(Kính tặng những ân nhân đả và đang tranh đâu cho sự hiện hữu của lá
quốc kỳ vàng ba sọc đỏ trên thế giới và riêng tại Hạ Uy Di.)
Nếu
tính từ thời các vị vua Hùng dựng nước cho tới ngày nay, sinh mệnh của
dân tộc Việt đã có hơn mấy ngàn năm lịch sử. Để có được một giang sơn
cẩm tú đẹp đẻ như hiện tại, tổ tiên ta bao đời đã không ngừng dùng máu
nước mắt và thân xác, tranh đấu dũng liệt để ngăn chận, chống lại ngoại
xâm, nhất là giặc Tàu phương Bắc. Nhờ vậy dân tộc Hồng Lạc mới được
trường tồn
Ngày 30-4-1975, cọng sản quốc tế Hà Nội vào Sài
Gòn, gây nên một cuộc đổi đời mạt kiếp, tồi tệ và kinh hoàng nhất qua
các thời đại lịch sử, không thua gì 10 thế kỷ Bắc thuộc hay 100 năm bị
thực dân Pháp đô hộ. Ba mươi năm qua vẫn không có gì thay đổi dưới sự
cai trị của một chế độ toàn trị bạo tàn, vẫn cướp bốc giết người, đàn
áp tôn giáo, trả thù người sống không thuộc băng đảng phe nhóm. Cũng
vẫn cầy mồ dầy mã người chết và tệ mạt hơn hết là Bắc Bộ Phủ dám đem
đất đai biên giới, đảo biển của đất nước, bán nhượng cho Tàu cộng cũng
như khoáng nhượng thế chấp lãnh thổ khắp nước cho tư bản, mục đích cũng
chỉ để củng cố đảng cọng sản và thu thập tiền vàng chia nhau hưởng thụ.
Tóm lại trong dòng sinh mệnh của dân tộc, người VN chưa bao giờ
bị một chính quyền nào, kể cả thời phong kiến quân chủ, chà đạp nhân
cách, bóc lột tài sản và khốn khổ thân xác, cho bằng đã sống dưới chế
độ cọng sản, qua danh từ hoa mỹ là ' xã hội chủ nghĩa'. Thời nước Việt
bị giặc Tàu, giặc Tây đô hộ, cũng đâu có cảnh dân chúng đã phải bỏ quê
làng, mồ mả tổ tiên một cách tập thể, để di cư từ đất Bắc vào miền Nam
hay vượt biển ra nước ngoài để trốn giặc. Thật là:
'đôi dép râu giẫm nát đời son trẻ
mũ tai bèo khép kín nẻo tương lai
Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do..'
Bỗng dưng thấy thấm thía tận cùng, khi vô tình đọc được một bài ca dao cổ, mà các bà mẹ VN bao đời thường hát để ru con:
'gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Võng đào mẹ bế, con Rồng cháu Tiên..'
Cách
đây mấy chục thế kỷ, các tổ Hùng Vương đã mở nước Văn Lang và bao đời,
tiền nhân ta tiếp nối xây dựng, bảo tồn và gìn giữ đất nước. Từ năm
1945 tới nay, trong cuộc chiến ngăn chống sự xâm lăng đồng hóa của chủ
nghĩa duy vật cọng sản, đã có không biết bao nhiêu thế hệ thanh niên VN
đã gục ngã trước súng đạn và bạo lực. Tuy vậy, trưa ngày 30-4-1975 vì
tuân theo lệnh của Dương Văn Minh, QLVNCH đã buông súng rã ngũ nhưng
hầu hết các chiến binh không đầu hàng và chẳng có ai bị cảm hoá hay tẩy
não, dù đã bị giặc cầm giam tại các trại tù khắp nước, trong nhiều năm.
Tại
hải ngoại, suốt ba chục năm qua (1975-2005), người Việt dù đang sống
kiếp lưu vong trên khắp các nẻo đường thế giới, nhưng ai cũng khắc ghi
trong tâm khảm lời thề phải quang phục TỔ QUỐC, lấp kín cái vũng bùn ô
uế tanh hôi của thiên đàng cọng sản, để ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc
và người Việt mới có thể, ngẩn mặt sánh vai với thế kỷ văn minh của
nhân loại.
1- GHI NHỚ CÔNG ĐỨC DỰNG NƯỚC CỦA TỔ HÙNG VƯƠNG:
Theo
Việt sử, Họ Hồng Bàng là triều đại đầu tiên của nước ta, có quốc hiệu
là Văn Lang. Qua truyền thuyết được ghi trong tất các bộ sử ký nước
Nam, từ trước tới nay thì nước Văn Lang truyền được 18 đời vua, mới bị
mất nước về tay Thục Phán, cũng là một người Việt trong nhóm Bách Việt.
Đó
là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Au Cơ, Hùng Quốc Vương, Hùng Việt
Vương, Hùng Hi Vương, Huỳng Huy Vương, Hùng Chiêu Vương, Hùng Vị Vương,
Hùng Định Vương, Hùng Uy Vương, Hùng Trinh Vương, Hùng Vũ Vương, Hùng
Anh Vương, Hùng Hiền Vương, Hùng Tạo Vương, Hùng Nghị Vương và Hùng
Tuấn Vương.
