Quyền thành lập đảng ở Việt Nam
Theo Đàn Chim Việt - Thiên Đức - 10-05-2006
Quyền Tự do lập đảng là Tiền lệ Pháp luật Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) và có Truyền thống Lịch sử
Tôi chưa là luật sư dù đã tốt nghiệp đại học luật khoa Sài Gòn cùng
thời với luật sư (ls.) Ðặng Dũng, khóa cuối cùng được tổ chức trọng thể
với áo mũ đầy đủ theo truyền thống của ngành luật vào năm 1974. Tôi
cũng đã kết thúc khóa bồi dưỡng pháp lý của trường đại học pháp lý Hà
Nội tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh vào những năm cuối thập niên 80
cho những người tốt nghiệp luật khoa và quốc gia hành chánh cũ. Tôi đã
từng tham gia hoạt động và tổ chức sáng lập một trong những văn phòng
dịch vụ pháp lý hiếm hoi đầu tiên ở Sài Gòn (tiền thân của những văn
phòng luật sư hiện nay). Thế nhưng với chính sách cai trị bằng lý lịch
còn nặng nề vào thời điểm đó nên người viết chưa có cơ hội trở thành
luật sư thực thụ tại Việt Nam vậy. Sở dĩ người viết giới thiệu hơi rườm
rà như trên không ngoài mục đích là đảm bảo tính đồng nghiệp trong thảo
luận cùng hai ls Nguyễn Văn Ðài, và ls Ðặng Dũng trước một vấn đề luật
học đầy nhạy cảm. Đó là bài viết về Quyền tự do thành lập đảng tại Việt Nam và Phản biện bài viết của luật sư Đài, được phổ biến trên đài BBC.
Trước hết người viết bày tỏ lòng ngưỡng mộ dũng khí của hai ls Nguyễn
Văn Ðài và ls Ðặng Dũng trong việc làm sáng tỏ một vấn đề về luật học
bất chấp bạo lực và cường quyền cho dù các bạn tranh luận ở vai trò
biện giải hay phản biện và có được sự đồng thuận hay không, các bạn vẫn
có quyền bảo lưu ý kiến của mình. Ðây chỉ là sự giải thích và làm sáng
tỏ luật pháp, một công việc bình thường của một luật sư trong phạm vi
nghề nghiệp ở một xã hội văn minh, trọng pháp.
Sự giải thích luật pháp tự thân không phải là một hành vi chính trị hay hoạt động chính trị
dù rằng nội dung của nó liên quan đến chính trị. Tương tự như vậy, các
luật sư nhận bào chữa cho các vụ án chính trị đối lập với nhà nước Cộng
Sản, thì chính các luật sư đã thực hiện chức năng thuộc phạm vi nghề
nghiệp chứ không phải là người hoạt động chính trị. Việc phổ biến rộng
rãi một vấn đề luật học không thể bị qui kết là một sự vi phạm pháp
luật.
Mọi sự trấn áp, đe dọa,bắt bớ tù đày vì một hành vi giải thích luật
pháp trong phạm vi nghề nghiệp, đều trái pháp luật và hiến pháp.
 |
Quyền Tự do lập đảng — Nguồn: web.sfc.keio.ac.jp
|
Các
luật sư giải trình luật pháp trên Internet có phải là một hành vi chính
trị hay không? Theo tôi đó không phải là một hành vi chính trị để biểu
lộ sự đồng tình hay phản đối chế độ hiện hữu mà đó là một công việc phổ
biến luật pháp là một trong những chức năng cần có của người trợ tá
pháp luật. Nhà nước Việt Nam (VN) cần phải đặt lại vấn đề tại sao không
cho giới luật sư có một tờ nội san, một trang web riêng biệt để thảo
luận những vấn đề luật pháp trao đổi chuyên môn nhằm giúp đỡ cho giới
luật sư, thẩm phán có được sự đồng thuận trong việc bảo vệ hiến pháp.
