Ông Trùm Tình Báo

Theo VNN - Nguyễn Anh Tuấn - 18-05-2006

Khi ông Porter J. Goss bất ngờ xin từ nhiệm chức vụ tổng giám đốc Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA) vào cuối tuần trước, ông mới thấy rằng, giống như những vị tiền nhiệm, cái vai trò và trách nhiệm của chức vụ này quả thật quá to lớn và rắc rối, gây hoang mang không ít cho những người nắm giữ trọng trách. Chẳng thế mà Tổng thống Dwight D. Eisenhower, khi bình phẩm về vai trò này, đã từng nhận xét: "Đây là một trong những hoạt động kỳ dị khác thường nhất của một chính quyền, và có lẽ vì thế nó đòi hỏi phải có một nhân vật kỳ lạ xuất chúng để có thể điều hành được."

Tuy mang danh hiệu của một cơ quan (agency) riêng biệt ngang tầm với một tổng nha, nhưng lại không trực thuộc một bộ nào, người đứng đầu cơ quan này thật ra mang hàm và có vị thế như một vị tổng trưởng trong nội các của chính quyền Hoa Kỳ, được tham dự trong các buổi họp thường xuyên ở cấp tổng trưởng, cũng như là một thành viên chính trong Hội đồng An ninh Quốc gia, và có nhiệm vụ tường trình mỗi ngày trực tiếp lên tổng thống Mỹ với các bản tường trình DPB (Daily Presidential Briefing) về tình hình an ninh của Hoa Kỳ cũng như những tin tức tình báo mới nhất trên thế giới.

Đây là một chức vụ tạo ra nhiều huyền thoại nhất, về một nhân vật đứng đầu một cơ quan tình báo quyền lực nhất, với đầy đủ dụng cụ điện tử tinh vi và phương tiện tân kỳ để thu thập đủ mọi tin tức tình báo bí mật nhất trên thế giới - thậm chí có lẽ liên quan đến cả những chi tiết vụn vặt về sinh hoạt của đủ mọi lãnh tụ khắp nơi trên địa cầu - và do đó khiến cho mọi người phải kiêng nể, thậm chí kể cả tổng thống Mỹ, vì không biết rõ họ đang nắm giữ những bí mật riêng tư nào của mình. Độc giả thường xuyên của hai nhà văn nổi tiếng ăn khách nhất tại Hoa Kỳ là John Grisham và Tom Clancy đều thấy trong các tác phẩm truyện dài của họ thường có hình ảnh của hai ông trùm tình báo (CIA) và công an (FBI) nắm giữ những chức vụ chóp bu này trong nhiều năm, kéo dài qua nhiều thời kỳ tổng thống, và được hiểu như là những nhân vật kỳ bí xuất chúng với tài năng và kiến thức đặc biệt hơn người, không ai có thể thay thế được. Trong làng sách báo Việt Nam trước năm 1975, hình ảnh kỳ bí như huyền thoại đó cũng đã được mô tả khá hấp dẫn về một ông tổng giám đốc (Cụ Hoàng) trong loạt truyện trinh thám ăn khách về điệp viên Z-28 Tống Văn Bình của tác giả Người Thứ Tám. Trong thực tế, các vị này vẫn thường bị cho về vườn bởi áp lực trực tiếp hay gián tiếp từ người đứng đầu ở Toà Bạch -c. Từ ngày được chính thức thành lập vào năm 1947 đến nay, đã có đến 18 vị tổng giám đốc đứng đầu cơ quan CIA đã được tuyển chọn hay sa thải bởi các vị tổng thống khác nhau.