Thục Phán đánh bại vua Hùng thứ 18, vào khoảng thế
kỷ thứ III trước tây lịch. Do nhà vua là người thuộc nhóm Âu Việt, nên
đổi tên nước là Âu-Lạc ( tức là Lạc Việt và Âu Việt), xưng hiệu là An
Dương Vương, dời kinh đô từ Phong Châu về Cổ Loa, thuộc Huyện Đông Anh,
tỉnh Phúc Yên (Bắc Phần).
Riêng về danh xưng quốc tổ Hùng Vương
của VN, đã có sự bàn cãi sôi nổi của nhiều học giả trong cũng như ngoài
nước, cũng chỉ vì các danh từ Lạc Hầu, Lạc Tướng nên phải có Lạc Vương,
chứ không phải Hùng Vương. Đầu tiên là một học giả Pháp tên Henry
Maspéro, tiếp theo có Sở Cuồng Lê Dư, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Dào Duy
Anh (miền Bắc), Phạm Hoàng Mỹ, Trần Viên Chung (miền Nam)..trước tháng
5-1975. Chung qui cũng vẫn quanh vấn đề, phải gọi vua nước Văn Lang là
'Hùng vương hay Lạc Vương?'
Vì nước ta bị Bắc Thuộc cả ngàn năm,
nên hầu như các nguồn sử liệu trước đó, đã bị mất mát hay tiêu hủy, nên
chẳng có một chứng tích nào sót lại, ngoài sử do người Tàu thời đó
viết, để minh chứng xác thực. Mãi cho tới thời vua Trần Thái Tôn vào
năm 1217, sử gia đầu tiên của nước ta là Lê Văn Hưu, mới soạn bộ 'Đại
Việt Sử Ký', gồm 30 quyển nhưng cũng chỉ bắt đầu, từ thời vua Triệu Vũ
Đế (207 trước TL) của Nhà Nam Việt, cho tới cuối nhà Hậu Lý (vua Lý
Chiêu Hoàng ) mà thôi.
Thời Vua Lê Thánh Tôn, quan Lễ Bộ
Thượng Thư là Ngô Sĩ Liên, mới tom góp, sưu tầm và ghi chép lại những
huyền thoại, truyền thuyết trong dân gian, qua hai tác phẩm 'Việt Điện
U Linh 'của Lý Tế Xuyên và 'Lĩnh Nam Chích Quái' của Trần Thế Pháp, để
viết bộ 'Đại Việt Sử Ký Toàn Thư', gồm 15 quyển, chia thành hai phần,
trong đó 5 quyển đầu gọi là 'Ngoại Kỷ' chép từ đời Hồng Bàng cho tới
năm 938 sau TL, Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán, mở nền tự chủ cho dân
tộc VN tới ngày nay.
Cũng từ đó, nước ta qua các triều đại, đều
làm lễ giỗ Tổ Hùng Vương, vào ngày mồng mười tháng ba (10-3) âm lịch
hằng năm. Truyền thống trên bao đời đã khắc sâu vào tâm trí của người
Việt cả nước, và phát sinh ra câu phong dao mà ai cũng đều thuộc lòng:
'Dù ai đi ngược về xuôi
nhớ ngày giỗ Tổ, mồng mười tháng ba.'
Trước
năm 1945, giỗ Tổ Hùng Vương được quan Lễ Bộ Thượng Thư, thay mặt nhà
vua làm chủ tế, tại đền 18 Tổ Hùng được xây dựng từ thời Hậu Lê (hậu
bán thế kỷ XV) và liên tiếp được tu bổ nhiều lần vào thời nhà Nguyễn.
Đền Hùng được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc đế đô Phong Châu của nước
Văn Lang. Miền này nay là xã Hy Cương, Huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ
(Bắc Phần).
Phong Châu là đia linh nhân kiệt, phong cảnh hùng
liệt diễm tình, phía trước có nhiều sông lớn tụ hội, hai bên có nhiều
núi cao chầu hầu. Tại đây đất đai từ trên gò xuống tới bãi, đều màu mỡ
xanh tốt. Đúng là nơi định đô lập nghiệp muôn đời của một dân tộc tuyệt
luân phi thường, anh hùng bất khuất nhưng tâm hồn phong thái vẫn hòa
nhã yêu chuộng hòa bình.
Phong Châu cũng là Bạch Hạc ngày nay,
nằm bên tả ngạn sông Lô (Thao), cũng là nơi đã chứng kiến nhiều chiến
công của dân tộc trong dòng sử Việt, mà gần nhất là chiến thắng sông Lô
trong cuộc chiến tranh Việt-Pháp. Do các yếu tố phong thổ đặc biệt
trên, nên khi còn tại vị, các Tổ Hùng đã dựng đền trên núi Nghĩa Lĩnh
hay núi Hùng. Nghĩa Cương, Hùng Lĩnh hay Hy Cương đều chung một danh
xưng chỉ núi Hùng, cao 175m, nằm trong thôn Cổ Tích.
Núi Hùng
chung quanh được bao bọc bởi 99 ngọn đồi Voi Phục, với cây cối quanh
năm xanh tươi mát mẻ. Đền Hùng là nơi tế tự trời đất, thổ thần và tiên
tổ của dân tộc Hồng-Lạc. Đền này, từ đó về sau, trải qua các triều đại
trong lịch sử, đều được chọn làm Đền Tổ Hùng Vương.