Tờ báo Pháp Luật hiện nay là một tờ báo nặng về chính trị và thực thi
pháp luật, phổ biến rộng rãi trong quần chúng không thích hợp để dung
chứa những nội dung luật pháp cần tranh luận.
Trong thực tế, dưới chế độ XHCN tất cả mọi lãnh vực từ luật pháp, giáo dục, học đường.... thậm chí cả tôn giáo đều bị chính trị hoá.
Vì thế khi ls. Ðài mới phân tích một phần nhỏ trong luật học đã sớm trở
thành một đề tài chính trị nhạy cảm làm rung chuyển cả một chế độ, thì
đó là một điều đáng suy gẫm từ phía nhà nước VN và đảng Cộng Sản chứ
không phải từ giới học thuật chuyên môn.
Trở lại những năm cuối thập niên 80 nhà nước Việt Nam phục hồi lại sinh
hoạt của giới luật sư, tất nhiên đã công nhận luật sư có quyền ăn nói.
Quyền giải thích luật pháp là một trong những chức năng chính của người
luật sư. Vấn đề còn lại là nội dung luật học đã làm sáng tỏ đó có được
đồng thuận hay không là do tranh cãi trên căn bản Luật và Lệ chứ không do sự áp đặt chân lý bởi quyền lực chính trị.
Và kết luận chung cuộc của tranh luận là thuộc về Tòa án tối cao hay
Toà án Bảo Hiến (nếu có) sau này. Việc giải thích luật pháp này không
thuộc thẩm quyền của nhà nước, đảng Cộng Sản ĐCS), Mặt Trận Tổ Quốc, kể
cả quốc hội, cho dù quốc hội có quyền soạn thảo và ban hành hiến pháp
và luật lệ.
Ðã đến lúc giới luật sư Việt Nam nên hành sử đúng quyền lực và chức
năng của mình để giải thích tường tận, công khai mọi vấn đề luật pháp
cho người dân hiểu biết quyền lợi của mình, để sống và làm việc theo
hiến pháp như:
Ðiều 50: "Ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam, các
quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được
tôn trọng”...
Ðiều 69: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,
có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui
định của luật pháp”.
Cảm nhận đầu tiên khi đi vào nội dung thảo luận cùng hai luật sư là sự
giới hạn của bài viết chưa giải trình hết mọi khía cạnh luật pháp của
đề tài. Người viết cảm thông sâu xa điều đó vì hai luật sư chưa hoàn
toàn được độc lập trong vai trò người trợ tá pháp luật dưới chế độ
XHCN, còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi quyền lực chính trị, vì vậy người
viết xin được chấp bút làm tiếp công việc này.
Tôi đồng ý với ls. Ðài khi trích nguyên văn điều 68 Hiến pháp 1992: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú, ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về theo qui định của pháp luật”,
không có minh thị qui định quyền tự do thành lập đảng. Thế nhưng tôi
lại đồng ý với luận điểm của ls. Ðài tại Việt Nam có quyền tự do lập
đảng trên nguyên tắc “Luật pháp phải được giải thích chặt chẽ” chứ không phải dựa vào trích dẫn thiếu chính xác của ls. Ðài.
Theo điều 50 Hiến pháp: “Ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị… , xã hội được công nhận”.
Và hiện này chưa có văn bản luật pháp giải thích nội dung quyền con
người về chính trị như thế nào cả. Chúng ta có quyền giải thích đó là
quyền tự do thành lập đảng phái, tự do sinh hoạt chính trị vì ý nghĩa
này cũng không nằm ngoài nội dung quyền con người về chính trị, xã hội,
không trái với tinh thần hiến pháp.