Hoạt động tình báo thật ra đã có từ rất lâu, chứ không phải chỉ mới phát triển sau này, nhất là trong địa hạt quân sự, khi mà các tướng lãnh chỉ huy của các bên giao chiến đều phải chú ý đến tin tức tình báo của đối phương, để có thể tiên liệu về sự thành công của những chiến dịch hành quân mà phe mình sẽ thực hiện. Theo mô thức của quân đội và chính quyền Pháp, và sau này được áp dụng dưới chính thể Việt Nam Cộng Hoà, ngành tình báo được xếp vào Phòng Nhì hay Ban Hai, có lẽ quan trọng chỉ đứng sau Phòng hay Ban III (tức là Tham Mưu). Đối với quân đội Mỹ, thứ tự quan trọng này cũng không thay đổi, vì hầu hết các sĩ quan cao cấp đều ước muốn được giao trọng trách điều khiển quân binh thay vì những chức vụ đặc trách việc thu lượm tin tình báo. Theo lời nhận xét của ông Thomas Powers, một sử gia về tình báo và cũng là tác giả cuốn sách "The Man Who Kept the Secrets" nói về ông trùm CIA nổi tiếng Richard Helms, thì việc Hoa Kỳ muốn thiết lập một cơ quan tình báo trung ương dưới sự điều hành của một nhân viên dân sự biệt lập với quân đội là vì chính phủ muốn thoát ra khỏi tình trạng thấy các công tác tình báo bị xem thường bởi các tướng lãnh tư lệnh chiến trường. Theo ông Powers, thì "những sĩ quan cao cấp nào được giao trọng trách về tình báo thường rất khó khăn để có thể kiếm được một ngôi sao trên cổ áo để trở thành tướng lãnh".

Lý do chính quan trọng nhất để thành lập cơ quan CIA - trước đó những nhân viên tình báo trong quân đội Mỹ phục vụ trong tổ chức OSS - là để mong tránh khỏi một trong những thất bại lớn lao nhất về tình báo trong lịch sử của Hoa Kỳ lúc bấy giờ: đó là đã không trù liệu được, cho dù đã có rất nhiều dấu hiệu khả nghi, về cuộc tấn công vũ bão và bất ngờ của quân đội Nhật gây thiệt hại nặng nề cho Hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào năm 1941. Lịch sử phải chăng đã lập lại vào gần 60 năm sau khi giới tình báo Hoa Kỳ cũng gặp phải một thất bại to lớn và khủng khiếp không kém là vụ tấn công bất ngờ và ngoạn mục (cho dù rất tàn nhẫn) của một nhóm dân Hồi-giáo quá khích với vũ khí thô sơ là những con dao nhỏ nhưng cộng với lòng cương quyết cuồng tín và quyết tử nên đã gây kinh hoàng đến gần như bó tay bất lực không phản ứng kịp đối với một đại siêu cường giầu mạnh nhất trước những vụ nổ bom khủng bố vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Có lẽ cũng vì sự thất bại thê thảm đó, không phải chỉ có trách nhiệm của CIA, mà còn của nhiều cơ quan khác như FBI, và cũng của nhiều viên chức cao cấp nhất từ Cố vấn An ninh Quốc gia Condoleezza Rice cho đến TT Bush - vốn đã từng nhận được những báo cáo tình báo nói rõ là tổ chức al-Qaeda đang nghiên cứu về kế hoạch không tặc nhưng rồi cũng không có những biện pháp tức thời để tăng cường mức đề phòng cẩn mật - mà chính phủ Mỹ cũng đã tìm cách cải thiện hệ thống thu lượm và phối hợp tin tức tình báo và an ninh bằng cách tạo ra một chức vụ mới là Tổng Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia (Director of National Intelligence) có nhiệm vụ phối hợp tất cả khoảng 16 cơ quan tình báo và an ninh khác như CIA, FBI, NSA, IDA v. v... Liệu việc này có giúp đem lại niềm tin cho người dân hay không, và sẽ được kéo dài trong bao lâu? Có lẽ nhiều người sẽ vẫn còn tiếp tục lo âu, vì sẽ bị tiếp tục ám ảnh bởi quan niệm lịch sử là một sự tái diễn?

