Trong
số nhiều diễn giả Việt-Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm của
riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên
viên tình báo cao cấp trong nhiều năm. Bài này được chuyển ngữ từ
nguyên bản bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày, vắn tắt
hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả,
cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ. Những
chữ viết ngả để trong ngoặc đơn là chú thích của tác giả để câu văn
chuyển dịch mang được đầy đủ ý nghĩa của nó.
Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng lẫn phẩm
chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi không hề được
giới truyền thông tin tức (Hoa Kỳ) lưu ý, và nhìn chung thì đến nay vẫn
không được công chúng Mỹ biết đến, vẫn không được nhận chân và mô tả
đầy đủ trong nhiều cuốn sách tự coi là “sách sử”. Một phần nguyên nhân
của sự kiện này là do bản chất và tầm mức của sự thay đổi không dễ được
tiên đoán hay tiên kiến, dựa trên hiệu quả hoạt động và khả năng của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1968.
Bài
này không hề muốn chối bỏ những vấn đề nghiêm trọng đã hiện hữu, hay
phủ nhận rằng vấn đề tham nhũng, lãnh đạo kém cỏi không tiếp tục gây
hiểm họa cho khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước
họ. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, những
vấn đề này có được giải quyết, và những khía cạnh tích cực của Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa không thể bị xóa khỏi trang lịch sử vinh quang.
Tôi
đã tự chứng nghiệm điều này, khi đến Việt Nam cuối năm 1971 và phục vụ
1 năm tại MACV(Phái Bộ Quân Viện Hoa Kỳ tại Việt Nam), rồi sau đó trở
lại thêm hai năm, từ 1973-1975, làm việc ở Phòng Tùy Viên Quân Sự. (DAO)
Khởi
thủy, được huấn luyện và dự trù phục vụ như một cố vấn, tôi tham dự
khóa huấn luyện căn bản sĩ quan lục quân tại Fort Benning, Georgia,
tình báo chiến thuật và chuyên biệt về Ðông Nam Á ở Ft. Holabird,
Maryland, và học trường Việt ngữ tại Ft. Bliss, Texas. Tới Việt Nam thì
được biết những nhiệm vụ cố vấn đang được giảm dần để đi đến chỗ bỏ
hẳn; nên thay vào đó tôi được chỉ định vào MACV J-2 với cương vị một
chuyên viên phân tích tình báo, trước hết phụ trách Cambodia, rồi tập
trung vào Quân Khu IV, bao quát toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Công
việc này mở rộng một cách không chính thức để bao gồm công tác liên lạc
giữa Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, các toán cố vấn Mỹ,
các chính quyền tỉnh thị của Việt
Nói
tiếng Việt là điều vô cùng quan trọng, và trong vòng một tháng sau khi
tới Việt Nam, thật rõ ràng hiển nhiên là những điều tôi từng nghe ở Mỹ,
dù là tin tức báo chí hay là những cuộc thảo luận ngốc nghếch trong các
trường đại học, mà có thể diễn tả được những gì tôi đang trải qua và
gặp phải. Nói vắn tắt, tôi tự hỏi “Nếu quả thật tất cả những người ở Mỹ
đang nói về Việt
Những thời khắc ngoài giờ làm việc của tôi được dàn trải trọn vẹn trong một kích thước thực tế hoàn toàn Việt
Sự
học tập của tôi không dừng lại ở năm 1975. Từ đó đến nay tôi đã đọc
hằng feet/khối những tài liệu giải mật và hằng trăm cuốn sách, kể cả
những tác phẩm tiếng Việt, phỏng vấn đến mức từ kỷ lục này qua kỷ lục
nọ với những cựu chiến binh gốc Ðông Nam Á và gốc Hoa Kỳ, săn tìm trong
hằng trăm trang web Việt Nam và Ðông Nam Á trên Internet. Vẫn còn rất
nhiều điều về Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan hơn là những gì công
chúng Hoa Kỳ tưởng, và những kết luận do những người ở các xứ ấy tự
trình bày lên thì lại không phù hợp với những gì mà hầu hết mọi con
người (ở Mỹ) tưởng là họ biết.
Quả
là có những vấn đề nghiêm trọng về tham nhũng. Ðúng là có những tấm
gương về lãnh đạo bất xứng. Tuy nhiên, chẳng phải ai nói hay gợi ý gì
với tôi, mà chính là ngay lần đầu tiên đến với Sư Ðoàn 9 Bộ Binh Việt
Nam Cộng Hòa, tôi đã phát giác khả năng dày dạn và đầy chuyên nghiệp
trong những hoạt động mà tôi chứng kiến ở một trung tâm hỏa lực cấp sư
đoàn. Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư Ðoàn
7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa, đơn vị cứ mãi bị kết tội vì khả năng chiến
đấu kém cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đã biến thái thành một đơn vị có
hiệu năng chiến đấu cao dưới tài lãnh đạo chỉ huy của Tướng Nguyễn Khoa
Nam, một con người thanh liêm không một tì vết, song song với tài năng
về chiến thuật, mà đến nay vẫn không hề được công chúng Hoa Kỳ biết
tới, tuy đã được người Việt Nam tôn sùng đúng mức. Cũng không hề có ai
ngụ ý hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Ðịa Phương Quân tỉnh Hậu
Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đã làm mất mặt chẳng những 1 mà tới
3 trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn công
năm 1972 của Hà Nội. Họ đã nhai nát và nhổ ra nguyên cả lực
lượng xung kích của đối phương, một lực lượng có thể đã làm đổi chiều
lịch sử vào thời kỳ đó.
