(Lời nói đầu: Trong bài "Tập Thở để Chữa Bệnh", người viết đã trình bầy
hai thức "Bình Sơn" và "Cung Tận" của phương pháp tập Thiền Công và đã
nhận được rất nhiều lời chia xẻ rất cảm động, đặc biệt từ nhiều Tiểu
Bang xa xôi như Pensylvania, Ohio, Philadelphia, Texas, và Florida...
Xa hơn nữa là hai "e-mail" từ Việt Nam, mong đuợc nghiên cứu sâu hơn về
Thiền Công. Tuy nhiên, cũng có một ngộ nhận về Thiền Công, một phỏng
dịch từ chữ Yoga, do nguời viết trình bầy, với Thiền hay Zen là một
phuơng pháp tu tập hoàn toàn khác. Bởi vậy, bài này sẽ trình bầy một
vài điểm khác nhau căn bản giữa Thiền Công (Yoga) và Thiền (Zen).
Thiền
Công hay Yoga phát xuất từ Ấn Độ khoảng 6 đến 7 ngàn năm trước, tiếng
nguyên thuỷ theo Sanskrit là"yuj" có nghĩa là kết hợp giữa linh hồn cá
nhân (atma) và tinh tuý vũ trụ (paramatma). Khởi thủy, Thiền Công được
lập ra với mục đích đi tìm sự Khai Ngộ (Enlightenment), sau đó đã
chuyển hóa thành nhiều môn phái Yoga khác. Mỗi môn phái lại có những tư
tuởng chỉ đạo khác nhau như Karma Yoga chú trọng vào sự Từ Bỏ Bản Ngã,
Bhakti Yoga chú tâm về sự Dâng Hiến, Jnana Yoga, Raja Yoga chỉ quan tâm
về Kiến Thức... Những thế, thức tập luyện cũng khác nhau, có thể bất
động, hay động, mỗi thế, thức lại biến hoá thành nhiều kiểu dáng, khó
có thể đếm đuợc hết mọi loại kiểu, thức. Sau khi được truyền qua các
quốc gia khác, nhất là Tây Âu, Thiền Công tập trung nhiều về Chữa Bệnh,
Điều Hòa Tâm Linh, tìm ra sự An Vui cho cá nhân một khi tâm thân hợp
nhất, khỏe mạnh, và hạnh phúc.
Như vậy, Thiền Công hay Yoga
hoàn toàn khác với Thiền hay Zen đặt trọng tâm vào sự suy tuởng có tính
chất tôn giáo, nguyên thuỷ khai sinh từ Ấn Độ với tên gọi từ tiếng
Sanskrit: "dhyàna", triển khai tại Trung Hoa khoảng thế kỷ thứ 6 duới
thời Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) cũng đồng thời là Tổ Sư cuả môn
phái Thiếu Lâm. Vào thế kỷ thứ 9, Thiền được truyền bá sang Đại Hàn và
được gọi là Seon. Thế kỷ thứ 12, Thiền được phát triển ở Nhật bởi Tổ Sư
Myòna Eisai sau khi Ngài đến Trung Hoa rồi về nuớc, lập ra hệ phái
Linji, còn gọi là Rinzai. Ở Việt Nam, vào khoảng cuối thế kỷ 16, Thiền
Sư Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) nguời Ấn Độ đến Việt Nam phổ biến về
Thiền, và dưới thời Ngài Thiền Sư Vạn Hạnh, Thiền đuợc phát huy mạnh mẽ
nhất cho đến ngày nay. Trên thế giới, hiện tại, những hình thức về
Thiền rất đa dạng. Ngoài Tu Thiền (Thiền Tông), những nguời thực tập
Thiền còn thể hiện Thiền trên hội hoạ (Tranh Thiền), thi ca (Thơ
Thiền), cắm hoa (Thiền Hoa), trang trí (vuờn Thiền), hay kiến trúc theo
Thiền... Những vuờn cỏ với sỏi trắng đuợc vun theo những đuờng nét đơn
sơ nhưng đầy ý nghĩa cuả Nhật nổi tiếng khắp thế giới và đuợc hàng
triệu nguời từ Đông sang Tây rất hâm mộ.