Trong chức vụ lãnh đạo một cơ quan vừa mới được thiết lập lúc đó, ông tổng giám đốc CIA, nếu gọi một cách bình dân hơn là "ông trùm tình báo", hay "ông trùm Xịa", có nhiệm vụ thu lượm tất cả mọi tin tức về quân sự và ngoại giao trên thế giới từ mọi cơ quan của chính phủ Mỹ. Trong hội đồng nội các, ông có vai trò như là một uỷ viên đặc trách về tình báo, để báo cáo lên vị chủ tịch là tổng thống, với nhiệm vụ bảo vệ cho quốc gia Hoa Kỳ không còn bị một cuộc tấn công bất ngờ nào khác, cho dù đến từ phía xa. Dĩ nhiên, lịch sử sau đó đã chứng minh rằng những diễn tiến đã không phải lúc nào cũng xảy ra giống như nhiều người trù liệu hay tiên đoán. Đệ Nhị Thế Chiến vừa mới chấm dứt chưa lâu, những kẻ đại thù cũ của Hoa Kỳ là Đức và Nhật không còn là một mối lo quan trọng nữa, mà đồng minh cũ là Liên Sô lại bỗng trở thành mối hiểm hoạ lớn nhất với tham vọng làm bá chủ hoàn cầu dưới chính thể cộng sản đại đồng. Sứ mạng của CIA từ đó bỗng quay sang một ngõ rẽ khác. Các hoạt động tình báo của CIA đều nhắm vào mục đích lọt được qua Bức Màn Sắt để biết được những gì đã và đang xảy ra trong lòng phía đối phương. Cùng lúc đó thì CIA cũng tung ra nhiều hoạt động hay chiến dịch bí mật khác tại nhiều quốc gia khác nhau trong mục đích thay đổi thế giới theo chiều hướng thuận lợi hơn cho quyền lợi của Hoa Kỳ, hay ít ra là cũng không có hại cho nước Mỹ. CIA cũng thường được biết đến là xen lấn sâu vào nội bộ của chính quyền các nước nhược tiểu để khuynh loát sinh hoạt chính trị tại các nước đó đi theo chiều hướng và ý muốn của các chiến lược gia tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, bằng nhiều hình thức khác nhau vừa mua chuộc bằng đô-la và quyền hành, vừa dùng sức mạnh uy hiếp như lật đổ, ám sát v.v... những ai cứng đầu không chịu tuân theo. "Bàn tay lông lá" của CIA có mặt khắp nơi trong các sinh hoạt chính trị địa phương đã tạo nên một huyền thoại hư hư thực thực khiến cho mọi người đều đâm ra nghi ngờ lẫn nhau, điển hình như tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam trước ngày 30-04-1975. Thậm chí, đến ngay như ông Nguyễn Văn Thiệu, cựu tổng thống thời Đệ Nhị Cộng Hoà, một lãnh tụ được coi như là chỉ biết tuân theo các chỉ thị của Hoa Kỳ để mong được giữ chức tổng thống và không bị đảo chính như người tiền nhiệm là Ngô Đình Diệm, sau này cũng đã phải thú nhận rằng mọi hành vi của ông ở trong Dinh Độc Lập (phủ tổng thống) đều bị tai mắt của CIA theo dõi, và chung quanh ông những phụ tá thân cận như các ông tướng Trần Văn Khiêm, Đặng Văn Quang v.v. không biết ai là người "ăn tiền của Mỹ" để theo dõi ông có thay đổi ý kiến hay dấu giếm những điều gì đối với quan thầy Mỹ.

Từ khởi thuỷ, ông trùm tình báo kiêm nhiệm một lúc nhiều vai trò rộng lớn khác nhau, vừa coi như là chủ biên một hệ thống thông tin kỳ bí, vừa là một vị tướng chỉ huy một đạo binh bí mật, vừa nắm giữ chức tổng giám đốc cơ quan thu lượm tình báo trung ương và cũng đồng thời là chủ tịch hội đồng điều hành một hệ thống tình báo và an ninh liên hệ trong cơ cấu công quyền và quân đội của Hoa Kỳ, bao gồm khoảng 100,000 nhân viên rải rác ở 16 cơ quan khác nhau. Công việc điều hành một "cộng đồng tình báo" cấu trúc theo mô hình kỳ lạ đến gần như không tưởng hay mâu thuẫn đó, đã trở thành khó khăn đến mức gần như không thể thực hiện được. Hay ít ra, theo như lời thú nhận của ông Goss, nó đã "quá to lớn vượt qua khỏi khả năng điều khiển của một cá nhân".