Ðịa
Phương Quân không được Pháo Binh và Không Quân sẵn sàng yểm trợ như lực
lượng chính quy Việt Nam Cộng Hòa, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Ðộng
Quân, Thủy Quân Lục Chiến. Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến
đấu căn bản bộ binh. Nếu quân Bắc Việt đánh thủng được chiến tuyến này
thì họ đã lập tức trực tiếp đe dọa Sài Gòn, chỉ cách đó 25 dặm, buộc Sư
Ðoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa phải rút khỏi quốc lộ 13, từ đó để
cho lực lượng Bắc Việt hướng thẳng vào An Lộc. Và
như Tiến Sĩ James H. Willbanks viết trong tác phẩm xuất sắc của ông (về
trận An Lộc), Sư Ðoàn 21 tuy không thành công trong việc phá vòng vây
An Lộc nhưng cũng đã buộc Bắc Việt phải đưa một sư đoàn đổi hướng khỏi
chiến trường An Lộc, nếu không, nơi này có thể đã sụp đổ với những hậu
quả khốc liệt.
Nói
vắn tắt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một cách toàn diện, đã có khả năng
cao hơn nhiều so với những gì tôi biết trước khi tôi qua Việt
***
Trở
lại thời kỳ đang thảo luận trong bản thuyết trình này, ai cũng biết
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vướng mắc nhiều vấn đề trầm trọng. Ðiều này
là hiển nhiên. Nếu không như vậy thì đã chẳng cần phải yêu cầu những
đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ,
Tuy
nhiên, còn có những chỉ dấu cho thấy lực lượng Việt Nam Cộng Hòa khi
được trang bị đúng mức và chỉ huy tốt đẹp thì sẽ có khả năng tới đâu.
Năm 1966 một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Việt Nam Cộng Hòa đã gây thiệt
hại nặng và đã “giúp” giảm quân số chỉ còn 1 phần 10 cho một trung đoàn
Bắc Việt đông gấp ba lần họ ở Thạch Trụ. Tiểu đoàn này được Tổng Thống
Johnson tặng thưởng “Huy chương của tổng thống Hoa Kỳ”. Ðại Úy Bobby
Jackson, cố vấn tiểu đoàn này, đã mô tả người đối tác của ông, Ðại Úy
Nguyễn Văn Chinh (hay Chính?), như là con người tuyệt nhiên không hề sợ
hãi. Tiểu Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, mang huy hiệu Trâu Ðiên, đã từng
bắt nạt nhiều đơn vị cộng sản miền Nam và chính quy Bắc Việt, chứng tỏ
sự xứng hợp của huy hiệu trâu điên (càng có ý nghĩa đối với những ai đã
từng gặp phải một con trâu đang nổi giận (và bị nó ăn hiếp!) Công trạng
của họ không hề được tường trình trong giới truyền thông tin tức của
Hoa Kỳ, và về sau cũng bị bỏ quên trong cái gọi là “lịch sử”...
Năm
1968, trong bối cảnh cuộc tổng công kích 68 thất bại của Hà Nội, các
nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ thấy rõ là kế hoạch Việt Nam hóa
phải được tăng tiến, nhưng nhiều người (Mỹ) lại lầm tưởng đó là ranh
giới giữa hai thời kỳ, thời kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không chiến
đấu, và bây giờ là lúc họ bắt đầu chiến đấu. Thái
độ này đã bỏ quên dữ kiện là mức tử vong vì chiến sự hằng tháng của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã vượt xa mức tổn thất trong toàn cuộc
chiến của tất cả các lực lượng đồng minh cộng lại.
Rốt
cuộc thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng được cung cấp vũ khí tối tân,
thay thế những trang bị thời Thế Chiến Thứ Hai mà hầu hết quân lực này
phải sử dụng (khoảng đầu năm 1968 chỉ có 5% quân đội Việt Nam Cộng Hòa
được trang bị súng M16), nhìn chung thì thua kém vũ khí của Việt Cộng
và bộ đội Bắc Việt. Ðồng thời, quân số cũng tăng tiến, theo như bảng
dưới đây trình bày:
(Bảng
ghi những con số gia tăng quân số của các lực lượng chính quy và Ðịa
Phương Quân, Nghĩa Quân, từ năm 1968 đến năm 1972, cho thấy quân số
tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1 triệu 48 ngàn quân. Trong đó, Không Quân gia tăng quân số tới 163%, Hải Quân tăng 110%, Lục Quân tăng gần 8% quân số)
Trong
bảng này, nhóm từ Anh ngữ ARVN, tức the Army of Republic of Vietnam, có
nghĩa là Lục Quân Việt Nam, chỉ bao gồm 38% Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
(tác giả không đồng ý dùng nhóm chữ ARVN để chỉ Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa, và ông dùng nhóm chữ RVNAF, Republic of Vietnam's Armed Forces).
Ngoài ra còn những thành phần khác, gồm Cảnh Sát Dã Chiến, Nhân Dân Tự
Vệ, và các toán Xây Dựng Nông Thôn.
(Còn tiếp)
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |