Lời người dịch: Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt
Trong
số nhiều diễn giả Việt-Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm của
riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên
viên tình báo cao cấp trong nhiều năm. Bài này được chuyển ngữ từ
nguyên bản bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày, vắn tắt
hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả,
cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ. Những
chữ viết ngã để trong ngoặc đơn là chú thích của tác giả để câu văn
chuyển dịch mang được đầy đủ ý nghĩa của nó. Dưới đây là phần thứ II
của câu chuyện.
(II)
Lực
lượng xây dựng nông thôn không được coi là lực lượng chiến đấu, còn lực
lượng Nhân dân tự vệ thường bị chế diễu nhưng (những lực lượng này)
cũng là chướng ngại cho quân Việt cộng và quân đội Bắc Việt (
Thành
phần của lực lượng Nhân dân tự vệ thì quá trẻ, hay quá già, hay vì
thương tật nên không gia nhập quân đội chính quy, chỉ phục vụ như lực
lượng phòng vệ làng ấp chống lại những toán thu thuế, tuyển mộ, hay
tuyên truyền của cộng sản địa phương. Nhưng Nhân dân tự vệ cũng là một
yếu tố mà cộng sản địa phương phải đối phó sau năm 1968. Trước đó không
có lực lượng này, Việt cộng ở địa phương tự do đi vào ấp xã lúc ban
đêm. Nhiều lúc Nhân dân tự vệ không có hiệu quả, nhiều khi họ bị tuyên
truyền để đi theo Việt cộng, nhưng có nhiều lúc khác lại có những báo
cáo như sau: (Trích từ các sách vở của các tác giả người Mỹ).
“Hai
Việt cộng đang bắt cóc một Nhân dân tự vệ thì một Nhân dân tự vệ khác
xuất hiện, bắn chết hai Việt cộng này bằng súng M1 (không ghi rõ garant
hay carbine), tịch thu được một súng AK47 và một súng lục 9 ly.”
Và “cả hai ấp Prey Vang và Tahou đêm nay bị bắn súng nhỏ và B-40. Nhân dân tự vệ địa phương đẩy lui hai toán trinh sát nhẹ.”
Còn
nữa: Một Nhân dân tự vệ 18 tuổi đã là người bắn cháy chiếc xe tăng đầu
tiên trong rất nhiều xe tăng T 54 của Bắc Việt bị tiêu hủy tại An Lộc
trong cuộc bao vây năm 1972.
Hà Nội không mấy hài lòng về lực lượng này, theo như tài liệu sau đây:
“Chúng
(QLVNCH) tăng cường các lực lượng bù nhìn, củng cố chính quyền bù nhìn
và thiết lập mạng lưới tiền đồn cùng các tổ chức Nhân dân tự vệ bù nhìn
ở nhiều làng xã. Chúng cung cấp thêm trang bị kỹ thuật và tính lưu động
cho lực lượng bù nhìn, thiết lập những tuyến phòng vệ, và dựng ra cả
một hệ thống phòng thủ và đàn áp mới ở những khu vực đông dân cư. Kết
quả là chúng đã gây nhiều khó khăn và tổn thất cho lực lượng bạn (Việt
cộng).”
Sự
kiện này không thể xảy ra trước năm 1968, khi lực lượng Nhân dân tự vệ
được thành lập và trang bị bằng những vũ khí thời thế chiến thứ hai do
các lực lượng QLVNCH chuyển giao lại.
Tương
tự như vậy, lực lượng Nghĩa quân, Ðịa phương quân với sự trợ giúp của
các toán cố vấn Mỹ lưu động, được tuyển mộ thêm từ năm 1968 và trang bị
vũ khí tốt hơn, khởi sự tiến bộ, như cố vấn David Donovan thuộc một
toán lưu động chứng kiến trong một trận tấn công bộ binh năm 1970:
“Chúng
tôi vừa vượt khỏi khu mìn bẫy chính thì bị hỏa lực từ một rặng cây
trước mặt bắn tới. Nước văng tung tóe xung quanh, đạn bay véo véo trên
đầu, trong tiếng súng nhỏ nổ dòn. Binh sĩ bây giờ phản ứng tốt lắm,
không giống như trước kia cứ mỗi khi bị bắn là họ gần như tê liệt.