Vì sự đa dạng về Thiền
như thế, nguời viết đã phiên dịch tiếng Yoga thành Thiền Công (Thiền =
Tập trung tư tưởng, Công = sự vận dụng sức lực tinh thần hay vật chất),
để tránh sự ngộ nhận. Và cũng vì mục đích là để tìm sự An Vui, Hạnh
Phúc qua Sức khỏe, không mang tính chất tín nguỡng, người viết đã đơn
giản hóa việc tập Thiền Công qua 4 thế: Ngồi, Nằm, Quỳ, Đứng. Mỗi thế
lại có 4 thức. Tên gọi của những thức này do người viết mạo muội đặt
bằng tiếng Việt cho dễ nhớ, và để không bị ngộ nhận với bất cứ thế thức
nào khác. Việc tập Thiền Công nên được thực hiện trong phòng vắng,
không ồn ào; nếu có thể tập ở ngoài vườn, nơi không khí mát mẻ thì tốt
hơn. Mỗi ngày tập khoảng 1 tiếng đồng hồ, thì chỉ trong vòng 1 tháng,
cơ thể và tinh thần sẽ đổi khác, tươi trẻ hơn, khỏe mạnh hơn, làm việc
bền bỉ hơn, hạnh phúc hơn, và một số bệnh kinh niên có thể biến mất.
A.NGỒI:
1-Toạ
thiền: Ý Nghĩa = Con nguời là trung tâm điểm cuả vũ trụ. Không có Con
Người, Vũ trụ chỉ là con số không. Ngồi xếp bằng tròn, không nhất thiết
phải gác chân lên nhau, hai bàn tay để lên hai đầu gối, ngón trỏ và
ngón cái cuả mỗi tay chạm nhau, lưng thật thẳng (Nếu ngồi cong lưng, sẽ
bị đau lưng, vì xuơng sống sẽ bị cong, chạm vào dây thần kinh làm đau.
Nếu không tự ngồi thẳng đuợc, thì ngồi sát tuờng, cho lưng dưạ vào
tuờng.) Nhắm mắt lại, tập trung tư tuởng, không nghĩ ngợi bất cứ điều
gì, rồi hít vào thật chậm, khi hơi xuống tới bụng (đan điền) thì nén
hơi lại và đếm 1,2,3 rồi từ từ thở ra. Trong khi hít vào và thở ra,
phải tuởng tuợng đến luồng khí đi từ lỗ mũi vào trong ngực, xuống bụng,
tuởng tuợng đến hơi thở đang nằm trong bụng, rồi tuởng tuợng đến hơi
thở đang ra ngoài lỗ mũi. Những ngày đầu tiên, chưa quen, có thể cảm
thấy hơi thốn lưng, nhưng dần sẽ quen và không thấy thốn lưng nưã. Hít
thở từ 10 đến 20 lần.
Thế này trị bệnh tim, mạch, ổn định thần
kinh, thăng bằng trí nhớ, điều trị sau cơn "stroke" hay "heart attack",
chống sự hồi hộp, lo lắng, mất ngủ. Có nguời chỉ hít thở như thế hơn 10
lần đã ngủ gục. Tập chừng một tháng, trí óc minh mẫn, sáng suốt hơn gấp
bội.
2-Bái Tổ: Ý Nghiã = Xã hội có thứ tự trên dưới. Biết kính
trên, nhường dưới, cuộc sống mới tươi đẹp. Cũng ngồi như trên, nhưng
hai bàn tay chắp lại truớc ngực. Hít thở từ 10 lần trở lên. Tác dụng
chữa bệnh giống như Tọa Thiền.
3-Hoành Thiền: Ý Nghiã = Con Nguời đuợc tạo ra bình đẳng. Nên tôn trọng lẫn nhau.
Ngồi như trên, nhưng hai tay dang thẳng ngang ra hai bên. Hít thở tối đa 10 lần. Cùng một tác dụng như hai thế trên.
4-Trung
Thiền: Ý Nghĩa = Nhìn lại bản thân xem mình đã làm gì cho những người
chung quanh vui vẻ chưa? Ngồi cúi đầu xuống, nhìn vào bụng mình. Hít
thở như trên. Chữa các bệnh về tiêu hoá. Làm 10 lần. Khi xong, phải
xoay cổ vài lần từ phải sang trái rồi từ trái sang phải, cho cổ không
bị xơ cứng.
