Lời
người dịch: Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia
nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời trình bày quan điểm trong
cuộc hội thảo mang tên “Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa: Suy ngẫm và tái
thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and reassessments after 30
years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Ðại Học Texas Tech tổ chức tại
Lubbock trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm 2006.
Trong
số nhiều diễn giả Việt-Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm của
riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên
viên tình báo cao cấp trong nhiều năm. Bài này được chuyển ngữ từ
nguyên bản bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày, vắn tắt
hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả,
cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ. Những
chữ viết ngả để trong ngoặc đơn là chú thích của tác giả để câu văn
chuyển dịch mang được đầy đủ ý nghĩa của nó. Sau đây là phần thứ III.
Phần III
Rồi
tới cuộc tấn công 1972 của Hà Nội, một cuộc tấn công tốc chiến phối hợp
phương tiện cơ khí kiểu cổ điển (a classical blitzkrieg), với đặc điểm
là những vũ khí hạng nặng và những vũ khí chết người được đưa ra sử
dụng như hỏa tiễn tầm nhiệt phòng không SA-7, hỏa tiễn công phá điều
khiển bằng dây AT-3, những đoàn chiến xa T-54 được yểm trợ bằng mấy
trăm khẩu đội hỏa tiễn 122 ly, đại bác 130 ly, hơn hẳn tất cả mọi thứ
từng được Hoa Kỳ cung cấp cho lực lượng pháo binh QLVNCH. QLVNCH bị
đánh tơi bời, có lúc đã gần tới kết cuộc, và sự đổ vỡ hiển hiện rõ
ràng. Nhưng cái quân lực đang nằm đo ván đã đứng dậy ở tiếng đếm thứ 8,
hồi phục sức lực và bẻ gãy cuộc tấn công nặng nề nhất ở Việt
Không ai khác hơn là học giả hàng đầu của Hoa Kỳ về Việt
Hoa
Kỳ không cung cấp cho đồng minh của họ, VNCH, những vũ khí lợi hại
ngang bằng, nhất là về pháo binh, như Liên Xô và Trung Cộng cung cấp
cho Hà Nội. Hà Nội có hằng trăm hỏa tiễn 122 và đại pháo 130. QLVNCH
không đủ đại bác để phản pháo, chỉ có 24 khẩu 175 ly, không chính xác
bằng, bắn chậm hơn các loại 122 ly và 130 ly. Cả pháo đài kiên cố cũng
không chịu nổi đạn 130 ly khoan hầm, nổ chậm. Tựu chung, trở lại đề tài
không lực, thì không quân Việt Nam đã thi hành nhiệm vụ một cách đáng
kính phục trong các trận chiến năm 1972, nhưng vẫn bị giới bình luận
Hoa Kỳ hoàn toàn quên lãng. Một chuyên viên điều không tiền tuyến của
Hoa Kỳ tỏ ra ngưỡng mộ một phi công A-37 của Việt Nam mà anh ta cùng
thi hành một vụ tấn công không lục vào vị trí quân Bắc Việt:
“Anh
ta đâm chúc đầu chiếc máy bay xuống tới tầm vũ khí liên thanh, và quả
nhiên tôi thấy nhiều lằn đạn lửa vạch đường sáng bao quanh Pepper dẫn
đầu. Tôi la lên báo động, thì đã thấy anh thả bom ở độ cực thấp và ghi
một bàn tuyệt hảo trúng ngay bức tường. Trong những lần oanh kích tiếp
theo ngay đó, các phi công của không quân Việt Nam cũng ghi bàn hoàn
hảo mỗi lần đâm xuống, cũng là mỗi lần họ bị đạn phòng không bắn lên
xối xả... Hỏa lực từ mặt đất vô cùng mạnh mẽ. Quân Bắc Việt có vẻ như
biết rằng đối thủ của họ là người Nam Việt Nam.
“Tôi
tin chắc là hai chiếc A-37 sẽ bị bắn rơi, nhưng cả hai đều xả hết bom
đạn của họ trúng đích, không hề hấn gì. Hai phi công không quân Việt
Nam đã trình diễn một màn tuyệt vời, và tôi ngưỡng phục lòng can đảm
của họ trên cả sự thông minh. Trong giây phút đó lòng can đảm ấy đã
vượt hẳn sự khôn ngoan trong những tính toán hơn thiệt về sự an toàn
của cá nhân họ.”