Phong cảnh
đền Hùng muôn đời hùng vĩ, trời xanh nắng ấm vào tiết Thanh Minh nhằm
vào tháng ba âm lịch hằng năm. Trong dịp này, Đền đã có dịp soi bóng
trên dòng nước xanh của dòng Bạch Hạc, là vị trí giao lưu.
Trên
đường lên Đền Hùng, dưới chân nuí có Đền Giếng, trong đó tới nay vẫn
còn chiếc Giếng Ngoc, mà theo truyền thuyết là nơi, mà các vị công chúa
con vua Hùng, thường tới tắm gôi, chải tóc và tô môi. Rời Đền Giếng
phía ngoài, qua một một cổng xây bằng đá, để vào Đền Hạ. Theo sử liệu
được ghi chép trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, thì chính
nơi đây, quốc mẫu Âu Cơ của Đại Việt, một lúc sinh trăm trứng rồi nở
thành trăm người con trai. Sau đó mẹ chia phân nửa cho cha là Lạc Long
Quân, rồi dẫn những con còn lại lên núi. Phần Lạc Long Quân cũng nhường
ngôi vua cho con trưởng là Hùng Quốc Vương làm vua nước.
Trong
Đền Hạ có chùa Thiên Quang với gác chuông, bia đá cổ, trên đó ghi khắc
công đức dựng nước của Tổ Hùng. Chung quanh chùa còn nhiều đại thụ như
thông, tùng rất lâu đời nhưng vẫn xanh tốt, thân cây vài người nối tay
ôm không hết, đã nói lên sự thách thức với thời gian của cây, đồng hành
là sự tồn tại của dân tộc Hồng Lạc, trong dòng sử Việt, từ ấy đến nay.
Rời
Đền Hạ, leo 168 bậc đá là tới Đền Trung. Theo truyền thuyết, Đền Trung
là chỗ mà các vị Tổ Hùng luận bàn việc nước với triều thần, mà thời đó
được gọi qua danh xưng Lạc Hầu, Lạc Tướng. Đây cũng là nơi vua Hùng thứ
sáu, truyền ngôi là Hoàng Tử Lang Liêu, là người đã trúng giải nhất
trong cuộc thi, với hai thứ bánh Chưng và bánh Dầy, món ăn quốc hồn
quốc tuý của dân tộc Việt.
Đền Trung hiện tại là địa điểm đặt
TỔ ĐÌNH NAM BANG, thờ kính Mười Tám Vua Hùng. Trên cùng nơi đỉnh nuí là
Đền Thượng với tấm bảng vàng khắc bốn đại tự: 'NAM QUỐC SƠN HÀ'. Đây
chính là nới Các Tổ Hùng hằng năm tới làm lễ Tế Trời Đất và Thần Nông,
Cũng tại Đền Thượng vào đời vua Hùng thứ sáu, Phù Đổng Thiên Vương tức
là Thánh Gióng đã đánh thắng giặc Ân. Phía bên trái đền, có một ngôi mộ
đá rất cổ kính và được mọi người tin là chốn an nghĩ nghìn thu của Hùng
Vương thứ 6. Tại đây nhìn chung quanh, có nhiều núi lớn nhỏ, với hình
tượng rất giống bầy voi đang hường đầu quỳ về.
Trải qua bao đời,
hằng năm dân tộc Việt đều củ hành giỗ Tổ Hùng rất trang trong vào ngày
mồng mười tháng ba âm lịch. Đây được coi là ngày hội lớn nhất của đất
nước ta, theo đó dân tộc Việt vốn là Con Rồng Cháu Tiên, qua truyền
thuyết L5c Long Quân-Âu Cơ.
Trong suốt thời gian tồn tại của
VNCH, tại thủ đo Sài Gòn cũng có Đền Hùng, đê con cháu hằng năm tới làm
lễ cúng giỗ. Chánh phủ Miền Nam đã có một dự án lớn, xây dựng Đền Hùng
trên đỉnh nuí Chứa Chan, gần ngã ba ông Đồn, thuôc quận Xuân Lộc tỉnh
Long Khánh. Tiếc thay chương trình xây dựng bị hủy bỏ theo vận nước vào
ngày 30-4-1975. Hiện nay Đền Hùng đã theo chân người Việt tị nạn khắp
các nẻo đường hải ngoại tạm dung, vì người Việt còn thì ngày giỗ Tổ
Hùng vẫn miên viễn không ai có thể xoá hay thay thế bằng một danh xưng
nào khác, mà ông cha ta đã dựng lên từ mấy ngàn năm trong dòng sử Việt:
'Bia đá chẳng mòn tòa miếu cũ
Văn Lang muôn thuở tỏ Hùng Vương'
2- QUỐC HIỆU VÀ QUỐC KỲ VIỆT NAM:
Theo
sử liệu, thì quốc hiệu VIỆT NAM chính thức xuất hiện vào niên lịch 1802
là năm mà Đức Gia Long đã có công thống nhất được toàn cõi sơn hà từ Ải
Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu, sau hơn 300 nội chiến triền miên giữa các
dòng họ Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn.