B. QUỲ:
1-Hổ Phục: Ý Nghĩa = Con Nguời chỉ
là cát bụi và thật nhỏ bé truớc thiên nhiên. Quỳ úp trán xuống đất, hai
tay để thẳng, cùi chỏ để trên đất, xoải dài trên đầu. Hít thở chừng 10
lần. Giúp ổn định tim, mạch, thần kinh. Khi quá mệt sau một công việc
nặng, tập thể thao quá độ, đánh võ... chỉ cần quỳ xuống và hít thở
trong vài phút là khoẻ lại ngay.
2-Tàng Long: Ý Nghiã = Đôi
khi chúng ta phải biết thu nhỏ mình lại, Quỳ áp một bên má xuống đất,
nếu áp má bên trái xuống thì thọc tay trái qua duới nách cuả tay phải,
nếu áp má bên phải xuống đất, thì thọc tay phải qua nách trái. Ép mình
xuống thấp. Hít thở. Trị mất ngủ. Thay đổi tay từ trái sang phải, mỗi
bên hít thở 10 lần.
3-Độc Long: Ý Nghiã = Vận dụng ý chí để
huớng thiện. Quỳ theo thế Hổ Phục, nhưng giơ một chân thẳng lên trời.
Hít thở. Trị bệnh thiếu máu, hay xây xẩm, hay nhức đầu.
4-Thiềm
Thừ: Ý Nghĩa = Tận dụng năng lực truớc, phó thác cho Thiên Mệnh sau.
Qùy áp trán xuống đất, hai tay bỏ xuôi theo thân mình, hai bàn tay
huớng về phiá bàn chân. Hít thở. Trị yếu tim, thần kinh.
C. NẰM:
1-Bình Sơn: Ý Nghiã = Chan hoà với mọi người sẽ được mọi người yêu thương..
Nằm
ngửa, không gối, hai tay xuôi theo thân mình. Từ từ rút gót chân về,
nhấc thân mình lên, chỉ bám trên đất bằng gót chân và hai vai, giữ
trọng lượng ở thắt lưng. Hít thở chừng 5 lần thôi, không cố gắng quá.
Trị đau bắp thịt thắt lưng, yếu sinh lý, nguời có hơi thở quá ngắn và
gấp rút. (Thế này không áp dụng đuợc với nguời mổ xuơng sống, thay
thận, tật xuơng sống bẩm sinh...)
2-Cung Tận: Ý Nghiã = Ý Chí
của Con Người như cánh cung, càng căng càng mạnh. Nằm sấp, hai tay xuôi
theo thân mình. Từ từ đầu và chân lên tạo thành hình cây cung, hít thở
3 lần rồi hạ đầu và chân xuống, nghỉ vài giây, lại cong lên, hít thở.
Chưã đau thắt lưng, yếu sinh lý, lãnh cảm. (trừ người đang hoặc đã mổ
xương sống.)
3-Thiên Vị: Ý Nghĩa = Bỏ cái "Tôi" đi, thì tiến
buớc nhanh nhẹn hơn. Nằm ngưả, không gối, hai tay xuôi theo mình, từ từ
rút chân về gần mông, nhấc hẳn mông lên cao, mắt nhìn theo đùi, hít
thở. Chưã yếu sinh lý, lãnh cảm, đau thắt lưng.
4-Phân Thân: Ý Nghĩa = Mọi vật đều vô thuờng. Ta có thể là Ta, có thể không là Ta.
Dành
riêng trị bệnh mất ngủ. Nằm thẳng, không gối, hai tay xuôi theo mình.
Nhắm mắt, hít thở chậm rãi chừng 10 lần, theo dõi hơi thở. Sau đó, tập
trung tư tuởng, hít sâu tối đa, nén hơi, đếm 1,2,3, rồi thở ra chừng 10
lần nữa, bắt đầu "phân thân", tức là chia mình ra làm hai. Tuởng tuợng
"mình" đang đứng bên cạnh giường, ngó lại "mình" đang nằm trên giường.
Ngó từ chân lên đầu.
Truớc hết, ngó ngón chân cái, bên trái,
cố nhớ lại những kỷ niệm xẩy ra ở ngón chân này (chẩy máu, sứt móng...)
từ hồi còn nhỏ... Hết ngón cái qua ngón bên cạnh, lần lượt ngó hết 5
ngón chân trái, qua bên chân phải, cũng đi từ ngón cái. Hết năm ngón
chân, qua gót chân trái, gót chân phải, rồi lên mắt cá chân, lên cổ
chân, lên ống quyển, đầu gối, lên đùi... Hết một chân, qua chân kia.
