Bất công xã hội tại Việt Nam đã đạt đến mức không ai có thể chấp nhận được. Người dân lao động bất mãn đã đành, các quốc gia viện trợ cho Việt Nam cũng phẫn nộ. Tờ báo điện tử Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số ra ngày chủ nhật 19/3/2006 đã viết "Tại phiên bế mạc Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho VN tháng 12-2005, nguyên điều phối viên và đại diện thường trú của UNDP (Chương trình Phát triển của LHQ), Jordan Ryan, đã phát biểu: "Những chính sách nhất quán là cần thiết để kiềm chế bất bình đẳng đang tăng lên và làm xói mòn khối đoàn kết xã hội và chống lại những quyền cơ bản của người dân VN". Thái độ của nhân dân lao động Việt Nam đã thấy rõ nét qua các cuộc đình công khổng lồ quy tụ cả trăm ngàn anh chị em công nhân trong thời gian vừa qua. Thái độ của nước tài trợ cho Việt Nam cũng được thể hiện bằng cách hoãn giải ngân cho tới quý 1/2006 số tiền hứa giúp Việt Nam là 3,7 tỷ Mỹ kim.
Trước áp lực nhân dân và quốc tế, cộng sản Hà Nội đang ở thế bắt buộc phải đối phó với vấn đề bất công xã hội. Tuy rằng họ trung thành với giáo điều của tổ sư Karl Marx của họ, không đếm xỉa đến công bằng xã hội nhưng ngoài miệng họ không ngớt thốt ra những lời nhân nghĩa như: "thực hiện bằng được mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Đạt tới mục tiêu này bằng cách nào? Hiện nay, mặc dù những con số về tăng trưởng của Việt Nam được coi là những con số cao nhất trong vùng, Việt Nam vẫn bị liệt vào hàng các quốc gia nghèo khổ nhất thế giới và CSVN vẫn tiếp tục cầu xin viện trợ từ các nước phát triển ở Âu Mỹ. Nếu nước mạnh thì cộng sản Hà Nội đâu có e sợ Bắc Kinh đến phải dâng biển, hiến đất cho họ? đến phải nhẫn nhục để cho hải quân Trung Cộng bắn giết ngư dân Việt Nam ngay trong lãnh hải của mình?... Dân chủ thì từ người Việt đến quốc tế đều cho là không có. Còn xã hội công bằng thì như đã thấy phần nào. Nhưng thiết tưởng cũng nên tìm hiểu CSVN làm sao để thực hiện mục tiêu "xã hội công bằng"?
Từ nhiều năm nay, CSVN đã đưa ra kế hoạch "xóa đói giảm nghèo". Nhớ lại, khi chưa cướp được chính quyền, cộng sản chủ trương hô hào giai cấp vô sản đứng lên làm cách mạng, thiết lập nền chuyên chính vô sản, tiêu diệt cách giai cấp khác, nhất là giới tư sản. Nhưng nay, cộng sản đang ở trên chính quyền, họ không thể chấp nhận để nhân dân làm "cách mạng" vì chính họ sẽ bị tiêu diệt. Vì vậy, họ đưa ra chính sách thoa dầu trên bướu ung thư. Họ đã đưa ra kế hoạch gọi là "chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo". Theo báo cáo chính thức của Bộ Lao Động-Thương binh Xã Hội của cộng sản Hà Nội thì tính "đến cuối năm 2003, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 17,18% (2001) xuống còn 11,86%". Phương thức xóa đói giảm nghèo cộng sản Hà Nội đang tiến hành cũng chỉ là "cứu tế" người nghèo. Tức là không trị bệnh đói nghèo từ gốc rễ mà chỉ trị triệu chứng trên ngọn mà thôi. Vấn đề là làm sao cho người dân nghèo thấy được "nguyên nhân tại sao họ nghèo đói?'. Câu trả lời rất đơn giản mà người dân và thế giới đều biết. Đó là: "Chính chế độ XHCN của CSVN là nguyên nhân của tình trạng nghèo đói" tại Việt Nam. Sự thật hiển nhiên như vậy; nhưng tại Đà Nẵng hồi tháng 9/2003, Nông Đức Mạnh, người đứng đầu đảng CSVN lại nói với cán bộ địa phương rằng: "Dân đói, dân nghèo, lỗi phần nhiều là do các đồng chí...". Thực tế, lỗi làm dân đói, dân nghèo là do cả hệ thống đảng và Nhà Nước CSVN chứ không riêng gì cán bộ địa phương.