Thật ra từ thế kỷ thứ XIV, hai
tiếng Việt Nam đã thấy xuất hiện trong nhiều tác phẩm lúc đó như Nam
Thế Chí của Hồ Tông Thốc , Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy
Chú, Du Địa Chí của Nguyễn Trải, Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ Văn của
Nguyễn Bỉnh Khiêm..Ngoài ra, các nhà khảo cồ sau này, còn tìm thấy
nhiều bia đá có niên lịch ghi trước thế kỷ XVIII ở Bắc Việt. Trong tất
cả các bia ký này, đều thấy có khắc hai chữ Việt Nam. Theo nhận xét của
các học giả, sử gia hiện tại, thì hai chữ Việt-Nam lúc đó, mang chung ý
nghĩa rất thiêng liêng, nhằm chỉ về một nước Việt ở Nam Phương. Để đối
chọi với sự mai mỉa khinh nhờn của người Tàu phương Bắc, mà suốt dòng
lịch sừ, luôn coi VN như một quận huyện bản xứ, qua danh từ miệt thị
'An Nam hay Giao Chỉ.'
Theo Dự Am Thi Tập của Phan Huy Chú viết
năm 1792, cho biết vào năm Quang Trung thứ 5 nhà Tây Sơn, đã ban chiếu
đổi quốc hiệu An Nam thành Việt Nam. Tiéc thay nhà Tây Sơn đã tồn tại
trong dòng sử Việt quá ngắn ngũi, nên viện xử dung quốc hiệu VN cũng
theo vận nước trôi vào quá khứ.
Riêng hai tiếng VN cũng đâu có
khác gì thân phận của dân tộc Hồng-Lạc nhược tiểu, luôn trôi nổi trong
dòng sinh mệnh lịch sử. Năm 1802 ngay khi thống nhất được đất nước, vua
Gia Long đã cử Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đi sứ sang nhà Thanh,
trả lai ấn phong của vua Quang Trung và xin nhận quốc hiệu cũ là Nam
Việt.
Ta biết Nam Việt là quốc hiệu của VN thời nhà Triệu
(207-111 trước tây lịch), có lãnh thổ rộng lớn, bao gồm Vân Nam, Lưỡng
Quảng, Hải Nam, Bắc Việt và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tỉnh phía bắc Trung
Phần. Do đó, chừng nào vua Càn Long mới chịu chấp nhận. Bởi vậy cho tới
năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà Thanh mới sai Tế Bá Sâm, mang quốc ấn và
chiếu phong vua Gia Long, đồng thời cũng chấp nhận quốc hiệu của nước
ta vào thời nhà Nguyễn là Việt Nam thay vì Nam Việt. Tuy nhiên phải đợi
tới cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng VN mới được cả trong và
ngoài nước, sử dụng với tất cả ý nghĩa thiêng liêng và toàn bích.
Riêng
về lá quốc kỳ VN hiện tại, lại càng thêm phức tạp vì VN ngày nay đang
sử dụng hai lá cờ : Đảng cọng sản quốc tế đệ tam đang đô hộ VN, được
Bắc Bộ Phủ tại Hà Nội, xài lá cờ máu đỏ sao vàng, nhái theo lá cờ của
đảng cong sản Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến, ngoài ra còn xài thêm lá cờ
đảng giống cờ nước VN xã nghĩa có vẻ thêm búa liềm, theo nguyên mẫu lá
cờ của Liên Bang Xô Viết cũ.
Còn quốc dân VN thì chính thức sử
dụng lá cờ màu vàng ba sọc đỏ, xuất hiện từ ngày 2-6-1948 cho tới tháng
7-1954, đất nước bị chia đôi nhưng chính phủ VNCH ở phía nam vĩ tuyến
17, từ Đồng Hà-Quảng Trị, vào tới Mũi Cà Mâu, vẫn tiếp tục sử dụng quốc
kỳ cũ của quốc dân VN. Từ sau ngày 30-4-1975, tuy đất nước VN bị cọng
sản quốc tế đô hộ nhưng cũng từ đó, trên khắp mọi nẻo đường hải ngoại,
hơn ba triệu ngươì Việt tị nan cọng sản, vẫn theo truyền thống của ông
cha, trân quý và chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, như một biểu.
Căn
cứ theo tác phẩm 'Quốc Kỳ Việt Nam' của Quốc Duy Nguyễn Văn An, thì
lịch sử hình thành lá quốc kỳ của dân tộc, được khởi đầu từ sáng kiến
của Phan Thanh Giản. Năm 1863 khi làm Chánh sứ hướng dẫn phái đoàn đi
sứ sang Pháp, để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Phần là Gia Định,
Biên Hòa và Định Tường, đã bị thực dân Pháp cưỡng chiếm vào năm 1862.
Khi tàu vào tới hải cảng, Pháp yêu cầu phái bộ VN treo quốc kỳ, để họ
tổ chức bắn súng đại bác chào đón theo nghi cách ngoại giao quốc tế. Vì
không chuẩn bị trước, nên Phan Thanh Giản phải lấy tạm chiếc khăn lụa
màu vàng và dùng son đỏ viết trên đỏ bốn đại tự 'Đại Nam Khâm Sứ'. Cũng
từ đó, lá cờ trên đã trở thành Cờ Long Tỉnh, tượng trưng cho Triều Đình
Nhà Nguyễn, với lãnh thổ còn lại gồm Bắc và Trung Phần.
Ngày
16-4-1945, học giả Trần Trọng Kim được Quốc Trưởng Bảo Đại, ủy nhiệm
lập Chính Phủ với nội cac gồm 10 Bộ Trưởng. Ngày 2-6-1945, Thủ Tướng
Trần Trọng Kim quyết định chọn quốc kỳ mới cho VN. Đó là lá cờ nền
vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ Ly (---)trong kinh Dịch. Ngày 30-6-1945,
Ông lại chọn bài Đăng Đàn Cung làm Quốc Thiều.