Hết chân, lên bụng, lên cổ, qua vai, xuống cánh tay, cùi chỏ, bàn
tay... lộn lên tay kia... rồi tới cổ...mặt... Thuờng thì lên tới cánh
tay, đã ngủ say... Ngủ kiểu này giúp tăng cuờng sức mạnh, an thần,
không cần ngủ 7,8 tiếng mà vẫn khoẻ.
D. ĐỨNG:
1-Bạch Hạc:
Ý Nghiã = Con nguời như chim Hồng, chim Hạc, luân chuyển không ngừng.
Đứng thoải mái, hai tay chắp truớc ngực, từ từ giang tay ra hai bên,
cúi nguời về truớc, rồi cong dần cho mặt gần như song song với mặt đất,
trong khi một chân giơ lên ngang với mặt đất. Giữ sức nặng toàn thân
trên một chân. Hít thở. Trị bệnh tim, mạch, cao mỡ, cao máu.
2-Độc
Kê: Ý Nghiã = Tự chủ thắng sức mạnh. Đứng thoải mái, hai tay chắp truớc
ngực, từ từ co chân trái lên, gác bàn chân trái vào sau bắp vế chân
phải, hai tay từ từ giang ngang ra hai bên. Hít thở. Trị bệnh tim,
mạch, cao mỡ, cao máu.
3-Kim Quy: Ý Nghiã = Hãy lắng nghe
nhiều hơn là nói. Đứng áp sát vào tuờng, má trái áp vào tường, 10 đầu
ngón chân cũng sát tuờng, tay trái thọc ngang, xuyên duới nách phải,
hít thở. Đổi nguợc lại, áp má phải, thọc tay phải qua tay trái. Trị tim
mạch.
4-Huớng Thiên: Ý Nghiã = Sống hướng thiện, huởng quả phúc.
Đang đứng chân truớc chân sau, từ từ rùn chân truớc xuống, chân sau
duỗi thẳng ra, cho thắt lưng thẳng, hai tay song song từ từ đưa về phía
trước, hai bàn tay chụm lại, rồi đưa thẳng lên trời. Khi hai tay giơ
lên, thì hít vào, nén hơi, rồi từ từ thở ra, xong thả nguời trở lại vị
trí đầu. Tiếp tục nhịp nhàng như vậy 10 lần. Tăng cuờng sức mạnh toàn
thân.
Lưu ý: Để Thiền Công có thể chưã hết bệnh này mà không
tạo ra bệnh khác, phải luôn luân chuyển các thế Động và Bất Động. Những
nguời muốn ngồi Thiền thật lâu, phải tập từ nhỏ để cơ thể quen dần. Lớn
tuổi, không nên để bất cứ bộ phận nào Bất Động lâu. Những nguời dùng
Computer, thợ may... có thể bị mổ cổ tay vì cổ tay luôn để Bất động. Có
nguời phải mổ vai. Muốn tránh đau nhức, thỉnh thoảng phải lắc, xoay cổ
tay chừng vài phút. Lắc trên xuống duới, lắc trái sang phải, lắc về
phía truớc rồi ra sau.
Các vị cao niên, sau khi ngồi các thế
Thiền chừng 20 phút, phải đứng dậy, vặn vẹo thân thể cho các khớp xương
không bị cứng. Sau thế Hoành Thiền, phải xoay vai theo một vòng tròn
truớc sau, mà trung tâm điểm của vòng tròn là đầu vai. Xoay từ sau ra
truớc rồi nguợc lại từ truớc ra sau. Trong khi xoay, vặn như thế, phải
tiếp tục hít sâu và thở dài. Truờng hợp hay bị bệnh đau vai, đau bàn
tay, hay vai bị sái: đứng khom nguời xuống gần 90 độ, một tay vịn vào
bàn, tay kia thả lỏng và vẽ một vòng tròn tuởng tuợng trên mặt đất
chừng 10 vòng, rồi trở lại tay kia. Làm chừng 20 lần sẽ hết đau vai.
Trong
phạm vi một bài viết ngắn ngủi, có thể còn thiếu sót, mong được cao
nhân chỉ giáo thêm và cũng chân thành gửi tới mọi nguời lời chúc "sống
vui, sống khỏe, sống hạnh phúc."
Chu Tất Tiến, Trung Tâm Y Tế An Bình (714) 539-2001.