Ðây không phải là một sự kiện riêng lẻ, theo như một quan sát viên không quân của Mỹ chứng thực:
“Không
quân Việt Nam tự chứng tỏ sự trưởng thành trong cuộc tấn kích 1972...
Trong trận phòng thủ Kontum KQVN thật cừ khôi, hết sức tuyệt diệu.”
QLVNCH
lãnh cú mạnh nhất của Hà Nội năm 1972, mạnh hơn nhiều so với trận Tết
Mậu Thân 1968, về khía cạnh quân số và hỏa lực. Ước lượng có khoảng gần
150 ngàn quân Bắc Việt đã tham chiến trong giai đoạn 1, và thêm 50 ngàn
quân khác bổ sung khi trận chiến tiếp diễn. Mặt khác, trong trận Tết
1968 chỉ có 84 ngàn quân Việt cộng và Bắc Việt tham chiến, với pháo
binh và xe tăng rất hạn chế. (ngoại trừ ở quân khu I).
QLVNCH
tiếp tục hoạt động tốt đẹp sau khi hiệp định Paris gian lận được ký kết
và bị vi phạm lập tức. Cuối Tháng 11 năm 1973 một lực lượng đặc nhiệm
VNCH đã đánh đuổi sư đoàn 1 Bắc Việt ra khỏi căn cứ Thất Sơn, gây tổn
thất nặng tới nỗi sư đoàn 1 này của Bắc Việt phải giải thể, số quân
sống sót phải gia nhập các đơn vị khác. Ít tháng sau sư đoàn 7 VNCH
tung ra cuộc hành quân lớn để quét các đơn vị Bắc Việt khỏi mặt khu Tri
Pháp ở vùng giáp ranh ba tỉnh Ðịnh Tường-Kiến Tường-Kiến Phong, gây tổn
thất nặng cho địch. Tri Pháp chưa bao giờ bị xâm phạm trong suốt cuộc
chiến tranh, có đặc điểm là những vị trí phòng thủ kiên cố; cuộc thất
trận gây hổ thẹn tới mức nhà cầm quyền cộng sản cảnh cáo các cấp là
phải dấu sự thất bại đừng để bộ đội của họ biết, sợ bộ đội xuống tinh
thần. Các phái đoàn Ba Lan và Hungary trong cái Ủy ban liên hiệp quân
sự bốn bên bất lực, chỉ là gián điệp cho cộng sản Hà Nội. Nhưng một
trong những báo cáo của họ năm 1973 xác định là không có đơn vị Việt
cộng nào ngang sức với QLVNCH, và cả những đơn vị thiện chiến nhất của
Bắc Việt cũng không sánh được với các đon vị Nhảy Dù và Thủy quân Lục
chiến của VNCH.
Tuy
nhiên đến giữa 1974 thì việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ từ
siết cổ QLVNCH, và đạo quân này chỉ còn nước xuống dốc dần dần từ khi
ấy. Ðến 1975 cấp số cung ứng có sẵn (Available Supply Rate- ASR) dành
cho đạn đại bác đã giảm nhanh tới mức không thể chấp nhận, như theo
bảng dưới đây, cho mỗi khẩu đội bắn trong một ngày:
Năm 1972 Năm 1975 Tỉ lệ giảm
Ðạn 105 ly 180 viên 10 viên; 94%
Ðạn 155 ly 150 viên 5 viên; 97%
Ðạn 175 ly 30 viên 3 viên; 90%
Mọi
thứ bị cắt đến tận xương, rồi tận tủy. Nhiều binh sĩ bộ binh được cấp
số đạn căn bản là 60 viên M16 cho một tuần lễ. Nhiều đơn vị cấm binh sĩ
bắn M16 liên thanh, chỉ được bắn phát một. Các đơn vị chạm địch có khi
bị giới hạn chỉ còn được bắn yểm trợ hai trái đạn đại bác, ngoại trừ
khi bị tràn ngập. Thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, tàu giang tuần, máy
bay... nằm ụ chờ rỉ sét (“cho mối mọt ăn”). Tệ hơn nữa, binh sĩ QLVNCH
và gia đình họ phải chịu thiếu thốn khi nền kinh tế bị lạm phát 50%, và
25% thất nghiệp. Một bản nghiên cứu của cơ quan DAO thực hiện năm 1974
tiết lộ 82% binh sĩ VNCH không có đủ thực phẩm cho nhu cầu của gia
đình. Ðói kém và suy dinh dưỡng làm xuống tinh thần cùng khả năng chiến
đấu. Tình hình những tháng sau đó càng xuống dốc, và người ta đau lòng
chứng kiến một cái chết chắc chắn sẽ đến vì hằng ngàn vết thương. Một
năm sau, khi chính phủ Việt Nam cuối cùng sụp đổ, và, theo như những
sách gọi là sách sử, thì nhiều người Mỹ ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mọi
thứ có thể sụp đổ nhanh chóng như vậy. Lẽ ra câu hỏi đáng chú ý hơn
phải là tại sao QLVNCH đã có thể chiến đấu dài lâu sau thời gian giữa
năm 1974, với sự thiếu thốn về vũ khí, trang bị, đạn dược, nhiên liệu,
thuốc men, với những cái bụng lép kẹp, và gia đình cũng đói khát không
kém?