Tháng 2-1946,
D'Argenlieu được cử làm Cao Ủy Đông Dương, mục đích tái lập lại sự đô
hộ trên ba nước Việt-Miên-Lào, mà Pháp đã bĩ quân phiệt Nhật đánh đuổi
khỏi vùng vào ngày 3-9-1945. Để tiến tới ý đồ bất lương tên, thực dân
mưu toan nhiều lần tách hẳn Nam Kỳ của VN, để nhập vào lãnh thổ Pháp ,
đồng thời cai trị Bắc và Trung Phần như trước tháng 3-1945. Tuy nhiên
âm mưu xảo trá và nguy hiểm của giặc, lần lượt bị quốc dân VN phát hiện
và chống trả, khến cho các chính phủ Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch,
cũng lần lượt sụp đổ theo ý đồ thâu tóm đất đai của người Việt.
Ngày
8-10-1947, Nguyễn văn Xuân làm Thủ Tướng và lập nội các mới, trong đó
Trần Văn Ân được cử làm Thứ Trưởng Thông Tin. Trong giai đoạn này, hầu
như tất cả các vị trí thức yêu nước cũng như những đảng phái quốc gia,
đều cực lực chống lại chiêu bài chia cắt Nam Phần thành một miền tự trị
thuộc Pháp.
Nương theo lòng dân lúc đó, cụ Trần Văn Ân qua tư
cách của một chính khách kiêm Thứ Trưởng Chính Phủ, thẳng thắn đề nghị
Thủ Tướng Xuân, xủ dụng danh xưng 'Nam Phần VN', để thay thế cái gọi là
'Nam Kỳ Cộng Hòa Tự Trị', mà thực dân Pháp và bọn Việt Gian lúc đó đã
ngụy xưng một cách trơ trẽn. Ngoài ra ông cũng đã chọn Quốc Ca và Quốc
Kỳ cho cả nước.
Vào thời điểm 1948, lúc đó trên lãnh thổ VN đang
sử dụng năm lá cờ khác nhau: Ba lá của ba kỳ Bắc-Nam-Trung, một của đạo
Cao Đài và lá thứ năm của Phật Giao Hòa Hảo.
Cũng qua tài liệu
dẫn chứng trên, trong Ủy Ban chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho nước VN độc
lập, có Nguyễn Hữu Thiều làm chủ tịch, cùng các đại diện Đổ Quang Giai
(Miền Bắc), Trần Văn Lý (Miền Trung), Nguyễn Văn Xuân (Miền Nam) cùng
hai đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Cuộc triển lãm năm
mẫu cờ tại Phòng Khánh Tiết Sài Gòn, cuối cùng Uỷ Ban đã quyết định
chọn Lá Cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, làm Quốc Kỷ của Quốc Dân và Quốc Gia VN.
Sự
kiện lịch sử trên, về sau được Cựu Hoàng cũng là cựu Quốc Trưởng Bảo
Đại, đề cập tới trong tác phẩm 'Con Rồng Việt Nam (Le Dragon D'Annam)',
xuất bản năm 1990. Ngày 5-6-1949, trên chiến hạm Duguay Trovin, bỏ neo
trong vịnh Hạ Long. Lúc đó trên tàu có sự hiện của Quốc Trưởng Bảo Đại,
Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Cao Uỷ Pháp tại Đông Dương là Emile Bollaert
đại diện nước Pháp, thừa nhận nền độc lập của VN, mà quốc kỳ là lá cờ
vàng ba sọc đỏ như chúng ta hiện tại đang trân quý trên khắp mọi nẻo
đường lưu vong hải ngoại và cả trong hồn tim của triệu triệu người VN
trong nước đang sống nơi xã nghĩa thiên đàng.
Cho nên Lá Cờ Vàng
Ba Sọc Đỏ có một ý nghĩ khác biệt với Lá Cờ Máu của Cọng Sản VN, vì nó
không phải là của riêng bất cứ ai, từ Bảo Dại tới Nguyễn Văn Xuân, Ngô
Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương hay Dương Văn Minh. Trong
khi đó là cờ máu sao vàng, từ hình thức tới nội dung là tài sản riêng
của đệ tam quốc tế, của Liên Xô, Trung Cộng và Việt Cộng. Đó cũng là lý
do thiêng liêng mà người Việt qua mọi giai đoạn, từ trong nước cho tới
cuộc sống lưu vong, vẫn quyết tâm gìn giữ và đấu tranh để quốc tế công
nhân, dù hiện nay ngươi Việt quốc gia không có lãnh thổ, từ sau ngày
30-4-1975, quốc hận, gia vong, đổi đời người xuống thành chó, súc vật
lên làm chánh quyền, cai trị cả nước.
Lá quốc kỳ VN là biểu
tượng cao quý nhất trong linh hồn người Việt. Tháng 7-1954 hơn hai
triệu người đất Bắc và các tỉnh miền trung bên kia vĩ tuyến 17 vì công
nhận lá cờ vàng ba sọc đó của quốc dân, nên cắt ruột gạt nước mắt, bỏ
xứ vào Nam tìm tự do dưới bóng lá quốc kỳ màu vàng. Ngày 30-4-1975
người Việt lại bỏ nước ra đi vì không sống nổi đưới lá cờ máu của đảng
cọng sản, cho tới ngày nay, lập trường chính trị vẫn không hề thay đổi.