Trung sĩ Abney chỉ huy cánh đuôi của đội hình hàng dọc, bung qua bên
phải, sử dụng như thành phần điều động tấn kích, trong khi chúng tôi ở
phía trước phản ứng lại hỏa lực địch. Khi toán của Abney tới được chỗ
địa thế có che chở thì họ dừng lại và bắt đầu tác xạ. Dưới hỏa lực bắn
che đó chúng tôi tràn tới một vị trí khác. Hai thành phần chúng tôi yểm
trợ nhau như vậy và tiến được tới hàng cây, sẵn sàng xung phong. Ba
người trong toán của tôi bị trúng đạn, không biết nặng nhẹ ra sao nhưng
mọi người đều xông tới. Chúng tôi đã hành động khá hay.”
Kinh nghiệm của Donovan không phải là độc nhất. Cố vấn John Cook nhắc lại niềm lạc quan của ông vào năm 1970:
“Chúng
tôi (tức Cook và sĩ quan đối tác phía Việt Nam) đang rất lên tinh thần,
cảm thấy như mình là “kim cương bất hoại”. Tinh thần chiến đấu và hăng
hái chủ động tấn công trong quận hết sức cao, khiến chúng tôi truy kích
quân địch một cách gần như khinh suất, liều lĩnh.”
Những
thành tích như vậy không phải mọi nơi đều có. Có những đơn vị không đáp
ứng được trong thời kỳ thay đổi và vẫn bị lãnh đạo chỉ huy kém cỏi,
chẳng thực hiện một cuộc hành quân lục soát với chiến thuật chủ động
tấn công nào. Có khi cố vấn Hoa Kỳ suýt bị giết hay bị dọa giết bởi
những sĩ quan địa phương của Việt Nam mà họ không hòa thuận được. Nhiều
cố vấn Mỹ khác không gặp cảnh ngộ khó chịu đó, nhưng cũng chẳng có ấn
tượng tốt nào về hoạt động của những đon vị mà họ cố vấn. Dù sao thì
những chuyện tích cực và thích thú do cố vấn Mỹ chứng kiến cũng đầy
rẫy, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng trong những cuộc thảo luận trên nước
Mỹ hay trong ý tưởng của những người Mỹ bình thường, cũng như trong
những gì được dạy dỗ tại các trường học Hoa Kỳ.
Sự
tiến bộ hay những tấm gương xuất sắc ngay trước mắt không phải chỉ hiển
hiện trong những lực lượng lãnh thổ và những sư đoàn bộ binh VNCH, (là
những đơn vị) thường bị cho là không mấy nổi trội về chiến thuật chủ
động tấn công. Cố vấn về kế hoạch bình định của tỉnh Quảng Trị Richard
Stevens, trước đó từng phục vụ trong Thủy quân lục chiến Mỹ tại Việt
Nam, tỏ ra ngạc nhiên trước thành tích của một đơn vị thuộc sư đoàn 1
bộ binh Việt Nam trong trận tấn công một vị trí phóng hỏa tiễn của quân
Bắc Việt:
“Tôi
có ấn tượng hoàn toàn tốt, và thực sự là kinh ngạc, về cách thức hành
quân và sự táo bạo của họ trong mọi việc... Ðây là cuộc hành quân thứ
13 như vậy do vị tiểu đoàn trưởng này chỉ huy. Ta đang nói chuyện về
những chuyên gia hết sức tinh thục trong những gì họ làm, những người
đã từng thực hiện những công tác sởn tóc gáy và vẫn tiếp tục thực
hiện... Các cố vấn của trung đoàn này luôn luôn nói với tôi lúc tôi ra
đó, rằng ‘anh đang làm việc với những người giỏi nhất. Chúng ta không
có điều gì để mà có thể nói cho những người này làm. Chúng ta (các cố
vấn) chỉ có việc yểm trợ hỏa lực mà thôi. Còn về sự hiểu biết trong
hành quân, thì họ là người dạy chúng ta.' Chúng tôi có các cố vấn người
Úc và người Mỹ, họ đều nói y như nhau.” (tác giả trích luận án Master
năm 1987 của Howard C.H Feng, đại học Hawaii).