Hà Nội đưa ra chính sách xóa đói giảm nghèo không phải để nâng cao đời sống của nhân dân. Họ chỉ cốt ý kêu gọi viện trợ quốc tế. Nguồn viện trợ này đã bị bọn tham quan của chế độ đục khoét khiến các quốc gia tài trợ đông lạnh nhiều chương trình dẫn đến các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng tạo công ăn việc làm cho người lao động bị phá hoại. Vì vậy, bao lâu chế độ XHCN tồn tại thì bất công xã hội sẽ còn kéo dài.
Nguyên Nhân Bất Công Xã Hội Tại Việt Nam
Người ta đều biết là trong quá trình phát triển xã hội loài người, do khả năng trí tuệ cũng như thể chất của mỗi con người, của tập thể những con người mà đã hình thành các tầng lớp hay giai cấp trong xã hội. Các giai tầng này không ngang bằng nhau mà được tổ chức theo tầng cấp vì thế gọi là giai cấp. Mỗi giai cấp đều có tiềm lực và tính năng động của nó. Lịch sử cho thấy có những giai cấp mạnh hơn các giai cấp khác và trở thành giai cấp lãnh đạo xã hội. Sự mạnh yếu này cũng tùy theo sự phát triển của xã hội và tùy theo thời gian. Dưới thời đại sơ khai thì tầng lớp kẻ mạnh đã làm bá chủ. Đến thời phong kiến thì giai cấp lãnh đạo là lãnh chúa, triều đình, quý tộc vv... Sau cuộc cách mạng kỹ thuật, chế độ phong kiến cáo chung thì giai cấp tư sản đã vượt lên... Sự chuyển biến từ thời đại trước chuyển sang thời đại sau thường trải qua một cuộc cách mạng. Trong lịch sử xã hội loài người từ xưa cho tới nay vì quyền lợi của từng giai cấp mà không ngừng có những cuộc đấu tranh giai cấp.
Trước khi có Marx thì đã có những đấu tranh, những xung đột giữa các giai cấp trong một xã hội. Chính Marx, trong bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản năm 1847 đã viết: "Giai cấp tư sản đã đóng một vai trò cách mạng nổi bật". Đương nhiên là trong xã hội có giai cấp thì có sự bóc lột, có bất công xã hội. Nhưng những đấu tranh hay cạnh tranh này không phải là đấu tranh một mất một còn như Marx đã quan niệm khi ông ta cho rằng giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là kẻ thù không đội trời chung. Marx quan niệm là giai cấp vô sản làm cách mạng lật đổ xã hội cũ lên nắm chính quyền thì sẽ tổ chức xã hội theo mô thức cộng sản, tức là không còn giai cấp, không còn Nhà Nước, không còn bóc lột và sẽ chấm dứt đấu tranh giai cấp. Lịch sử cho thấy từ Liên Xô cho đến các nước cộng sản chư hầu Đông Âu hay ở Việt Nam, không nơi nào đã xảy ra tiến trình cách mạng vô sản như Marx đã nói, cũng không nơi nào chủ nghĩa tư bản phát triển tột độ rồi giẫy chết như tuyên truyền cộng sản. Mọi chế độ cộng sản trên trái đất này trong thế kỷ trước đều được thiết lập qua tiến trình bạo lực chiến tranh. Người dân ở các nước này đã bị áp đặt chế độ XHCN.
Khi nắm được độc quyền cai trị, thiết lập nền chuyên chính vô sản, tức là độc tài cộng sản, thì thật sự đã diễn ra một sự thay ngôi, đổi chủ. Một đám người tự nhận là giai cấp vô sản hay giai cấp công nhân đã trở thành chủ nhân ông của cả nước, thâu tóm trong tay mọi tài nguyên, mọi tư liệu sản xuất. Và không những các giai cấp thù nghịch mà còn toàn thể xã hội đã trở nên nô lệ bị chính quyền "cách mạng" bóc lột. Bất công xã hội lại diễn ra.
Trong lúc tại các nước mà cộng sản gọi là các nước tư bản thì những biến chuyển của xã hội không diễn ra như Marx đã nói. Tư bản đã không chết. Trái lại còn phát triển. Marx đã không biết gì về một sự năng động của xã hội tư bản chủ nghĩa, của đấu tranh giai cấp. Giai cấp chủ nhân và giai cấp công nhân đều nhận rõ là cả hai phía đều cần đến nhau, nên dù có tranh chấp họ cũng thấy không thể nào loại bỏ đối phương. Dù có đấu tranh thế nào thì cũng phải đi đến thương thảo, trong tinh thần thượng tôn luật pháp.
Vậy luật pháp đến từ đâu? Luật pháp đến từ một thể chế dân chủ đa nguyên. Chính quyền không dành riêng cho một giai cấp nào cả. Trong Quốc Hội, có những dân biểu, nghị sĩ thuộc giai cấp lao động, trí thức, chuyên gia, nghệ sĩ vv... Vì vậy Hiến Pháp, Luật Pháp không dành ưu tiên hay độc quyền cho một đảng phái, một giai cấp nào cả.
