Từ Nghị quyết 8 đến Nghị quyết 36 và thái độ thù nghịch của CSVN
Hoa
Thịnh Đốn.- Đảng CSVN có hai Nghị quyết nói về người Việt Nam ở nước
ngoài, nhưng thái độ đối xử lại khác nhau, gây thêm chia rẽ và hận thù
hơn đoàn kết dân tộc. Vì vậy nên không mấy ai trong số “Việt kiều” muốn
về giúp nước trong một xã hội chính trị trái cẳng ngỗng như thế.
Tại
cuộc họp của Câu lạc bộ Khoa học Kỹ thuật (KH-KT) và UB người VN ở nước
ngoài diễn ra tại Sài Gòn (TP.HCM) hôm 7-7 (06) đã nói lên những hụt
hẫng của chính sách mời gọi trí thức về giúp nước
Tin của VNNET
viết: “Ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia Tài chính, kiều bào Mỹ, người
nhận danh hiệu Vinh danh nước Việt lần đầu tiên do VietNamNet bình
chọn, đã bắt đầu bài phát biểu bằng những lời tâm huyết gây nhiều xúc
động: “Dù chúng ta có sống ở bất cứ phương trời nào, có những phút suy
nghĩ như thế nào, chúng ta vẫn là anh em một nhà, chúng ta vẫn một dòng
máu chảy trong tim... ”. Ông cũng bày tỏ sự bức xúc của mình trước cơ
hội mới của cuộc hội nhập quốc tế sắp tới của đất nước, theo ông: “Đó
là cơ hội lớn, nhưng thách thức cũng rất lớn. Nếu Chính phủ không có
những chính sách thích hợp để đưa nền kinh tế vươn lên, đủ sức đối mặt
với các tập đoàn lớn trên thế giới đang sẵn sàng xâm lấn nền kinh tế
của đất nước, thì chúng ta sẽ mất dần chủ quyền kinh tế”.
Nhưng
muốn có nền kinh tế đủ mạnh để cạnh tranh thì Việt Nam phải có chuyên
viên và trí thức khoa học, kỹ thuật. Chính sách giáo dục hiện nay của
Việt Nam vẫn làm theo kiểu “hồng hơn chuyên” của thời bao cấp, kinh tế
chỉ huy nên không đào tạo được nhân tài, ngược lại chỉ xây dựng được
lớp cán bộ, đảng viên “sáng vác ô đi, tối vác về” thiếu kiến thức
chuyện môn để xây dựng đất nước.
VNNet viết tiếp: “Tuy nội dung
cuộc hội thảo là đi tìm cơ chế để phát huy tiềm năng chất xám của kiều
bào, song hình như trong tấm lòng mỗi một đại biểu tham dự vẫn đau đáu
một cơ hội đóng góp ý kiến cho sự phát triển của đất nước. GSTS Nguyễn
Văn Chuyển (ĐH Nihon Joshi, Nhật) đã dành thời gian để nói về ĐH đẳng
cấp quốc tế. Ông hoan nghênh chủ trương xây dựng ĐH đẳng cấp quốc tế,
nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh; ĐH có tầm cỡ quốc tế của VN phải là ĐH
đáp ứng cho sự phát triển về khoa học kỹ thuật, xã hội...cho VN hiện
nay và cho VN trong vòng 10-20 năm sau.
GSTS Nguyễn Đăng Hưng
cũng bày tỏ mối quan tâm đặc biệt đến sự sa sút của nền GD nước nhà.
Ông đề nghị phải có một cuộc cách mạng thật sự với nền GD nước nhà thay
cho các cuộc cải cách một cách loay hoay, và ông băn khoăn: trong khi
các nhà khoa học việt kiều cũng như quốc tế đều gần như nhất trí với
Thủ tướng về việc xây dựng một ĐH đẳng cấp QT mới hoàn toàn, thì các
nhà GD ĐH trong nước lại... phân tán ý kiến.”
“Về cơ chế trọng
dụng và đãi ngộ kiều bào, TS Nguyễn Trí Dũng, Công ty Minh Trân (người
được trao danh hiệu Vinh danh nước Việt 2005) đề nghị: TP Hồ Chí Minh
là địa bàn có nhiều đầu tư của kiều bào, nên có chính sách tập trung
làm thí điểm, rút kinh nghiệm thực hiện nhanh những chế độ hiện hành.
Còn TS Thái Hồng Lam, kiều bào Mỹ, nhấn đến một góc nhìn khác: Một khi
đồng bào trong nước không tăng tốc (hoặc không có cơ hội để họ tăng
tốc), thì làm sao kiều bào tăng tốc !”
“Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Phó
Chủ nhiệm ủy Ban Đối ngoại Quốc hội cũng cho rằng: Bên cạnh cơ chế bày
tỏ sự trọng dụng, Nhà nước cũng phải xác định đất nước có những chương
trình hành động cụ thể để kêu gọi kiều bào “đầu tư nhân tài vật lực”,
chứ không thể kêu gọi chung chung.”
“Dịp này, ông Tạ Quang Ngọc,
Vụ trưởng Vụ 3 Bộ Ngoại giao cũng thông tin đến các đại biểu về Đề án
“Xây dựng chính sách, biện pháp vận động, khuyến khích chuyên gia trí
thức người VN ở nước ngoài đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước”,
với 11 đề án con do tất cả các bộ liên quan thực hiện.”
“Chẳng hạn, Bộ Ngoại Giao phối hợp với Bộ KH-CN xây dựng Quyết định của
Thủ tướng CP về chính sách, biện pháp khuyến khích chuyên gia ở nước
ngoài đóng góp xây dựng đất nước. Bộ Công An chủ trì xây dựng chính
sách tạo thuận lợi về thị thực, cư trú, hộ chiếu cho kiều bào; Bộ Tư
pháp chủ trì việc xây dựng chính sách tạo thuận lợi cho việc cho thôi
và cho trở lại quốc tịch VN đối với trí thức kiều bào; Bộ Xây dựng chủ
trì việc rà soát, bổ sung chính sách tạo thuận lợi cho chuyên gia, trí
thức kiều bào được mua nhà ở trong nước...”
Những “miếng kẹo”
chiêu dụ Việt kiều này không có gì mới lạ. Mọi mánh lới dụ dẫm trí thức
Việt kiều về nước đã nói hết trong hai Nghị quyết: Nghị quyết số
08NQ/TW ngày 29-11-1993 và Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của Bộ
Chính trị.
Nhưng từ đó đến nay, trong số trên 300 ngàn trí thức,
chuyên viên kỹ thuật và khoa học người Việt ở nước ngoài đã có mấy ai
“hồ hởi, phấn khởi” về nước “hòa hợp” với một Chế độ chưa biết trọng
dụng nhân tài? Ngay cả với du học sinh ra nước ngoài học bằng tiền nhà
nước hay tiền của gia đình cũng không muốn quay về Việt Nam làm việc
sau khi tốt nghiệp thì làm sao “trí thức tị nạn” có thể hân hoan quay
về làm việc với một Nhà nước không có tự do, dân chủ và chỉ biết lấy
lòng trung thành với Đảng, với Chủ nghĩa Mác-Lênin làm thước đo lường
hơn trình độ học vấn?
Tình trạng một cán bộ chưa viết nổi một
văn thư nhưng lại là một đảng viên kỳ cựu được quyền chỉ huy một đội
ngũ cán bộ có bằng Cử nhân không phải là chuyện ngược đời ở Việt Nam.
Vì vậy mà sáng kiến “chiêu hiền đãi sỹ” của một số địa phương bung ra
trong mấy năm sau của 20 năm “Đổi mới” cũng đã thất bại. Một số sinh
viên tốt nghiệp Đại học nước ngoài về nước làm việc đã gặp phải những
“hòn đá tảng” i-tờ-rít cán bộ hoạnh hỏi đủ điều nên đã kệ thây, không
thèm thi thố khả năng để phục vụ đất nước. Nhiều người trong số này này
đã bỏ việc nhà nước để làm việc cho các Công ty nước ngoài vừa có nhiều
tiền lại có cơ hội mở mang kiến thức.
Nhưng cái lỗ hổng sâu thẳm
đang làm nản lòng “Việt kiều” là thái độ cầu hiền của lãnh đạo Việt Nam
vẫn còn ẩn hiện đâu đó sự nghi ngờ và thái độ dòm chừng đẳng sau mỗi
lời mời gọi.
CHI TIẾT 2 NGHỊ QUYẾT
Bằng chứng như Nghị quyết 08, ngày 29-11-1993 do Đào Duy Tùng ký ban hành đã có những đoạn “chọc vào cổ họng” Việt kiều như:
-
“Trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, khoảng 3/4 là những người
ra đi từ năm 1975 về sau. Phần đông trong số này có ít nhiều mặc cảm,
một số có hận thù với chế độ mới.”