Quốc hội có trách nhiệm phải điều chỉnh, bổ sung hiến pháp bằng những
tu chính án. Ví dụ như tu chính án chấp nhận hay bác bỏ quyền tự do
thành lập đảng tại Việt Nam. Thế nhưng theo nguyên tắc “Bất hồi tố của
các đạo luật hình”, các đảng phái đã thành lập trước đó không thể bị
truy tố hình sự bởi các đạo luật mới ban hành.
Không một ai có thể bị truy tố về tội danh thành lập đảng phái trái
phép. Nhà nước Việt Nam đã lợi dụng những tội danh khác để triệt tiêu
các đảng phái thì đó là một vấn đề pháp luật khác đi ngoài nội dung của
bài viết.
Từ năm 1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có một chính phủ đa đảng
như đảng Cộng Sản, Quốc Dân Ðảng (QDĐ), Ðại Việt, ... Tại thời điểm này
bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh làm căn bản luật pháp Việt Nam
không có lời nào nói về tự do thành lập đảng, và hiến pháp 1946 sau đó
cũng không quy định sự tự do thành lập đảng thì chúng ta có thể nào kết
luận các đảng khác ngoài đảng CSVN là vi phạm hiến pháp hay trái luật
pháp chăng?
Sự việc ông Hồ Chí Minh nhân danh đảng Cộng Sản mời các đảng phái khác tham gia nội các là một minh chứng rõ ràng nguyên tắc đa nguyên, đa đảng
đã được thừa nhận một cách công khai và mặc nhiên. Sau đó vì nhu cầu
chính trị, nguyên tắc đa đảng này chưa được áp dụng đầy đủ theo từng
giai đoạn lịch sử. Chứ không thể nói là Việt Nam không thừa nhận nguyên
tắc đa nguyên, đa đảng.
Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và hiến pháp bổ
sung 1960 cũng không có điều nào qui định về quyền tự do thành lập
đảng, thế mà trên thực tế đã có ba đảng tự do hoạt động đó là đảng Lao
Ðộng (tiền thân của đảng Cộng Sản hiện nay), đảng Dân Chủ và đảng Xã
Hội. Sự kiện này lại minh chứng thêm một lần nữa là Việt Nam có quyền
tự do thành lập đảng cho dù không có qui định trong hiến pháp. Như vậy,
quyền tự do thành lập đảng tại Việt Nam đã là một tiền lệ bất thành văn trong hệ thống pháp luật XHCN kể từ 1945.
Ngoài ra quyền tự do thành lập đảng đã có truyền thống lịch sử bắt
nguồn từ thời kỳ chống Pháp. Những đảng Việt Nam QDÐ, Ðại Việt, và cả
Ðảng Cộng Sản đều bí mật thành lập đâu cần ai cấp phép, bất chấp áp bức
và bạo quyền đô hộ. Và Chưa bao giờ các đảng phái này bị yêu cầu xuất
trình giấy phép thành lập cả. Thế thì tại sao các đảng phái sau này
không phát huy truyền thống lịch sử oai hùng này?
Do vậy những ai bào chữa cho nguyên tắc độc đảng và cấm quyền tự do
thành lập đảng là sai về mặt pháp lý và trái với truyền thống lịch sử
Việt Nam.
Từ trước đến nay, tất cả các đảng phái Việt Nam, kể cả đảng Cộng Sản đều chưa hoàn thành thủ tục hành chính
về cách thức thành lập đảng đối với sự quản lý của Nhà Nước, bởi lý do
Việt Nam chưa có luật định. Như vậy chúng ta có thể nào nói Ðảng Cộng
Sản Việt Nam vi phạm pháp luật chăng? (cho dù Ðảng Cộng Sản được định
danh minh thị trong hiến pháp Việt Nam). Việc đăng ký thành lập đảng
phái chỉ là những thủ tục hành chánh (theo luật định nếu có?). Sự kiện
chưa hoàn thành thủ tục hành chánh này bởi lý do khách quan của lịch
sử, không có nghĩa là các đảng phái không được quyền hoạt động. Các
đảng phái Việt Nam là những thực thể từng hiện diện trong sinh hoạt
chính trị Việt Nam rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau, ở trong
nước hay ở hải ngoại. Ðó là một thực tế khách quan không thể phủ nhận.