Khi
bắt đầu sự đổ vỡ tan hoang, và đám đông hỗn độn theo lệnh ông Thiệu rút
khỏi vùng cao nguyên, thì khủng hoảng và kinh hoàng xảy đến, phần nào
tăng thêm vì những lệnh lạc trái ngược phát xuất từ dinh Tổng Thống.
Nhưng trong sự sụp đổ nhục nhã sau cùng, vẫn có không ít những trận
“Alamo” nhỏ của những người lính VNCH chiến đấu đến phút cuối.
Sư
đoàn 18 đứng vững ở Xuân Lộc là một trận anh hùng ca, nhưng sự có mặt
và vai trò của của Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù trong trận này không hề được biết
đến. Khi quân khu II đổ vỡ và kết cuộc đã gần, sư đoàn 7 VNCH vẫn đánh
bại một nỗ lực của quân Bắc Việt muốn cắt quốc lộ 14, con đường quốc lộ
duy nhất nối vùng châu thổ Cửu Long vói Sài Gòn. Vào ngày cuối, gọi là
“ngày quốc hận” (tác giả viết bằng tiếng Việt), một máy bay AC-119
trang bị liên thanh sáu nòng do các Trung Úy Thanh và Trần Văn Hiền
(hay Thành, Hiển?) còn bay quanh Sài Gòn yểm trợ hỏa lực cho những đơn
vị VNCH lâm chiến sau cùng. Hết xăng, hết đạn, họ đáp xuống đổ xăng và
lấy thêm đạn, sĩ quan hành quân biểu họ không cần cất cánh nữa, tất cả
đã mất hết rồi. Nhưng các Trung Úy Thanh và Hiền vẫn vững chí, nhận
nhiên liệu và đạn dược, và được hai chiếc A1H-Skyraider tháp tùng do
Thiếu Tá Trương Phụng và Ðại Úy Phúc lái, họ tiếp tục lại một trận
chiến tuyệt vọng. Sau cùng chỉ còn Ðại Úy Phúc sống sót, oanh kích đến
khi hết đạn. Hai Trung Úy Thanh, Hiền và Thiếu Tá Trương Phùng đều bị
SA-7 bắn rơi, tử trận. Họ đã chiến đấu đến mãi tận giây phút cuối cùng!
Một
cách tổng quát, cứ bị đói như QLVNCH đã bị thì không một quân đội nào
có thể chống lại cuộc tấn công cuồng bạo của quân đội Bắc Việt, vói
thừa ứ những khẩu pháo, xe tăng, vũ khí, nhiên liệu, xe tải quân, đạn
dược, do khối cộng sản cung cấp. Trước một đạo quân VNCH bị rút ruột vì
cắt viện trợ như vậy, quân đội Bắc Việt đã phải tung ra tất cả những gì
họ có. Chừng 400 ngàn quân cộng sản, gần 90% là bộ đội miền Bắc, được
đưa ra trận để đánh bại QLVNCH. Hà Nội chưa bao giờ từng tung ra một
lực lượng khổng lồ và hiện đại như họ đã ném vào trận chiến năm 1975.