-“ Số phục thù cực đoan tuy
chỉ chiếm tỷ lệ nhở bé trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài,
nhưng đã lập ra nhiều tổ chức, tìm cách tập hợp lực lượng, khống chế số
đông và móc nối với những phần tử chống đối ở trong nước, tiếp tay cho
các hệ thế lực phản động quốc tế, thực hiện âm mưu và thủ đoạn "diễn
biến hòa bình" ở nước ta. Tuy bọn phục thù cực đoan người Việt Nam ở
nước ngoài chia rẽ nhau, không có cương lĩnh và nhân vật có sức tập hợp
quần chúng, lại có nhiều hành động tàn ác, lừa bịp nên ngày càng mất uy
tín trong cộng đồng và trong nhân dân nước sở tại. Nhưng không thể đánh
giá thấp mưu đồ, khả năng hoạt động phá hoại của chúng.”
Khi nói
về “thành qủa” của công tác vận động kiều bào, Nghị quyết phê phán: “
Công tác vận động đồng bào ở nước ngoài còn bị xem nhẹ. Thông tin đối
với cộng đồng rất nghèo nàn. Ý thức cộng đồng, đoàn kết tương trợ đùm
bọc nhau giữa những người Việt Nam cùng sống ở nước ngoài còn yếu, chưa
được chú ý vun đắp bằng những hình thức thích hợp. Hình thức tập hợp
thiếu linh hoạt, còn hẹp hòi; phương thức tổ chức và hoạt động chưa đáp
ứng thiết thực nhu cầu của kiều bào, chưa sát hợp với từng loại đối
tượng. Mặt khác, lại có tình trạng buông lỏng đấu tranh, gần như để mặc
cho số phản động cực đoan khống chế dư luận, xuyên tạc, bóp méo sự thật
về tình hình đất nước trong cộng đồng và trong dư luận xã hội các nước
sở tại.”
Từ bấy lâu nay, đảng CSVN vẫn “tự vơ vào” lấy làm của
mình tất cả mọi người Việt Nam ở nước ngoài. Họ lập đi lập lại lập
trường: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của
cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính
đáng của người Việt Nam ở nước ngoài trên cơ sở pháp luật nước sở tại,
luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế.”
Xin hỏi: Có mấy người
Việt ở nước ngoài cần đến sự bảo vệ của Nhà nước Việt Nam trong khi các
nước sở tại đã có dư thừa các luật lệ để bảo vệ những người sống trên
đất nước họ, kể cả những người chưa phải là Công dân của nhà nước ấy?
Nhưng
khi người Cộng sản cao rao: “Chính sách đại đoàn kết mọi người Việt Nam
ở trong và ở nước ngoài bắt nguồn từ truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Cơ sở của sự đoàn kết, hòa hợp là ý thức dân tộc và lòng yêu nước của
mọi người Việt Nam, hướng vào mục tiêu độc lập dân tộc, dân giàu nước
mạnh, xã hội văn minh. Tinh thần: "người Việt Nam yêu nước Việt Nam"
phải vượt lên trên những sự khác biệt về tôn giáo, dân tộc, hoàn cảnh
kinh tế… và cả sự khác nhau về chính kiến” thì cũng chỉ nên nghe cho
biết vì họ nói vậy mà không phải vậy.
Lúc nào họ cũng răn đe,
ngăn ngừa: “Phải quan tâm đúng mức việc động viên khen thưởng những
người có công với nước. Mở rộng diện tập hợp, đoàn kết phải gắn liền
với đề phòng, ngăn chặn và đấu tranh chống lại những hoạt động của số
phản động cực đoan.”
Nghị quyết 08 ra lệnh: “Bộ Nội vụ cùng với
Bộ Ngoại giao và các sứ quán ở nước ngoài phối hợp chặt chẽ với Ủy ban
về người Việt Nam ở nước ngoài, có quan hệ với những cơ quan hữu quan
của nước sở tại trong việc nắm tình hình cộng đồng người Việt Nam ở
từng nước; có kế hoạch phát hiện và ngăn chặn hoạt động của những phần
tử xấu ở nước ngoài và xâm nhập vào trong nước.”
Từ Nghị quyết
08 năm 1999 đến Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 đã qua một chặng
đường 6 năm mà sao giọng “thù nghịch” vẫn còn nặng nề quá quắt? Họ
viết: “Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt
thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc
cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Một số ít người đi ngược
lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối
quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam.”
Tại sao lại phải
về nước mới nhìn thấy sự thật của tệ nạn Quan liêu,Tham nhũng, Cửa
quyền, tính hống hách, tham quyền cố vị, hành dân, coi dân như rơm rác
của đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức có quyền?
Một đất nước,
sau 20 năm Đổi mới mà mỗi tháng vẫn có vài, ba ngàn người dân chết và
bị thương vì tai nạn xe cộ thì Luật pháp và đội ngũ cán bộ điều hành
giao thông ở đâu mà dù dân chết như ngoé cũng không có ai biết động
lòng? Bộ trưởng Giao thông-Vận tải và Bộ trường Công an vẫn bình chân
như vại không mảy may hề hấn gì thì chỉ có ở Việt Nam mới có lớp lãnh
đạo chai lì như thế. Nếu những tai nạn lưu thông tệ hại như thế này xẩy
ra ở các nước dân chủ, văn minh thì những người có trách nhiệm đã tự ý
từ chức hay bị bãi nhiệm từ lâu rồi.
Chỉ một tỷ dụ nhỏ này cũng
đủ để người Việt Nam ở nước ngoài hiểu được trình độ và khả năng lãnh
đạo của cán bộ đảng CSVN có trách nhiệm với dân với nước đến mức nào?
Hãy
lấy vụ cựu Bộ trưởng Giao thông-Vận tải Đào Đình Bình làm tỷ dụ. Sau
khi vụ tham nhũng, thối nát của cặp Bùi Tiến Dũng (Tổng Giám đốc Chương
trình PMU 18) và Nguyễn Việt Tiến (Thứ trưởng GT-VT) bị nổ toang làm
rung động cả nước thì dư luận trong Quốc hội và trong nhân dân nổi lên
đòi Bình phải giải thích tại sao lại đề cho cấp dưới lộng hành, làm hại
dân như thế?
Bình không đích thân trả lời mà chỉ biện bạch vì
cơ quan điều tra đang làm việc nên không thể nói gì được. Cùng lúc đó
cũng đã có dư luận trong đảng và nhà nước nổi lên đòi Bình phải từ chức
nhưng Bình vẫn “mũ ni che tai” không động tĩnh gì. Mãi cho đến lúc dư
luận bất bình đã lên đến tột đỉnh thì Bình mới xin từ chức để giữ thể
diện.
Bình đã không có văn hoá tự ý từ chức dù các viên chức
dưới quyền tham nhũng đã gây thiệt hại cho Nhà nước hàng triệu triệu
Dollars trong vụ PMU 18. Bình chỉ bị đảng kỷ luật bằng hình thức “cảnh
cáo” về những sai phạm trong lãnh đạo, mặc dù nhiều Đại biểu Quốc hội
đã yêu cầu Quốc hội bãi nhiệm để làm gương.
Vì đảng kiểm soát,
đặt người vào chỗ này chỗ kia nên Thủ tướng không có quyền cách chức
một Bộ trưởng. Chỉ có Bộ Chính trị mới có quyền tối cao về việc này,
nhưng lại chỉ trong phạm vi đảng,nếu người bị khiển trách, kỷ luật là
một cán bộ lãnh đạo. Quyết quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm (chấp thuận
cho thôi việc) hay bãi nhiệm nằm trong tay Quốc hội, nhưng cơ chế này
có quyền hành gì đâu. Các đại biều Quốc hội chỉ biết giơ tay hay bỏ
phiếu theo ý của Bộ chính trị.
Với lề lối cầm quyền lỉnh kỉnh
và do đảng chỉ huy như thế thì mấy người Việt Nam ở nước ngoài muốn về
nước làm việc giúp nước, nhất là khi họ không phải là đảng viên đảng
CSVN thì lấy lá chắn nào để che thân khi gặp nạn?
Cho nên khi
Nghị quyết 36 viết: “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần
thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở của sự
đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục
tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc,
thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh” cũng chỉ là lối nói văn hoa, không thật lòng khi
đảng Cộng sản vẫn không ngừng gọi những người bất đồng chính kiến với
họ là những kẻ “phản động” chống lại nhân dân và Tổ quốc!
Tổ
quốc và nhân dân có làm nên tội tình gì mà phải chống? Người ta chống
là chống cái đảng CSVN độc tài, độc quyền lãnh đạo trong khi đất nước
là của chung mọi người Việt Nam.
Nhưng khi Nghị quyết 36 kêu gọi
người Việt ở nước ngoài hãy: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối
xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn
trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người
Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa
vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu
trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc” thì tại sao
họ lại chưa đoàn kết được với người Việt ở trong nước?
Những
người đòi dân chủ, tự do, đòi công bằng, đòi xét xử đích đáng những cán
bộ, đảng viên hại dân bất bạo động ở trong nước có chống lại nhân dân
và tổ quốc đâu. Họ chỉ đòi đảng thi hành đúng những điều khoản ghi
trong Hiến pháp tu chính năm 1992 và các luật lệ hiện hành để cho dân
dễ thở và trả lại quyền làm chủ đất nước cho dân.
Đảng đã nói cán bộ, đảng viên cũng do dân mà ra và họ là đầy tớ của nhân dân thì tại sao đảng lại là ông Chủ?
Thế mới biết sau lưng hai chữ “Việt kiều” cũng có nhiều chông gai và cạm bẫy.
Phạm Trần
(07-06)