Chính luật pháp đã là khí cụ để điều hòa công bằng xã hội qua chính sách thuế khóa. Mọi người dân, từ người nông dân đến ông tổng thống đều không trốn được thuế. Người có lợi tức nhiều thì phải đóng thuế nhiều. Người có lợi tức ít thì đóng ít hay được miễn giảm. Chính sách thuế khóa không chỉ nhằm thu tài chánh cho ngân sách quốc gia mà còn để điều hòa công bằng xã hội. Đương nhiên là người làm việc nhiều, người làm những việc có hiệu năng cao thì lương bổng cao. Nhưng sau khi đóng thuế thì sự chênh lệch thu nhập không còn quá lớn.
Như vậy có thể nói là bất công xã hội chỉ có thể giải quyết bằng một nền dân chủ đích thực.
Ở Việt Nam ta, thời xưa cũng có những giai cấp. Nhưng vì nước ta vốn là một nước nông nghiệp với tỷ số dân chúng trên 80% là nông dân. Dân tộc ta cũng là một dân tộc trọng sự học và gia đình nào cũng cố gắng đầu tư cho con cái đi học. Thành công hay không là chuyện khác. Về công nghiệp thì chủ yếu chỉ là tiểu công nghệ với các nghệ nhân chứ không có giai cấp công nhân, giai cấp vô sản như trong sách vở cộng sản. Ngoài ra cũng có một số người Việt Nam làm nghề buôn bán. Bốn giai cấp chính của Việt Nam là sĩ, nông, công thương. Bốn giai cấp này của Việt Nam không hề thù nghịch nhau. Dân ta có câu: "Nhất sĩ nhì nông. Hết gạo chạy rong, nhất nông nhì sĩ".
Ở một nước thuộc địa, nông nghiệp, kém mở mang mà rước cái chủ nghĩa ngoại lai xây dựng trên đấu tranh giai cấp, cách mạng vô sản là một sự sai lầm, ngu muội vĩ đại. Thiết lập chế độ độc tài cộng sản với bộ máy cai trị tham nhũng, cửa quyền bao gồm quan chức vô nhân cách, tham lam, ngu dốt, gây nên cảnh bất công xã hội chưa từng thấy tại nước ta. Đây không còn là sai lầm, ngu muội nữa mà là tai họa, là trọng tội đối với dân tộc và lịch sử Việt Nam.
Nguyên nhân của tình trạng bất công xã hội, bất bình đẳng chính trị ở Việt Nam là do không có một nền dân chủ đa nguyên, đại diện cho toàn dân, cho mọi giai cấp trong xã hội Việt Nam.
Kết Luận
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã là tai họa của thế giới trong thế kỷ qua. Nó còn tiếp tục là thảm họa cho dân tộc Việt Nam vì đảng cộng sản khẳng định kiên trì chủ nghĩa này để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người Việt Nam xa quê về thăm, du khách tới Việt Nam du lịch đều than phiền về tình trạng xã hội tại Việt Nam. Chính quyền thì thối nát. Không có một cán bộ, quan chức nào trong guồng máy cai trị mà không có tỳ vết tham nhũng, biển thủ. Những vụ án lớn đều liên quan đến tham nhũng của các quan chức cộng sản. Vụ PMU 18 (Project Management Unit = Đơn vị quản lý dự án), vụ Xăng Dầu, và còn biết bao vụ khác. Thêm vào đó, đảng CSVN tự nhận đại diện cho giai cấp công nhân đã cấu kết với tư bản quốc tế trong các xí nghiệp FDI (Foreign Direct Investment) phản bội công nhân, bóc lột công nhân khiến hàng trăm ngàn công nhân phải tự động, tự phát đình công tranh đấu cho quyền lợi của mình. Chính quyền CSVN đang tiến hành cướp đất của dân một cách quy mô. Đơn khiếu nại, tố cáo lên đến hàng chục vạn tờ, chất cao như núi. Những người lao động đã hết sức bất mãn vì lối sống phè phỡn của bọn quan chức cộng sản hưởng thụ trên đau khổ của đồng bào.
Nếu có cần một cuộc cách mạng, một cuộc đấu tranh giai cấp giữa nhân dân lao động Việt Nam và bọn chủ nhân ông cộng sản đang sống vương giả như những tên tư bản đỏ ác ôn nhất, thì bây giờ là lúc nhân dân ta hãy đoàn kết lại, đứng lên làm cách mạng để giải phóng đất nước Việt Nam khỏi tập đoàn cộng sản bóc lột ăn bám, giành lấy quyền sống, giành lấy chính quyền để xây dựng một nền dân chủ đích thực cho Đất Nước.