Ở
miền Nam, trong lãnh thổ tỉnh Ðịnh Tường thuộc quân khu IV, sư đoàn 7
bộ binh VNCH cũng thi hành nhiệm vụ không hề có khuyết điểm, theo lời
xác nhận của các cố vấn và các phi công Mỹ lái trực thăng chuyển quân
cho các binh sĩ sư đoàn 7 trong những trận tấn công. Sư đoàn này từng
bị mang tiếng là sư đoàn “lùng và né” (thay vì “lùng và diệt”, search
and destroy), có thể vì trận Ấp Bắc hồi 1963, nhưng những ai trực tiếp
công tác với họ không thể nói gì hơn là những lời ca tụng, ngưỡng mộ về
sự tinh thông chiến thuật và tinh thần hăng hái xông xáo. Một cựu cán
binh Bắc Việt xác nhận về sự dũng cảm của sư đoàn 7 bộ binh:
“Vùng giải phóng bị thu hẹp... Tôi mất thêm thời gian di chuyển quanh, cố tránh xa các cuộc hành quân của quân đội VNCH.
Ở
Bến Tre (tức tỉnh Kiến Hòa) sư đoàn 7 VNCH là lực lượng chính gây nên
nhiều khó khăn. Hầu hết sư đoàn được tuyển mộ ở vùng châu thổ sông Cửu
Long nên họ biết rành hết cả vùng. Họ thông thuộc vùng này cũng như
chúng tôi.” (tác giả trích dẫn David Chenoff và Ðoàn văn Toại, sách
Chân dung kẻ địch, Random House ở New York xuất bản năm 1986).
Tình
hình còn tồi tệ hơn khi các đơn vị quân đội Bắc Việt điền khuyết cho
các đơn vị “Việt cộng”, không hiểu biết chút nào về vùng này và được
trang bị kém cho cuộc chiến kiểu các rặng cây ở phía Bắc vùng châu thổ.
Một tù binh cho biết bị bắt sống không bao lâu sau khi tới, lúc anh ta
và những người khác được lệnh phục kích một cuộc hành quân càn quét của
sư đoàn 7 vào ngày hôm sau. Bố trí xong trước bình minh, đội quân đáng
lẽ phục kích người ta thì lại bị tấn công từ phía sau do thành phần bên
sườn của sư đoàn 7, trước khi tới lượt lực lượng chính. (Tài liệu trích
dẫn).
Kết
quả của điều này thêm hiển nhiên trong thời gian giữa 1968 và 1971,
thời kỳ mà quân số lực lượng Hoa Kỳ giảm thiểu hơn một nửa, trong khi
những cuộc hành quân tấn công của Việt cộng và quân Bắc Việt lại bị suy
giảm rõ rệt:
(Bảng
thống kê trong bài ở đoạn này cho thấy lực lượng Mỹ ở Việt Nam từ năm
1968 đến 1971 đã giảm 322 ngàn quân, tức 58%, các cuộc tấn công của
Việt cộng và quân Bắc Việt cấp tiểu đoàn trở lên giảm 98%, chỉ còn 2
trận, những cuộc tấn công lẻ tẻ của phía cộng sản cũng giảm, kể cả
những vụ bắt cóc, khủng bố, trong khi số xã ấp có an ninh tăng 56%,
diện tích trồng tỉa lúa tăng 9.8%, thương vong vì chiến tranh của dân
và quân phía VNCH giảm 55%, quân số của Việt cộng, Bắc Việt trên toàn
miền Nam giảm 21%).
Tỉ
lệ về các cuộc tấn công lớn nhỏ của phía cộng sản giảm hơn là tỉ lệ
giảm quân số, cho thấy một sự sa sút toàn diện về khả năng quân sự,
dưới tỉ lệ dự đoán là 21% quân số sụt giảm. Ðiều này xảy ra trong khi
quân số tham chiến của Hoa Kỳ giảm tới 58%. Quân cộng sản Bắc Việt và
Việt cộng không những chỉ có mặt ít hơn trên toàn lãnh thổ, mà còn kém
khả năng tung ra những cuộc hành quân tấn kích.
Nhiều
con số thống kê của VNCH không chính xác, nhất là con số xã ấp có an
ninh thì lại còn kém xác thực hơn, nhưng biểu đồ khuynh hướng khá rõ
ràng, và không có bằng chứng dù về thống kê hay tin đồn vặt, mà nêu ra
điều gì khác hơn là sự xuống dốc thẳng đứng trong thời vận của quân
Việt cộng và quân đội Bắc Việt trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1971.
Trong khi Việt cộng, gọi như vậy để phân biệt với quân Bắc Việt, không
bị tiêu diệt hoàn toàn, và những ổ kháng cự có ảnh hưởng mạnh do họ
kiểm soát vẫn tồn tại ở những tỉnh như Chương Thiện, Ðịnh Tường, Quảng
Nam, Quảng Ngãi, thì Việt cộng ở địa phương cũng không còn là một lực
lượng chiến lược. Nếu không có sự xâm nhập đại quy mô của quân Bắc Việt
và sự cung cấp vũ khí hiện đại, thì chiến tranh đã dần dần tự tàn lụi.
Những đơn vị và khu vực của Việt cộng tồn tại được cũng hoàn toàn không
phụ thuộc vào quân đội Bắc Việt để sống còn. Tác giả “phản chiến”
Frances Fitzgerald của cuốn “Lửa trong hồ” (thật khôi hài, là cuốn sách
bị đả kích bởi cả người chỉ đạo về tư tưởng của Hà Nội, Nguyễn Khắc
Viện, lẫn người ủng hộ Mặt trận Giải phóng và Hà Nội, Ngô Vĩnh Long),
nhìn nhận rằng khả năng sinh tồn của cả Việt cộng lẫn QLVNCH hồi năm
1966 là mỗi bên 50%, nhưng đến 1969 thì cơ hội sống còn của Việt cộng
chỉ còn 10%, trong khi tỉ lệ này phía QLVNCH lên hẳn 90%. Nguyễn Văn
Thành, sau 23 năm theo Việt cộng, hồi chánh năm 1970, cho rằng cứu cánh
của Mặt trận giải phóng là vô vọng. Ông ta nêu ra những cuộc hành quân
gia tăng của QLVNCH, sự phát triển những đơn vị Nghĩa quân xã quận và
các chương trình Nhân dân tự vệ, cùng với kế hoạch cải tổ về ruộng đất
của chính phủ VNCH, coi đó là những việc không thể đối phó được nữa.
Stanley Karnow khẳng định thằng thừng trong cuốn sách được đánh giá cao
quá đáng của ông, không cần giải thích nguyên do, rằng đến năm 1971,
thì “riêng phía Việt cộng không phải là đối thủ của quân đội chính
quyền Sài Gòn.”
Don
Colin trải qua nhiều năm ở Việt Nam, được nhiều người biết đến qua lối
bày tỏ thô lỗ, phản bác thô bạo và quá đáng, cộng với lối rủa sả om sòm
những gì mà ông ta coi là tào lao nhảm nhí. Ông này đã phải chịu đựng
những khó khăn trở ngại, những khởi đầu sai lạc cùng những vấn đề tương
tự, bị coi như toàn những điềm gở. Nhưng năm 1971 Don Colin cũng thấy
những kết quả tích tụ hiển hiện ở vùng châu thổ:
“Ba
mươi tháng trước, con số những cấp chỉ huy giỏi ở quân khu IV chỉ đếm
được trên một bàn tay. Ngay cả tư lệnh quân đoàn, một cấp chỉ huy tốt,
trong sạch và tương đối có khả năng, cũng nhút nhát, thiếu óc sáng tạo
và không đủ sức kích động thuộc cấp vào những hoạt động xông xáo và
tích cực. Cấp tư lệnh sư đoàn thì phần lớn thiếu khả năng, hầu hết các
tỉnh trưởng cũng kém cỏi và tham nhũng. Các cấp chỉ huy thuộc quyền của
họ thì chẳng những noi gương xấu mà nhiều khi còn phạm khuyết điểm quá
hơn cấp trên nữa. Nhưng nay thì chuẩn mực chung về tài năng, sự trong
sạch và tận tâm đã tăng lên tới mức mà trước kia tôi cho là không thể
tưởng tượng được. Sự thay đổi đặc biệt này khiến tôi thêm lạc quan tin
tưởng ở khả năng tối hậu của chính phủ trong việc kiểm soát được Việt
Nam và thành lập một chính quyền ổn định.”
(Còn tiếp)