Sơ Lược Lịch Sử Các Ông Trùm CIA

Ba ông tổng giám đốc đầu tiên, Sidney Souers, Hoyt Vanderberd và Roscoe Hillenkoetter, từ đầu năm 1946 đến năm 1950, đều có thời gian phục vụ rất ngắn và cũng không có để lại thành tích gì đặc biệt hay đang nhắc tới, kể cả trong tiểu sử chính thức của cơ quan này. Người thứ tư là Tướng Walter B. Smith thì đã tỏ ra thất kinh khi thấy rằng các nhân viên của mình đã không tiên liệu được diễn tiến của cuộc chiến tại Triều Tiên khiến cho quân đội Mỹ phải tốn hao thêm nhân mạng và tài của khá lớn mặc dù chỉ vừa mới giành được chiến thắng cũng như thoát ra khỏi được sự dấn thân đầy tốn kém trong cuộc Đệ Nhị Thế Chiến vài năm trước đó.

Ông trùm tình báo sau đó là một nhân vật được nhiều người biết đến, đó là Allen Dulles, nắm giữ cơ quan này trong một thời gian dài hơn 8 năm, nhưng về sau lại bị chỉ trích bởi chính vị tổng thống đã đề cử mình, ông Eisenhower, với lời chê rằng ông đã "lãnh một cú thất bại dài 8 năm" trong cuộc tranh đấu để khiến cho CIA có thể cung ứng những tin tức tình báo đáng tin cậy. Dưới thời kỳ của ông Dulles, CIA tăng cường các hoạt động bí mật tại nhiều quốc gia khác nhau, cùng lúc với việc phát triển các máy bay và vệ tinh do thám. Ông cũng chính là người chủ trương chiến dịch đổ bộ tại Vịnh Con Heo (Bay of Pigs), phối hợp lực lượng quân đội và tình báo Mỹ với các nhóm dân quân Cuba tị nạn tại Mỹ quyết định hồi hương để mong lật đổ chế độ cộng sản của lãnh tụ độc tài Fidel Castro. Cuộc đổ bộ gặp thất bại nặng, và ông Dulles đã bị Tổng thống John Kennedy thay thế vào cuối năm 1961.

Vị tổng giám đốc mới, ông John McCone, sau đó không lâu cũng bị vị tổng thống khác là Lyndon Johnson không còn tin dùng nữa khi ông bắt đầu đưa ra những báo cáo phân tích không mấy lạc quan về cuộc chiến tại Việt Nam. Ông McCone là một trong số rất ít những nhân vật chính quyền cao cấp có những tiên đoán bi quan về sự tham chiến của quân đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam ngay từ những ngày đầu. Ông đã từng khuyến cáo TT Johnson rằng việc gia tăng cường độ các chiến dịch dội bom tại miền bắc Việt Nam rồi sẽ khiến cho công luận thế giới quay sang chống lại với Hoa Kỳ. Sau thời gian kế nhiệm ngắn ngủi vào năm 1965 của ông William Raborn Jr, người kế tiếp là ông Richard Helms, lên nắm quyền từ tháng 6-1966 đến đầu năm 1973, sau đó cũng bị một vị tổng thống khác là Richard Nixon bất tín nhiệm sau này khi ông từ chối không chịu bao che một số những hành vi phạm tội của đàn em ông Nixon và đảng Cộng Hoà trong vụ xì-căng-đan Watergate.

Ông Helms được hầu hết mọi người kể cả những vị lên kế nhiệm sau này coi như là vị tổng giám đốc lẫy lừng tài ba nhất đã từng điều khiển cơ quan này. Tuy nhiên, ông cũng đã nhận định về sự cách biệt thiếu liên lạc khá trầm trọng giữa Toà Bạch -c và cơ quan CIA. Trong một cuốn hồi ký tự thuật xuất bản vào năm 2002 sau khi ông đã qua đời, ông Helms cho rằng không có một vị tổng thống Mỹ nào, ngoại trừ có lẽ cựu TT Bush bố, đã từng làm tổng giám đốc CIA một thời gian ngắn trong năm 1976, có tí ti kiến thức gì về những chiến dịch bí mật trong ngành tình báo, từ lúc lập kế hoạch cho đến thi hành.

Lời chỉ trích khá nặng nề này của ông Helms sau đó đã được chứng minh khá rõ trong một giai đoạn bê bối khác của CIA khi TT Ronald Reagan cho phép ông William Casey, bổ nhiệm vào đầu năm 1981, bán một số vũ khí bí mật cho Ba Tư (Iran) để chuộc mạng cho các con tin người Mỹ bị bắt cóc. Việc trao đổi trái phép và bí mật này, sau đó đã được tiếp tục kéo dài để qua mặt Quốc Hội Mỹ đã cấm đoán việc tài trợ các toán phiến quân lật đổ các chính quyền, lấy tiền thu được để trợ cấp cho các toán nổi loạn Contra đứng lên chống lại chính phủ thiên tả tại Nicaragua. Vụ xì-căng-đan Iran-Contra nổ ra gây chấn động và chống đối nhiều từ phía Quốc Hội và cũng đã làm giảm đi uy tín khá nhiều cho TT Reagan, từ hình ảnh một vị nguyên thủ quốc gia cương quyết, bảo thủ và chống Cộng giờ đây giống như là một lãnh tụ già nua, không nắm vững vấn đề và đã để cho các tay đàn em dưới quyền qua mặt hay thao túng, và cũng đã làm cho cơ quan CIA gần như tê liệt không còn hoạt động hữu hiệu trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh lạnh với khối cộng sản. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1997 nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập cơ quan CIA, ông Helms đã cảnh báo rằng cuộc kết thúc chiến tranh lạnh cũng đã kéo tuột cơ quan tình báo CIA ra ngoài trách nhiệm cố hữu của nó: "Chúng ta trở thành siêu cường duy nhất còn lại trên thế giới và đã không còn đặc biệt quan tâm hay để ý đến những gì đang xảy ra khắp nơi trên thế giới và cũng không còn thiết tha để phối hợp tổ chức và điều hành một hệ thống do thám đắc lực."

Từ thời kỳ giữa ông Helms và ông Casey cũng có bốn vị tổng giám đốc khác lên kế nhiệm: James Schlesinger trong vài tháng năm 1973; William Colby từ 1973 đến 1976, người được biết nhiều đến trong thời gian hoạt động thời cuộc chiến tại Việt Nam; George H. Bush trong 11 tháng năm 1976 (sau này trở thành tổng thống) và Stansfield Turner vào năm 1977 dưới thời kỳ TT Jimmy Carter. Ông Casey bị bạo bệnh và chết giữa lúc cuộc điều tra vụ bê bối Iran-Contra đang diễn ra và do đó cũng mang theo xuống tuyền đài những bí mật không ai biết được để hiểu rõ chi tiết trong vụ này, đặc biệt là việc muốn biết xem liệu vị tổng tư lệnh của quốc gia có biết rõ những chi tiết trong nội vụ hay đã bị các nhân viên thừa hành tự ý qua mặt để thao túng bộ máy của chính quyền trong lãnh vực tình báo.

Dưới thời TT Bush bố, có hai vị tổng giám đốc khác là ông William Webster, được đề cử vào năm 1987, sau một thời gian nắm giữ cơ quan cảnh sát liên bang FBI trong một thời gian dài 9 năm. Sau đó là ông Robert Gates, đề cử vào năm 1991.

Đến thời của TT Bill Clinton, thì vai trò tình báo không còn được coi trọng nữa, đến mức mà vị tổng giám đốc được TT lựa chọn, James Woolsey, một cách chóng vánh sau một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi nhất chưa từng thấy. Để rồi trong suốt thời gian nhiệm chức trong hai năm sau đó, ông trùm tình báo Woolsey cũng đã được hội kiến riêng với tổng thống Clinton chỉ có hai lần. Người được kế nhiệm sau đó, ông John Deutch, thì lại không được chính nhân viên tình báo trong cơ quan coi trọng, nếu không muốn nói là còn bị nghi ngờ, thậm chí đến lúc sau khi từ nhiệm, có lúc đã bị điều tra vì lời cáo giác là đã không cẩn thận, chểnh mãng trong công vụ, với lý do là đã không giữ kín những tin tức tối mật qua việc chuyển những tài liệu tin tức tối mật vào máy điện toán cá nhân và mang về nhà riêng. Trong thời gian này, việc thuyên chuyển các vị đứng đầu cơ quan tình báo diễn ra với tốc độ khá chóng mặt. Nếu tính từ thời kỳ ông Webster rời khỏi chức vụ vào năm 1991 đến lúc ông George Tenet được đề cử vào năm 1997 thì cơ quan CIA đã có 5 vị tổng giám đốc trong thời gian 6 năm. Ông Fred Hitz, cựu tổng thanh tra của CIA trong thập niên 1990, cho rằng sự thay đổi nhân sự đứng đầu của cơ quan này đã tạo ra những chấn động giây chuyền cũng như khiến cho guồng máy hoạt động trong cơ quan bị xáo trộn không ít.

Ông Tenet là một trong số rất ít viên chức cao cấp dưới thời TT Clinton được lưu giữ lại dưới thời của chính phủ mới khi ông George W. Bush lên nhậm chức vào đầu năm 2001. Thậm chí ông còn được tin dùng trong một thời gian dài để có thể phát triển và đẩy mạnh trở lại mạng lưới do thám của các điệp viên khắp nơi, kéo sang đến gần cuối nhiệm kỳ đầu của ông Bush vào năm 2004 mặc dù đã để xảy ra hai vụ hố nặng to lớn nhất về mặt tình báo khiến cho Hoa Kỳ bị thiệt hại và mất mặt không ít. Đó là không tiên đoán được để ngăn chặn ý đồ tấn công của nhóm khủng bố al-Qaeda để dẫn đến vụ nổ bom kinh hoàng 9/11. Và sau đó là đã trù liệu hoàn toàn sai lầm về khả năng tích tụ cũng như cái gọi là "kho vũ khí tàn sát quy mô" của chế độ Saddam Hussein để làm luận cứ biện minh cho quyết định tấn công Iraq của chính quyền Bush. Ông Tenet được nổi tiếng với câu nói bất hủ "chắc ăn như bắp" (It's a grand slam) - một thuật ngữ thể thao diễn tả một cầu thủ bóng rổ làm bàn một cách chắc chắn khi nhảy lên đập banh vào ngay giữa rổ lưới - khi được TT Bush hỏi về sự xác đáng về tin Iraq có kho vũ khí độc hại. Thất bại tình báo này, về sau đã được tường trình khá chi tiết bởi hai uỷ ban đặc biệt, một do TT Bush chọn lựa và một của Thượng Viện đứng ra chủ động, đã khiến cho dư luận trong nước bắt đầu nghi ngờ về khả năng hữu hiệu của cơ quan tình báo tối cao này. Việc TT Bush sau đó còn trao tặng cho ông Tenet một trong những huy chương cao quí nhất của Hoa Kỳ càng khiến cho nhiều người ngao ngán hơn về tính phán đoán của ông Bush cũng như góp phần làm giảm uy tín của ông mỗi ngày mỗi tụt dốc sau đó, khi càng ngày càng có nhiều người hơn tin rằng ông Bush làm việc và chọn người theo quan điểm phe phái, thích những người trung thành hay nghe lời với mình thay vì biết tìm người tài giỏi, có khả năng mặc dù có thể có quan điểm chính trị khác biệt.

Thời gian này, cơ quan CIA cũng bị mất uy tín khá nhiều từ cả hai phía tả cũng như hữu. Phe cấp tiến, và những thành phần phản chiến cũng như công luận trên thế giới, thì cho rằng CIA đã không dám đưa ra những bản nhận định đứng đắn và chính xác để khiến cho chính quyền Bush đã dùng những tin tức tình báo thổi phồng hay sai lạc để làm luận cứ biện minh cho chính sách hung hăng đòi dùng giải pháp quân sự để giải quyết những xung khắc hay mâu thuẫn. Ngược lại, phe bảo thủ ủng hộ chính quyền Bush cũng bực mình không ít cơ quan CIA cũng như bộ ngoại giao Mỹ dưới thời ông Colin Powell vì cho rằng những viên chức kỳ cựu tại hai cơ quan này đã không hết lòng ủng hộ các kế hoạch của chính phủ nên đã lâu lâu tìm cách xì ra một cách kín đáo những tin tức dấu kín trong hậu trường chính trị cho báo giới biết để thấy rằng chính quyền Bush nhiều khi đã bóp méo sự thật hay cố tình lờ đi những lời cảnh giác của nhiều chuyên viên có những nhận định độc lập không cùng với quan điểm lựa chọn của chính quyền. Việc một số các cựu nhân viên CIA cho xuất bản các hồi ký cá nhân sau khi đã từ nhiệm, kể rõ những chi tiết hoạt động lâu năm để cho thấy rằng chính quyền Bush thật ra cũng chẳng lấy làm gì quan tâm đến nền an nguy của đất nước từ lúc ban đầu như bộ máy tuyên truyền của Bạch Cung và đảng Cộng Hoà đã đánh bóng mạnh mẽ sau biến cố 9/11, đã khiến cho bộ tham mưu của Toà Bạch -c càng bực tức hơn nhiều và muốn tìm cách thanh lọc hàng ngũ tại cơ quan này.