Lá
Cờ của quốc dân VN hiện tại, nền màu vàng, hình chữ nhật bề ngang bằng
nửa chiều dài. Trên nền vàng, ở phần giữa là ba sọc đỏ có kích thước
bằng nhau. Màu vàng của lá cờ tượng trưng cho dân tộc VN, trong cộng
đồng các dân tộc Châu Á da vàng. Màu đỏ tượng trưng cho sự đấu tranh
gian khổ, đẫm đầy huyết hận, nước mắt đoanh tròng, trong suốt chiều dài
của lịch sử chống ngăn ngoại xâm. Riêng Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba
phần của đất nước VN. Lúc đó, chính ký giả Nguyễn Kiên Giang (tên thật
Lý Thanh Cần ), giữ chức Giám Đốc Phòng Báo Chí thời Thủ Tướng Xuân.
Ông là người được chính phủ giao phó thực hiện lá quốc kỳ. Song song
Thủ Tướng Xuân còn chấp nhận bài hát 'Thanh Niên Hành khúc ' của Lưu
Hữu Phước sáng tác, lúc đó đương sự cũng như hằng triệu triệu thanh
niên nam nữ VN yêu nước, đang dấn thân đấu tranh chống thực dân Pháp,
trong hàng ngũ Việt Minh..
Ngoài ra trong tác phẩm 'Việt Nam
Nhân Chứng', cựu tướng Trần Văn Đôn cũng có viết là chính ông ta và
tướng Lê Văn Kim, là tác giả đã đề nghị thực hiện quốc kỳ và quốc ca VN
hiện tại. Nhưng sự xác nhận trên, chẳng những bị cụ Trần Văn Ân là nhân
chứng, tác giả cờ và quốc ca, cực lực phản đối, mà còn bị nhiều người
gạt bỏ không tin là sự thật. Bởi vào năm 1948, Trần văn Đôn cũng như Lê
Văn Kim..chỉ là sĩ quan cấp nhỏ trong quân đội, thì chừng nào mới tới
phiên được mời vào phòng hội, để nghị sự một vấn đề trong đại của quốc
gia lúc đó, chỉ có Nguyên Thủ, các cấp Bộ Trưởng, Thủ Hiến ba kỳ và
lãnh đạo cao cấp của của các giáo phái ..mời được mời họp với ý kiến và
quyết định.
Trong suốt cuộc chiến VN kéo dài gần 20 năm
(1955-1975), những ai đã từng là người dân trong vùng chiến nạn, xôi
đậu, bị giặc chiếm hay là lính trận chiến đấu nơi sa trường, đồn nghĩa
quân cheo leo miền biên tái, những biệt chính, biệt kích cảm tử hoạt
động riêng rẽ và các quân nhân bị thất lạc trong lúc đụng trận, mới cảm
nhận được sự thiêng của lá cờ và bản quốc ca hùng tráng, được thổi lên
khi xung trận. Quốc kỳ VN như mợt ngọn đuốc, soi đường mở lối đấu tranh
cho thanh niên nam nữ miền Nam trong suốt 20 năm đoạn trường máu lệ, vì
đất nước bị cọng sản đệ tam xâm lăng cướp đoạt.
Có còn nhớ hay
không những ngày tang tóc hỗn loạn của Tết Mậu Thân (1968), mùa hè đỏ
lửa 1972 tại An Lộc (Bình Long), Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định..Rồi
những ngày thi hành cái gọi là hiệp định ngưng bắn vào tháng 1-1973 và
sau rốt là 55 ngày cuối cùng của VNCH vào năm 1975.
Tại chiến
trường, để treo được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của quốc gia,
lên Kỳ Đài Huế trong Tết Mậu Thân, trền ngọn Đồi Đồng Long (An Lộc),
Tòa Hành Chánh Kon Tum và nhất là tại Cổ thành Đinh Công Tráng-Qiuảng
Trị..đã có không biết bao nhiêu sinh mạng của lính, trong mọi binh
chủng từ NQ+DPQ, Bộ Binh, Biệt Động Quân, Biệt kích Dù, Thủy Quân Lục
Chiến và Nhảy Dù, đã gục ngã làm thang cho đồng đội, tiếp nối hết lớp
này tới đợt khác, mới đạt được thắng lợi cuối cùng. Năm 1973, cọng sản
Hà Nội qua đồng thuận của Mỹ, đóng quân trên lãnh thổ VNCH theo tinh
thàn hiệp ước ngưng bắn. Chúng đã cố gắng treo dán khắp nơi từ cờ lớn
tới cờ nhỏ, những l1 cờ máu, khiên cho người lính VNCH, lại phải chịu
nhiều thương vong, dễ bảo vệ xóm làng, dân chúng, không để mất vào tay
cọng sản.
Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư đen 1975,
trong khi hầu hết bọn khoa bảng trí thức, chuyên lợi dụng sự tự do dân
chủ của chế độ, để phá thối đất nước miền Nam, ùn ùn tìm đủ mọi cách bỏ
chạy trước ra ngoại quốc và nay lại tiếp tục pha thối cộng đồng người
Việt hải ngoại, làm lợi cho VC hầu kiếm chút danh cặn tiền bèo. Trong
lúc đó, thì người lính lại chết hay bị thương, ở lại để bảo vệ thủ đô,
bến tàu, phi trường, xa lộ và những bãi đáp trực thăng, giúp Mỹ và hậu
phương có cơ hội chạy.