Hà Nội chưa từng rút ra tất cả các đơn vị từ Lào, Cambodia. Về lượng,
quân số 400 ngàn là gần gấp 5 số quân Việt cộng và Bắc Việt lâm chiến
hồi tết 1968, trong khi về phẩm, còn có hằng trăm đại bác tầm xa, hằng
trăm xe tăng, hằng ngàn xe tải, và nguyên một kho vũ khí hiện đại, Ðoàn
quân viễn chinh năm 1975 có hơn gấp năm lần khả năng chiến đấu của lực
lượng cộng sản hồi Tết Mậu Thân 1968.
Xem
xét sự việc từ một khía cạnh khác, có thể phán đoán mà không sợ sai lầm
rằng giả sử quân đội Bắc Việt bị yếu đi vì cắt giảm mức cung ứng như
QLVNCH đã gánh chịu, thì họ không bao giờ có thể tung ra một cuộc tổng
công kích sau cùng, mà hẳn đã yếu kém hơn thế nhiều. Ưu thế hỏa lực
quyết định chiến trường, chẳng phải là điều gì mới lạ trong lịch sử
quân sự. Vào lúc cuối, QLVNCH chịu sự tổn thất khoảng 275 ngàn tử trận,
không kể con số bị ám sát, trong một quốc gia mà dân số trung bình
khoảng 17 triệu. Nước Mỹ với dân số 200 triệu, nếu chịu tổn thất với tỉ
lệ tương đương trong cùng khoảng thời gian ấy, con số tử vong sẽ là 3
triệu 200 ngàn, cần dựng thêm 56 bức tường đá đen nữa mới đủ ghi tên tử
sĩ. Ðiều này không lọt qua mắt của một số nhà quan sát. Sir Robert
Thompson, tuy biết rõ những nhược điểm của QLVNCH, cũng kết luận:
“Quân
đội và chính phủ VNCH vượt qua những cuộc khủng hoảng quốc gia và cá
nhân mà có thể đã nghiền nát hầu hết mọi người, và mặc dù mức tổn thất
có thể gây kinh ngạc và làm sụp đổ Hoa Kỳ, VNCH vẫn duy trì được một
triệu quân dưới cờ sau hơn 10 năm chiến tranh. Vương quốc Anh cũng làm
được như thế, theo tỉ lệ tương đương, trong năm 1917, sau ba năm chiến
tranh, nhưng không bao giờ làm được nữa. Hoa Kỳ chưa bao giờ làm được
điều này.” (được nhấn mạnh và thêm vào).
Ký giả Peter Kann, sáng suốt hơn rất nhiều so vói những đồng nghiệp, cũng nhập cuộc, sau khi Sài Gòn thất thủ:
“Nam
Việt Nam quả đã phấn đấu để kháng chiến trong nhiều năm ròng rã, không
phải lúc nào cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ dồi dào. Ít có quốc gia hay xã
hội nào mà tôi cho là có thể chiến đấu được lâu dài đến thế.”
Kế hoạch Việt Nam hóa có hiệu quả không? QLVNCH có trưởng thành nên một lực lượng chiến đấu có khả năng?
Có
thể biện luận rằng kế hoạch Việt Nam Hóa có hiệu quả, nhưng lại bị moi
ruột vì cắt giảm viện trợ chí tử. Năm 1974 có cuộc thăm dò các tướng
lãnh Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam, nhằm tìm hiểu chương trình Việt
Nam hóa thành công tới mức nào. Các câu hỏi và trả lời như sau:
1. QLVNCH là lực lượng chiến đấu rất đáng chấp nhận?: 8% đồng ý.
2. QLVNCH xứng đáng và cơ may hơn 50% đứng vững trong tương lai?: 57% đồng ý.
3.
Có nghi ngờ khả năng QLVNCH có thể đẩy lui một cuộc tấn công mạnh của
lực lượng Việt cộng-Bắc Việt trong tương lai?: 25% nghi ngờ.
4. Ý kiến khác và không ý kiến: 10%.
Như
vậy 65% các tướng lãnh chỉ huy của Hoa Kỳ dành cho QLVNCH tỉ lệ phiếu
thuận, tuy nhiên những câu trả lời này có thể đã mang khuynh hướng lệch
theo chiều xuống. Không biết bao nhiêu vị tướng phục vụ trong khoảng
1966-1967, trước khi QLVNCH thực hiện những đổi thay to lớn nhất. Chức
vụ mà các sĩ quan này đảm trách là gì, họ làm việc với ai, và họ quen
thuộc với quân đội VNCH ở mức độ nào, sự tăng tiến hiệu năng của lực
lượng Ðịa phương quân, Nghĩa quân, vân vân... cũng không được tiết lộ.
Câu hỏi cũng không hỏi: “Nếu quân đội Mỹ cũng bị cắt giảm cung ứng như
QLVNCH vào năm 1974-1975 thì còn đứng vững được bao lâu?”
Ðiều
có thể nói chắc chắn, là QLVNCH từ 1968 trở đi đã hoàn thành nhiệm vụ
tốt đẹp hơn nhiều so với những gì được biết đến một cách chung chung,
rằng các đơn vị QLNCH đã thi triển tài năng để có thể đứng vững và đánh
bại quân xâm lược Bắc Việt trong năm 1972, thường là không cần tới sự
yểm trợ hỏa lực ồ ạt của pháo binh và không quân chiến thuật, như trong
trường hợp của Nghĩa quân và Ðịa phương quân. Ðiều có thể nói chắc chắn
nữa là sự hiểu biết của người Mỹ về việc này thấp kém đến kinh tởm,
thấp tít mù xa như vực thẳm không đáy.
Một
yếu tố rất quan trọng nữa mà nhiều nhà bình luận bỏ qua và tới nay vẫn
không biết gì hơn, là thế hệ các sĩ quan, hạ sĩ quan QLVNCH trẻ trung
hơn, hết lòng hết dạ vì mục tiêu một nước Việt Nam không cộng sản. Họ
cởi mở, ngay thật, biết lẽ phải, trong sạch, biết nhìn nhận phải trái,
ví dụ như họ cho là người Thượng không nên được đối xử thấp kém hơn,
rằng tham nhũng cần bị công kích, rằng một quốc gia Việt Nam mới cần
được tạo thành, bung ra khỏi mọi xích xiềng quá khứ. Nhiều người trong
số này có thể có vị trí tốt để tránh quân dịch hay giữ một chỗ an toàn,
không ra trận; nhưng họ không cần cả hai thứ đó, đã có mặt trong hàng
ngũ phục vụ tại những vị trí chiến đấu đầy nguy hiểm, với tư cách những
người tình nguyện. Thái độ của họ được một sĩ quan trẻ của QLVNCH bày
tỏ:
“Những
người ở cỡ tuổi tôi vào quân đội vì chúng tôi có một lý tưởng, chúng
tôi hiểu được cuộc sống trong một thế giới tự do ra sao, và sống trong
thế giới cộng sản ra sao. Không phải như người ta nói, rằng những ai
vào quân đội thì chỉ vì đến tuổi lính và không có lý tưởng gì riêng cho
mình. Nhưng người Mỹ không bao giờ có vẻ hiểu ra điều đó.”
Trần
Quốc Bửu là chủ tịch Liên Ðoàn Lao công Nam Việt Nam, tương đương với
AFL-CIO của Hoa Kỳ. Ông có ảnh hưởng và có thể xếp đặt cho con trai ông
tìm một chỗ an toàn, an toàn hơn nhiều so với vị trí của anh này là một
sĩ quan bộ binh VNCH. Trong những tuần lễ sau cuối của VNCH, lúc bị Bắc
Việt dập pháo tơi bời, tuyệt vọng trong cảnh thiếu đạn, con ông Bửu
viết cho ông một lá thư:
“Ba
phải giải thích cho người Mỹ hiểu sự nghiêm trọng của tình hình chúng
ta... Họ phải cung cấp viện trợ quân sự và kỹ thuật như họ đã hứa. Con
xin ba, ba à, hãy can thiệp với họ. Nếu không, chúng ta sẽ bị đè bẹp và
thất trận. Tụi con không hèn nhát. Tụi con không sợ chết... Trong mọi
tình huống, con sẽ giữ vững vị trí và không rút lui.”
Con ông Bửu hy sinh tại chiến trường.
Bác
sĩ Phan Quang Ðán là quốc vụ khanh về định cư và tị nạn, một cựu đối
lập với ông Ngô Ðình Diệm, nổi tiếng nhờ trong sạch. Ông có đủ quyền
lực và ảnh hưởng để giữ con trai là Phan Quang Tuấn khỏi bị nguy hiểm.
Cả hai cha con đều không chọn điều đó, và Tuấn tình nguyện lái A-1E
Skyraider, chỉ dùng để yểm trợ chiến thuật gần cho các dơn vị dưới đất.
Sau khi tiêu diệt 7 xe tăng quân Bắc Việt tại khu vực ngưng chiến,
trong trận tấn công 1972 của Hà Nội, Ðại Úy Tuấn bị hỏa lực phòng không
địch bắn rơi, tử trận. Những cá nhân ấy không phải là duy nhất. Người
viết bài này hằng ngày gặp những phi công trực thăng võ trang trẻ tuổi,
những sĩ quan trẻ trong Biệt động quân, Thủy quân lục chiến, Nhảy dù,
tất cả đều tình nguyện lãnh nhiệm vụ tác chiến nguy hiểm, bị “lưỡng đầu
thọ địch”, với hệ tư tưởng về một nước Việt Nam cộng sản, và với nạn
tham nhũng trở thành thông lệ hằng ngày ở Sài Gòn. Một trong những tấm
gương gây xúc động hơn nữa về lòng tận tụy với chính nghĩa quốc gia, là
cảnh các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị quốc gia Ðà Lạt chuẩn bị cho
trận đánh sau cùng của họ, mà ký giả Pháp Raoul Coutard chứng kiến, vào
lúc họ tiến ra để chặn các đơn vị quân đội Bắc Việt đang tiến tới:
“- Anh sắp bị giết đó!
- Vâng. Một sinh viên sĩ quan trả lời.
- Sao vậy? Ðã kết thúc rồi mà!
- Tại vì chúng tôi không ưa cộng sản.”
Và, lòng đầy can đảm, những sinh viên trẻ tuổi trong bộ quân phục mới toanh, tuyệt đẹp, giày bóng loáng, tiến ra để chờ chết.”
Trường
Thiếu Sinh quân ở Vũng Tàu, là trường nội trú, trong học trình có dạy
quân sự cho các thiếu niên Việt Nam có cha tử trận. Khi đến lúc cuối,
những em trai 12-13 tuổi đuổi các em thiếu sinh quân nhỏ hơn về nhà,
lập chướng ngại vật bảo vệ trường và đối đầu với các đơn vị quân Bắc
Việt:
“Họ
tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả mọi người khác đã đầu hàng!... Nhiều
người trong số họ bị giết. Và khi quân cộng sản tiến vào, các thiếu
sinh quân đánh trả. Cộng sản không vào được ngôi trường ngay lúc đó.”
Những
con người tương tự (lúc đó) đang gia tăng trong mọi cấp bực của QLVNCH,
và nhu cầu cấp bách của tình hình buộc sự thăng thưởng phải dựa trên
khả năng, không dựa trên quan hệ chính trị hay quan hệ gia đình.