Ông Porter Goss, được đề cử vào chức vụ tổng giám đốc vào tháng 9 năm 2004, một phần cũng nằm trong ý muốn này. Sau thời gian nắm giữ chức chủ tịch Uỷ ban Tình báo ở Hạ Viện, và với xuất xứ là một cựu nhân viên tình báo dù chỉ ở cấp thấp, ông Goss được coi như là một người đáng tin cậy cho cả hai giới nhân viên tình báo trong nghề cũng như đối với phe bảo thủ Cộng Hoà. Tuy nhiên trong những ngày tháng đầu, sự bất mãn của nhiều nhân viên trong ngành cũng vẫn tiếp diễn khi ông nhấn mạnh đến việc các nhân viên phải trung thành với chiến lược của chính phủ đề ra mà không nên có những ý kiến riêng rẽ. Điều này đi ngược lại với tinh thần độc lập trong nhận định, không bị những áp lực chính trị phe phái, để có thể đưa ra những phân tích đứng đắn hầu giúp cho các chiến lược gia cầm quyền hay hoạch định chính sách có đầy đủ dữ kiện đáng tin cậy trong việc thiết lập các kế hoạch điều hành đất nước. Một số khá đông các nhân viên kỳ cựu cũng như cao cấp đã không ngần ngại xin từ chức để phản đối thay vì tiếp tục ngồi lại làm việc theo áp lực chính trị của chính quyền đương thời.

Cùng lúc đó, tiếp theo sau hai vụ điều tra của hai uỷ ban quốc gia xem xét về thất bại tình báo liên quan đến vụ 9/11, Quốc Hội Hoa Kỳ đã cải tổ hệ thống điều hành tình báo trong nước qua Đạo luật Cải tổ Tình báo và Phòng ngừa Khủng bố (Intelligence Reform and Terrorism Prevention Act) vào năm 2004, thiết lập một chức vụ mới là vị tổng giám đốc tình báo quốc gia - mà người đầu tiên nắm quyền là ông John Negroponte - đồng thời rút bớt quyền hành của vị tổng giám đốc CIA để chỉ còn chú trọng đơn thuần đến các hoạt động riêng biệt và thuần tuý của cơ quan tình báo này. Trước đó, ngoài nhiệm vụ nắm lãnh cơ quan do thám trung ương, vị tổng giám đốc CIA, tuy không điều khiển các cơ quan tình báo và an ninh liên hệ, cũng kiêm nhiệm luôn việc phối hợp cả 16 cơ quan này để đưa ra một bản nhận định chung về tình hình an ninh toàn quốc, được gọi là một bản Thẩm định Tình báo Quốc gia (National Intelligence Estimate - NIE) để làm văn bản chính thức trình lên tổng thống Mỹ và Quốc Hội Hoa Kỳ. Ông tổng giám đốc CIA cũng là người trực tiếp tường trình mỗi ngày cho tổng thống Mỹ về tình hình an ninh nội địa cũng như những biến chuyển đã và đang xảy ra khắp nơi.

Giờ đây thì những trách vụ đó đã được giao sang cho người mới là ông Negroponte, và vai trò của vị tổng giám đốc Cơ Quan Tình Báo Trung Ương đã thực sự mất đi uy tín và giá trị trung ương đích thị của nó. Việc ông Porter, vốn cũng có tham vọng nắm giữ ghế của ông Negroponte trong thời gian TT Bush đang lựa chọn người, phải ra đi sau khi có sự bất đồng ý kiến với ông Negroponte trong nhiều sinh hoạt nội bộ và sau đó mất thế lực đối với bộ tham mưu ở Bạch Cung, càng chứng tỏ rằng vai trò của ông trùm CIA ngày nay không còn quan trọng tối cao như xưa nữa.

Nguyễn Anh Tuấ
Houston, Texas 16-05-2006


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_ong_trum_tinh_bao_1.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.