Thử hỏi trong giờ thứ 25, tính sổ lại
xem có bao nhiêu tướng lãnh đã bỏ chạy? Hay nói đúng hơn gần hết đã ở
lại chiến đấu với đồng đội thuộc cấp, cho tới lúc tàn cuộc. Những danh
tướng Lý Tòng Bá, Lê Minh Đảo, Trần Quang Khôi, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên
Vỹ, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khai Nam, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Tấn
Nghĩa..há không có phương tiện như Nguyễn Cao Kỳ, để trốn chạy ra tàu
Mỹ hay sao? Nhưng họ là quân tử thời đại, là kẻ sĩ nên coi trọng khí
tiết làm tướng hôn sinh mạng một đời. Vì vậy biết ở lại sẽ chết nhưng
vẫn chấp nhận hoàn cảnh, cuối cùng kẻ thì tự tử, còn người bị giam cầm
nhiều chục năm nơi tận cùng biên tái, làm gương muôn đời cho hậu thế
soi chung, vì hai chữ hy sinh cao quý 'lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh'
Trong
khi nguyên thủ bỏ chạy, nhưng quanh Sài Gòn và khắp bốn phương tám
hướng, tất cả những đơn vị còn lại của VNCH, vẫn hiên ngang chiến đấu
trong dơn độc. Nên không ngạc nhiên khi được đọc qua lời phê bình của
Sử gia người Anh, Sir Edward S Creasy, qua danh phẩm 'Fifteen Decisive
Battles of The World', cho biết tầm quan trọng của một cuộc chiến,
không phải chỉ căn cứ vào số người chết, tù binh và chiến lợi phẩm. Nó
được tính bằng thành quả ngày hôm nay, do cuộc chiến thắng đem lại.
Vậy
ta thử hỏi sau ba mươi năm chiến tranh chấm dứt (30/4/1975 -
30/4/2005), kẻ chiến thắng là đệ tam cọng sản Hà Nội, đã làm được những
gì, để mang tới phúc lợi, no ấm cho dân tộc VN?. Trong thời gian đó,
đất nước chúng ta có được độc lập tự do hay không? Cứ nhìn kết quả mà
không cần phải đơi câu trả lời.
Thật sự cho tới bây giờ, đất
nước VN vẫn là một quê hương bị đọa đày tang tóc khổ đau. Dân chúng đại
đa số nghèo đói lạc hậu. Xã hội băng hoại, kỷ cương tan nát, đạo đức
suy đồi và oán thù chất ngất vì hố phân chia mọi thành phần trong nước,
càng lúc càng sâu thẳm không biết đâu mà mò. Trong lúc bọn cán bộ viên
chức đảng nhà nước, bọn Việt gian-Việt kiều cò mồi, bọn tư bản đỏ trắng
tại Vn càng lúc càng giàu có vinh hiển tột cùng với tiền tỷ vàng ký,
thì người dân cả nước từ nông dân, người đánh cá, cho tới kẻ lạo động,
gần như kiếm ăn từng bửa.
Như vậy bảy mươi lăm năm qua, nói là
đi làm cách mạng để giải phóng nước bị ngoại xâm. Dân bị kềm kẹp. Thế
nhưng ba mươi năm hòa bình, giờ tính lại sổ đời, nước vẫn bị ngoại xâm
kềm kẹp, không phải chỉ có Nga-Trung Cộng mà cả khối tư bản Mỹ, Nhật,
Nam Hàn, Đài Loan-Singapore..Còn người dân thì cuộc sống còn thua cả
thời Pháp Thuộc, nói chi tới Hai mươi năm VNCH.
Hơn ba mươi năm
đổi đời rồi, cho dù Bắc Bộ Phủ có gian ngoan xảo trá tới đâu, bọn Việt
gian biển lận thế nào, thì cả nước trong cũng như ở hải ngoại cũng đã
hiểu gần như tất cả tấn thảm kịch VN, từ đó cho tới nay, chỉ do bàn tay
đẫm máu của băng đảng Hồ Chí Minh và đệ tam cọng sản gây ra mà thôi.
Ba
mươi năm nói là thống nhất nhưng Bắc-Nam cũng vẫn là Nam-Bắc. Lúc nào
cũng to mồm lớn miệng nói là tự do-độc lập thế nhưng mọi việc lớn nhỏ
của nước, đều do bàn tay tối cao của Liên Xô-Trung Cộng, nay lại thêm
bàn tay lông lá của lái súng Mỹ quyết định giùm.