Hiện nay không thể nói là có ổn định chính trị bền vững, một khi các
đảng phái đã gia tăng hoạt động bí mật hay công khai làm ảnh hưởng đến
tất cả các tầng lớp xã hội ở một mức độ nhất định trong chiều hướng đi
lên. Ổn
định chính trị không có nghĩa là đàn 1p hay tiêu diệt đảng phái, mà
phải đặt tất cả các đảng phái trong một sân chơi chính trị bình đẳng
chung dưới bóng luật pháp. Vì càng đàn áp, nhân tâm càng ly tán, càng nổi lên đấu tranh. “Có áp bức là có đấu tranh”. Ðó là qui luật.
Có thể sử dụng giải trình này, để xét lại hành vi trước đây của Nguyễn Vũ Bình làm đơn xin thành lập đảng Tự Do – Dân Chủ,
trên ý nghĩa đấu tranh trực diện với Cộng Sản là một hành vi dũng cảm.
Thế nhưng về phương diện hành chánh đây là một việc làm không cần
thiết, nhà nước Việt Nam cho dù có đồng ý cũng không thể giải quyết đơn
xin, vì không có cơ sở pháp lý.
Về phương diện chính trị, hành vi này lại là một điều tối kỵ. Tại sao
xây dựng một đảng phái chính trị để đấu tranh nghị trường, bình đẳng với các đảng phái khác mà lại làm đơn xin phép đảng Cộng Sản cho thành lập? Hành vi này là một tiền đề của sự lệ thuộc chứ không phải là một lộ trình độc lập trong đấu tranh dân chủ.
Trong thực tế từ 1945 cho đến nay đảng Cộng Sản Việt Nam đã ra sức tiêu
diệt các đảng phái và các nhà đấu tranh dân chủ bằng bạo lực mà vẫn
không thành công. Ngoại trừ đảng Dân Chủ và Xã Hội củ tại miền Bắc tự
tuyên bố giải tán, còn lại tất cả các đảng phái khác chưa hề tuyên bố
giải tán, lại còn phát sinh nhiều đảng phái mới, vẫn hoạt động bền bỉ,
và hiện diện trong từng nhịp đập của đất nước. Chưa có văn bản pháp
luật Việt Nam nào minh thị đặt đích danh một đảng phái nào ngoài vòng
pháp luật cả.
Ðảng CS đã dựa trên nguyên tắc đấu tranh chuyên chính vô sản để không chấp nhận nguyên tắc đồng sinh tồn chính trị
trên lãnh thổ Việt Nam. Giờ đây sự nghiệp cách mạng vô sản đã bị phá
sản. Một khi tuyên bố chấp thuận cho đảng viên làm kinh tế, thì bản
chất đảng Cộng Sản đã hoàn toàn thay đổi, tuy rằng chưa có sự công nhận
chính thức.
Như vậy vào thời điểm này, trên cơ bản mục đích đấu tranh cho dân giàu
nước mạnh, dân chủ, tự do cho Việt Nam của tất cả đảng phái kể cả đảng
Cọng Sản tuy có khác biệt về đường lối thực hiện nhưng không phải quá
đối nghịch nhau về mục đích đấu tranh đến mức phải tiêu diệt lẫn nhau
(trên thực tế muốn tiêu diệt cũng không thực hiện được), phải chăng đã
đến lúc các đảng phái có thể (?) ngồi lại với nhau trong đấu tranh nghị
trường. Tình trạng đa nguyên đa đảng đã là một hiện thực không cần phải
bàn cãi nữa.