Giới
truyền thông Hoa Kỳ đã thất bại tại Việt Nam, thua bại hoàn toàn và thê
thảm hơn nhiều so với các lực lượng quân sự của VNCH, Hoa Kỳ và các
đồng minh. Họ thường lên án bằng những lối can thiệp đầy tự phụ và tự
mãn. Một cuộc thăm dò 9,604 chương trình truyền hình của NBC, CBS và
ABC từ 1963 đến 1977 cho thấy rõ những sự thiếu sót của những cái gọi
là bài tường thuật truyền hình. 0.7% chương trình nói về việc huấn
luyện QLVNCH. 0.8% về bình định. 2.7% về chính quyền hay quân lực VNCH
hay Cambodia. Tổng cộng chỉ có 392 chương trình, tức 2.7% toàn bộ các
chương trình tin tức truyền hình Mỹ, tường trình về Việt Nam. Không có
một lời nào về hơn 200 ngàn hồi chánh viên, không một lời về QLVNCH
thiện chiến. Không có gì về những phi công Ong Chúa lừng danh của trực
thăng Việt Nam cứu mạng cho những toán lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ chạm
địch dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Hầu hết người Mỹ, nếu không phải là tất
cả, đều nhớ hình ảnh bi hùng của một người Trung Hoa đứng trước đoàn xe
tăng ở quảng trường Thiên An Môn, nhưng không ai biết Trung Sĩ thủy
quân lục chiến Việt Nam Huỳnh Văn Lượm đứng trên cầu Ðông Hà chặn đứng
đoàn xe tăng Bắc Việt, tác xạ bằng khẩu súng chống tăng LAW của anh:
“Cảnh
tượng anh lính TQLC nặng có 95 cân Anh trụ ngay trên đường tiến của 40
xe tăng không có ý nào muốn dừng lại, trên một khía cạnh thì là dại dột
một cách khó tin. Trên khía cạnh khác, quan trọng hơn, hình ảnh này
mang đầy niềm phấn khích đối với một lực lượng phòng thủ mỏng manh đến
thê thảm, và với nhiều người tị nạn, ít ai trong số đó từng chứng kiến
một hành động thách đố dũng cảm đến thế... Sự anh dũng lạ thường của
người lính thủy quân lục chiến Nam Việt Nam này đã khiến đợt tấn công
bằng xe tăng, tới lúc đó chừng như chắc chắn phải thắng lợi, đã bị mất
đà tấn kích.”
Trong
một khoảnh khắc mà giới truyền thông mang tật cận thị lên tiếng, thì
phóng viên Donald Kirk tuyệt đối không tỏ ra sự quan tâm nào khi đến
thăm sư đoàn 7 bộ binh VNCH, nơi đã trở nên một đơn vị có hiệu năng cao
tuyệt dưới tài lãnh đạo của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Quân nhân trong sư
đoàn nhận thức rõ giá trị những nông trại của sư đoàn do tướng Nam
thiết lập để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho binh sĩ của sư đoàn 7.
Nhưng khi Kirk và các phóng viên khác bị giữ lại ở một điểm chắn đường
của quân đội Bắc Việt rồi được thả ra sau đó, thì Kirk lại thất vọng vì
anh ta không có cơ hội để nói chuyện với bộ đội Bắc Việt:
“Tôi
cứ nghĩ mãi về việc trông họ như vừa bước ra khỏi cuốn phim... Họ có vẻ
là những tay chính quy, vậy đó. Tôi chỉ mong sao chúng tôi đã có thể ở
lại thêm và nói chuyện với họ lâu hơn.”
Ông
Kirk có thể yên tâm rằng quân sĩ sư đoàn 7 đều là “những tay chính
quy”, rất đáng để nói chuyện, và học hỏi nơi họ. Anh chàng này, cũng
như đông đảo trong giới truyền thông làm tin tức, đã không để ý gì đến
việc đó, cho nên không có gì kỳ bí về nguyên nhân vì sao hầu hết những
người Mỹ từng phục vụ tại Ðông Nam Á đều nhìn cái giới truyền thông tin
tức này với sự khinh miệt gay gắt.
Phải
chi giới này chịu khó quan hệ với quân dân Việt Nam mà họ gặp gỡ, như
tôi đã làm nhiều lần, thì đám ký giả hẳn đã biết trong mắt những người
Việt ấy chủ nghĩa cộng sản của Hà Nội là điều đáng khinh bỉ và kinh
tởm, như một loại phản bội văn hóa và truyền thống Việt Nam. Không phải
những người Việt này chiến đấu và hy sinh để bảo vệ “chế độ tham nhũng
của Thiệu”, mà là để gìn giữ một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân,
cho con cái, và cho đất nước của họ. Một thủy quân lục chiến Việt Nam
diễn giải và lột tả chân xác nhất về điều này, khi anh ta nói với tôi
rằng sau khi quân đội VNCH giải quyết xong với quân đội miền Bắc, họ sẽ
quay súng lại chống đám tham nhũng ở Sài Gòn. Những sự kiện thảm thiết
bi thương sau năm 1975 đã chứng thực tính thuận lý và giá trị của điều
quyết tâm ấy.
(Còn tiếp)