Gần hai trăm
năm trước (1858), vua Tự Đức nhà Nguyễn vì thiển cận, không chịu nghe
theo lời canh tân đất nước của các sĩ phu trí thức thời đó như Nguyễn
Trường Tộ, Đinh văn Điền, Bùi Viện..mà cứ chạy theo ôm chân người Tàu
lúc đó cũng lạc hậu yếu hèn, nên rốt cục dân tộc phải bị thực dân Pháp
đô hộ đày đọa gần 100 năm tủi nhục thương đau. Ngày nay Việt Cộng cũng
đã bước vào lối mòn năm cũ, đã và đang ôm chân Tàu đỏ lẩn Tàu trắng một
cách tận tuyệt, để có một chỗ dựa an toàn cho đảng sinh tồn. Rồi tháng
lại ngày qua làm ngơ nhắm mắt, mặc kệ cho đồng bào cả nước càng lúc
càng lầm than đói rách, qua cái vỏ phát triển tiến bộ, được sơn phết và
tuyên truyền, khiến cho bất cứ ai còn một chút hơi hám của con người,
thấy ngó cũng phải đau lòng cho non sông gấm vóc bỗng dưng bị bàn tay
của đám giặc cỏ tàn phá không biết đến bao giờ mới dứt.
Ba mươi
năm rồi, Việt Cộng vẫn là Việt Cộng dù ngày nay hình người có thay đổi
từ quần áo vải thô sang lụa tơ gấm nhiễu. Tất cả vẫn nguyên vết như cái
thuở hồng hoang mới rời hang Pắc Pó, rừng Bắc Sơn hay chui ra trong các
hang Củ Chi, Vĩnh Mốc. Vẩn đảng cọng sản là trên hết, còn nước thì nước
xã hội chủ nghĩa. Vì vậy tất cả quốc gia đều là tài sản của đảng, của
cán bộ nên cứ ngang nhiên xén bán, cầm thế, mà không cần biết tới hậu
quả di hại cho con cháu và dân tộc mai sau.
Không ai muốn thấy
cảnh máu đổ xương tan, xảy ra trên quê hương mình. Nhưng người Việt
quốc gia dù ở đâu và thuộc về thế hệ nào chăng nữa, đều đau lòng trước
cái tên thân thương của thành phố Sài Gòn nay bỗng dưng phải mang cái
tên của kẻ phản quốc, dâm hung đứng đầu lịch sử.
Cũng không
thể đứng nhìn đồng bào cả nước mà phu nữ đã phải bán trôn khắp thế giới
để nuôi miệng, bán mạng để sống. Cũng không thể bắt người Việt hải
ngoại cứ đổ võ cho kẻ ăn ốc là bọn cọng sản và đám việt gian, việt kiều
tay sai năm vùng, bằng cách gửi tiền bạc về nước, để bọn lãnh đạo Bắc
Bộ Phủ vểnh râu làm giàu trên xương máu mồ hôi nước mắt của đồng bào tị
nạn. Cũng không thể để cho lá cờ máu và những tên quốc tặc, hiện diện
tuyên truyền, trong nhưng nơi chốn, có người Việt tị nạn sinh sống, mà
điển hình là vụ tên Trần Trường treo cờ máu và ảnh Hồ Tặc tại Tiểu Sài
Gòn, vào dịp Tết Kỷ Dậu 1999. Sau rốt cũng không cho VC tiếp tục lộng
hành, toa rập với đám tư bản bất lương Tây phương, Nam Hàn, Nhật Bản,
Tàu Trắng và tàn độc nhất là Trung Cộng, lũng đoạn kinh tế, phá nát kỷ
cương và chia xén lãnh thổ VN.
Bảy mươi lăm năm qua, người Việt
đã trăm lần hòa hợp, hòa giải, hòa bình với cọng sản nhưng trăm lần như
một, lần nào cũng bị chúng xảo quyệt, lường gạt, đâm sau lưng, mà lần
cuối cùng đau đớn nhất là ngày 30-4-1975. Cho nên ba mươi năm nay, kể
cả trẻ con cũng không còn ai tin vào sự hứa hẹn của cọng sản, trừ bọn
cò mồi không tim óc dù đã có cả núi bằng cấp và chữ nghĩa. Bởi vậy chỉ
còn một cach duy nhất, là cả nước đứng dậy phá tan xiềng xích nô lệ của
đảng cọng sản, để đòi lại những gì mà chúng ta đã mất, trong đó quan
trọng nhất là quyền sống của kiếp người.
Vấn đề còn lại hiện
nay, không phải là chờ Mỹ hay bất cứ một thế lực nào bật đèn xanh đèn
đỏ, mà là thời gian và lòng người. Đã có không biết bao nhiêu ngọn đuốc
soi bước dẫn đường, suốt ba mươi năm qua như Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn,
Hoàng Cơ Minh, Lý Tống..và nhiều nam nữ anh hùng khác. Tuy Họ đã thất
bại trước bạo quyền nhưng ngọn đuốc tự do vẫn được chuyền tay thắp
sáng, cho thế hệ hậu duệ và các đồng chí đồng bào, đã và đang đấu tranh
cho sự quang phục của đất nước
Có ai trong đời không một lần
phải chết nhưng trước khi nhắm mắt lìa đời, phải làm một điều thiện cho
quê hương, để khi xuôi tay nhắm mắt, không phải ngậm cười nơi chín suối
hay cứ than thân trách phận vì:
'Nợ nước chưa xong đầu đã bạc
trăm năm thân thế bóng tà dương..'
Hỡi ơi đời nay, không có gì buồn hơn nỗi buồn nhớ nhà khi tuổi già,dù nhà và nước đang ở trước mắt mình:
'Chiều xuống quê nhà đâu đó tá?
Trên sông, khói sóng não lòng ai ..'
(Thôi Hiệu)
Xóm Cồn
Tháng 4-2006.
Mường Giang