Ðảng Cộng Sản phải “vượt qua cái bóng của mình” để thừa nhận sự thật
này như đã từng thừa nhận Việt kiều hải ngoại (Cho dù họ đối nghịch hay
đồng thuận với đảng Cộng Sản) là vốn quý, là khúc ruột ngàn dậm mà một
thời đảng đánh giá họ là bọn phản động, ma cô, đĩ điếm theo gót ngoại
bang vậy, phản bội tổ quốc. (Tham khảo thêm vấn đề này ở bài “Góp ý Ðại Hội 10, bài 3/3 “ Tại sao không dựa trên quyền lợi Tổ quốc và dân tộc để đánh giá hoạt động của ĐCSVN” - www.ptdcvn.org, www.doithoai.com, www.phusa.net) .
Ðảng Cộng Sản lãnh đạo đất nước Việt nam trên căn bản Hiến pháp 1992 ở điều 4: Có nội dung nguyên văn như sau:
“Ðảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của
Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Hiến Pháp Việt Nam không có quy định nào cho đảng Cộng Sản là đảng duy nhât và lãnh đạo toàn diện.
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào minh thị qui định quyền lãnh đạo
này có ý nghĩa toàn diện. Cũng như không có văn bản pháp luật nào quy
định đảng Cộng Sản là đảng duy nhất được quyền hoạt động tại Việt Nam
cả. Như vậy bao nhiêu năm qua đảng Cộng Sản đã vi phạm Hiến pháp một khi còn duy trì tình trạng độc đảng và lãnh đạo toàn diện.
Một điều cần bàn cãi ở đây là Hiến pháp Việt nam còn bỏ ngỏ là không minh thị
cấm các công dân Việt Nam và đảng phái khác tham gia chính quyền trong
vai trò đồng lãnh đạo hay chia xẻ quyền lãnh đạo đất nước. (Ðiều 53
hiến pháp ghi rỏ: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội”.
Có giải thích chặt chẽ hiến pháp như vậy thì chúng ta mới không ngạc
nhiên khi có một ông bộ trưởng ngoài đảng xuất hiện trên chính trường
Việt Nam).
Ðiểm cuối cùng thảo luận trong đề tài này là người viết không đồng ý
với ý kiến của ls. Ðài về phương thức thành lập đảng. Bởi lý do là ý
kiến của ls. Ðài không có tính khả thi trong một tình thế chính trị mà đảng Cộng Sản chưa chính thức tuyên bố từ bỏ chuyên chính vô sản hay từ bỏ bạo lực cách mạng (?) thì không thể công khai lập ủy ban vận động, làm tổ chức chính thức hoạt động được.
Nếu ai đó công khai lập ủy ban vận động, chắc chắn sẽ bị tiêu diệt ngay
trong trứng nước. Các đảng phái chỉ có thể bí mật thành lập và hoạt
động tranh thủ quần chúng theo khả năng và vị thế xã hội của mình không
cần theo một qui củ nào cả, cho đến khi có luật pháp chính thức hay cho
đến khi có được đảm bảo trong một phạm vi quyền lực chính trị nào đó
mới có thể chính thức hoạt động công khai được.
Ðiều chú ý ở đây các đảng phái hoạt động không cần phải
tranh thủ sự đồng tình công nhận của đảng CSVN (cho dù đảng CS đang
lãnh đạo các cơ quan quyền lực). Vì trên nguyên tắc đảng CS cũng sẽ là
một tập thể chính trị giống như các tập thể chính trị khác cùng hoạt
động trong khuôn khổ luật pháp (Nếu có sau này?).
Tóm lại, trên lý thuyết tại Việt Nam có quyền tự do thành lập đảng, và
không vi phạm hiến pháp và luật pháp. Những người đấu tranh cho dân chủ
có phát huy được quyền tự do này hay không trong thực tế lại là một vấn
đề thuộc về phạm vi đấu tranh chính trị, không nằm trong nội dung của
đề tài.
09/05/2006
Copyright © 2006 by DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: