Trong tuần, Cao Guangjing, phó giám đốc quản lý công trình thủy điện
của Hoa Lục, đã tuyên bố với báo chí trong và ngoài nước, rằng Trung
Cộng sắp hoàn thành Đập Thủy Điện Tam Hiệp, lớn nhất thế giới, trên
sông Dương Tử và hãnh diện xác nhận: Đây là một kỳ quan cũng như biểu
tượng kinh tế của Tàu, trong thế kỷ XXI.
Có
điều lạ trong lần khoe tốt này, là chính đương sự cũng không dám khẳng
định, công dụng của đập thủy điện này tốt xấu thế nào, mà nói phải chờ
tới những ba chục năm sau, hay đúng hơn phải coi nó có thể ngăn chống
được sự tàn phá hằng năm của lũ lụt thường trực trên sông Dương Tử. Lúc
đó mới có thể kết luận.
Câu chuyện làm cho người ta nhớ lại Vạn
Lý Trường Thành, xưa nay ai cũng nói do Tần Thủy Hoàng xây dựng trước
Thiên Chúa giáng sinh, từ lâu được đanh giá là một công trình kiến trúc
vĩ đại, chẳng những của nước Tàu, mà còn là của nhân loại. Tuy nhiên
huyền thoại này, vào năm 1969 đã bị đánh đổ, bởi Arthur Waldron, giáo
sư khảo cổ tại Trung tâm nghiên cứu về Đông Á, thuộc Trường Đại học
Harvard (Hoa Kỳ).
Trong tác phẩm ' The great wall of China',
trình bày những nghiên cứu lịch sử và khảo cổ tại chổ sau nhiều năm đi
khắp nước Tàu, cuối cùng tác giả đã khẳng định rằng Vạn Lý Trường
Thành, đã tồn tại suốt bao chục thế kỷ qua, thực chất chỉ là huyền
thoại. Theo ông, từ năm 700 trước Tây lịch tới nay, khắp nước Tàu đã có
rất nhiều thành lũy được xây dựng rãi rác mọi nơi, mọi thời. Nên câu
chuyện bức tường thành được kiến trúc duy nhất thời nhà Tần, là không
đúng sự thật. Để chứng minh, tác giả dựa vào lịch sử Trung Hoa, từ thời
nhà Hán cho tới thế kỷ thứ XIII, khi Nhà Nam Tống bị quân Mông Cổ xâm
lăng và tiêu diệt, cho thấy Tàu lúc đó không hề có một bức tường thành
nào cả, nên đã không thể ngăn cản được vó ngựa trường chinh của Thành
Các Tư Hản ở phương Bắc. Ngoài ra ông còn dựa vào các tác phẩm văn
chương cổ điển của Trung Hoa qua bao thời dại, xác nhận các văn nhân
lúc đó, chẳng hề xử dụng tới danh từ nào đồng nghĩa với 'The great
wall', mà Tây phương chỉ mới dùng sau này.
Ngay đến tài liệu
phòng thủ của nhà Minh (1368-1644), cũng không hề nhắc tới Vạn Lý
Trường Thành. Mãi đến nửa thế kỷ thứ XVI, trước nguy cơ đe dọa của các
dân tộc du mục phuơng Bắc như Mãn, Mông, Tạng..đã làm cho các Hoàng đế
cuối cùng của nhà Minh, mới nghĩ tới việc xây dựng Trường Thành, mục
đích phân biệt ranh giới địa lý và nhân vân của Trung Nguyên với các
dân tộc trên.
Đó chính là hình ảnh mà người Tây phương đầu
tiên đã mang tới cho thế giới bên ngoài, hồi thế kỷ XVIII và phổ biến
tới ngày nay. Còn huyền thoại về Vạn Lý Trường Thành do Tần Thủy Hoàng
xây dựng, theo Waldron cũng không phải phát xuất từ sách vở của người
Tàu, mà được Mao Tôn Cương, hồi thế kỷ XIX do các nhà thám hiểm và khảo
cổ Châu Âu. Riêng nhũng ghi chú về Trường Thành, trên bản đồ mà Bắc
Kinh phổ biến hiện nay, cũng là sản phẩm của các Giáo sĩ truyền đạo
Thiên Chúa, thuộc Dòng Tên, vào thời Nhà Thanh (1644-1912). Tóm lại,
theo các nhà nghiên cứu trong hội nghị quốc tế vừa được tổ chức tại Bắc
Kinh, thì Vạn Lý Trường Thành, phần lớn được xây dựng từ thời Nhà Minh.
Còn quan niệm cho rằng nhửng thành lũy thời Chiến Quốc, được nhà Tần
nối lại với nhau, thành bức Trường Thành, ngày nay kể cả người Tàu vẫn
nghi ngờ về phương diện khảo cổ, còn các sử gia thì nói đây là sự giả
định, vì không có tài liệu nào minh chứng.
Nhưng đó là chuyện
của nước Tàu, nó chỉ liên quan đến chúng ta, là liệu đập thủy điện Tam
Hiệp trên sông Dương Tử, có ảnh hưởng gì tới những đập thủy điện khác,
mà Trung Cộng đã xây dựng trên thượng nguồn của sông MeKong và Hồng Hà,
trong tỉnh Vân Nam, trước khi chảy vào lãnh thổ nước ta, được đánh giá
như là một sự khủng bố trắng trợn, đối với vận mệnh của Dân tộc VN. Đây
là nguy cơ trước mắt, được cả thế giới thấy rõ, cho dù Đảng VC đang đô
hộ cả nước, vì sợ Tàu, nên đã cố tình bưng bít nội vụ.
Từ ngày
lập quốc đến nay, trải qua mấy ngàn năm văn hiến, dân tộc Việt Nam vẫn
cha truyền con nối, chọn tương lai, chẳng những nơi ruộng đồng, mà còn
trên sông nước biển khơi, do trên sử sách thế giới mới khen tặng người
nước ta giỏi thủy tánh và bơi lội như rái cá. Trong dòng năm tháng giữ
nước, các đia danh Như Nguyệt, Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử,Vàm Cỏ,
Lô Giang ..và mới nhất là Hoàng Sa ngoài khơi Đông Hải, đã là mộ địa
chôn xác giặc thù xâm lăng, ngàn đời không phai nhòa chiến sử.
Hai
mươi năm Miền Nam dươi chế độ Cộng Hoà (1955-1975), các vị nguyên thủ
Quốc Gia, từ Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm tới Nguyễn Văn Thiệu, cũng đã
hướng về biển Đông để dự trù kế hoạch phát triển kinh tế, trong đó có
việc khai thác dầu hỏa-khí đốt và xây dựng các nhà máy lọc dầu. Tiếc
thay, Cọng sản Bắc Việt xâm lăng, đã thiêu rụi tất cả tương lai của Dân
Tộc, khiến cho VN ở thế kỷ XXI vẫn không ngẩng mặt được, để tự nhìn
trồi đất thênh thang như bao người, càng nghĩ càng thảm thê tận tuyệt.
Biển
VN ngày nay theo qui ước quốc tế, ngoài 3300 cây số chạy dài từ Móng
Cáy tới Hà Tiên, còn có một thềm lục địa rộng trên 2 triệu cây số vuông
với 4000 hải đảo lớn bé, chứa nhiều thủy sản, khoáng chất, dầu lửa và
khí đốt. Tiếc thay cọng sản quốc tế vì quyền lợi của đảng, từ năm 1958
tới nay đã manh tâm bán nhượng quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa và nhiều
phần biển quý trong vịnh Bắc Việt cho kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng.
Mới
đây, Hà Nội lại ký nhiều hiệp ước bất bình đẳng với Tàu, công khai đồng
thuận để giặc bắn giết đồng bào ngư phủ ngay trên biển đảo yêu quý của
quê hương mình. Ngày nay, VN đã nghèo khổ lại càng khốn đốn hơn vì diện
tích canh tác càng ngày càng bị giới hạn bởi thiên tai, nguồn tưới và
nạn nhân mãn trầm trọng, với 5,2 triệu ha ruộng, phải nuôi hơn 80 triệu
người, nên bình quân 0,16 ha dành cho 1 nông dân, nếu theo quy định của
Liên Hiệp Quốc, thì quá thấp, dù theo cái loa tuyên truyền thì VN hiện
nay là nước đứng thứ ba (sau Thái Lan, An Độ) sản xuất gạo. Nói chung,
gạo thặng dư bán ra ngoài chỉ là vấn đề thời gian, cho nên dù muốn hay
không, thức ăn và tương lai của dân tộc cũng vẫn là trên các sông ngòi
biển sóng.
Bao chục năm qua, người Việt trong và ngoài nước đã
căm thù đến tận xương tuỷ, trước những sự việc Trung Cộng xâm lăng
cưởng chiếm lảnh thổ của chúng ta. Nhưng đó cũng chỉ là một trong ngàn
muôn nổi buồn của thân phận nhược tiểu VN, trong biển máu lệ nước mắt
thống hận trùng hằng. Bởi vì cùng lúc, giặc Tàu còn gây ra nhiều cuộc
khủng bố khác, mà tàn khốc nhất là đang xử dụng những đập thủy điện
trên các dòng sông phat nguyên trên đất Tàu, chảy vào VN, như một thứ
vũ khí môi sinh chiến lược, liên hệ tới sự sống còn của dân tộc.
Ai
có thể ngăn được sự phẫn uất, trước lời tuyên bố xấc xược và ngạo mạn
của Wang Xiaodong, chuyên viên nghiên cứu của Trung Cộng, về việc khai
thác sông Mekong 'Đây là đất nước Tàu, nên muốn làm gì cũng được, ai
dám ngăn cản'.
Mới đây báo chí tại Trung Cộng đã đồng loạt đăng
tải sự lên tiếng của các chuyên gia môi trường tại Hoa Lục, trong đó có
Giáo sư Đại học về môn đia chất là Yuan Aiguo. Theo họ thì tình trạng ô
nhiễm đang xãy ra trên sông Dương Tử rất nguy kich, ngoài việc gây bệnh
ung thư vì nước uống, dòng sông có thể chết trong 5 năm sắp tới, do
việc đổ xuống đây tất cả các loại rác rưởi, trong đó có hóa chất độc
hại và cả xác tàu thuyền bị chìm. Hiện 80% nguồn nước ngọt của Thượng
Hải là do sông Dương Tử cung ứng (80% thiếu vệ sinh và có chứa hoá
chất). Dù Tàu Cộng cố bưng bít nhưng thảm trạng cũng đã bị phanh phui
trên dòng sông Tùng Hoa.
Xem như vậy làm sao các dòng sông
thiêng của VN như Hồng Hà, Đà Giang, Lô Giang và quan trọng nhất là
sông Cưu Long, đều phát xuất từ bên Tàu, chảy qua tỉnh Vân Nam, trước
khi vào lãnh thổ chúng ta, chắc chắn cũng đang mang chung số phận của
sông Dương Tử. Có điều chừng nào VC mới dám công khai lên tiếng phản
đối Tàu và thông báo tình trạng ô nhiểm nguy kịch chết người, để đồng
bào cả nước biết.
1- ĐẬP THỦY ĐIỆN: VŨ KHÍ MÔI SINH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG.
Giang
Nam là tên gọi của lưu vực hạ nguồn sông Dương Tử, do nhà Thanh
(1644-1912) đặt ra, gồm các tỉnh Giang Tây,Giang Tô và Triết Giang.
Miền này thời Đường, Tống được gọi là Giang Châu, nguyên là đất đai của
Bách Việt (Ngô Việt, Mân Việt, Âu Việt và Lạc Việt..), thủ công tinh
xảo, dân trí thanh lịch, non nước hữu tình.
Sông Dương Tử còn có
tên là Trường Giang, đứng thứ ba trên thế giới sau sông Amazone (Nam
Mỹ) và sông Nil (Đông Phi), có chiều dài 6380km, phát nguyên tại vùng
rừng núi Thanh Hải (Tây Tạng), từ trên độ cao 6600m, chảy qua phía tây
Tứ Xuyên, xuống phía bắc Vân Nam, rồi đổi hướng chảy ngược lên phía
đông Tỉnh Tứ Xuyên , ngang qua các tỉnh Hồ Bắ, An Huy, Giang Tô và ra
Biển Đông tại Hoàng Hải. Nếu tính luôn các phụ lưu, chi nhánh chằng
chịt khắp miền Hoa Trung, thì chiều dài của sông Dương Tử lên tới
80.000 km, với hơn 12 triệu dân, gồm 55 sắc tộc, sinh sống ở hai bên bờ
sông với đủ nghề.
Trên thượng nguồn, sông Dương Tử có 3 khe núi
lớn gồm 25 thác đổ, nhiều nơi nước chảy xiết nhất là vào mùa mưa, khiến
cho các ghe thuyền xuôi ngược dễ bị chìm vì đá ngầm. Đó là hẽm
Kingtanxia dài 5km, hẽm Wuxia dài 25km và hẽm Xilingxia dài 47km, tuy
ngày nay đã được nạo vét nhưng tàu qua lại vẫn phải có hoa tiêu hướng
dẫn để tránh nguy hiểm.
Lưu vực sông Dương Tử hiện nay có hơn
400 triệu người sinh sống. Ngoài ra vùng này còn có 5 hồ lớn, thường
đước nhắc nhớ trong các tác phẩm thơ văn của Trung Hoa. Phân Dương Hồ,
chứa nước ngọt, rộng tới 5000 km2, nằm trong tỉnh Giang Tây, gần thành
phố Vũ Hán. Động Đình Hồ có các sông Tiêu và Tương đổ nưóc vào và thông
với Trường Giang qua sông Hán. Hồ nằm phía tây tỉnh Hồ Nam,nổi tiếng
với Nhạc Dương Lầu, măng tre Thần Châu và quít ngọt Động Đình Hồng.
Thái Hồ chứa nước mặn nằm giữa hai tỉnh Giang Tô và Giang Tây. Sào Hồ
và Tây Hồ.
+ ĐẬP THỦY ĐIỆN TAM HIỆP TRÊN SÔNG DƯƠNG TỬ:
Tháng
12-1994, Trung Cộng chính thức khởi công xây dựng Đập Thủy Điện Tam
Hiệp (Three Gorges Dam), trên khúc sông Dương Tử, chảy trong tỉnh Hồ
Bắc, vừa để khống chế nạn lụt hàng năm, đồng thời xây dựng một nhà máy
thủy điện với công suất tổng cộng lên tới 12.000 MW. Để thực hiện công
trình trên, đảng cộng sản đã đuổi hơn 1,5 triệu người dân bản địa, đồng
thời làm xáo trộn sinh hoạt của 20 thành phố lớn nhỏ trong vùng.
Tam
Hiệp, địa điểm được chọn để xây dựng đập thủy điện, là tên một khúc
sông Dương Tử dài hơn 200km, từ phía tây tỉnh Tứ Xuyên, chảy qua phía
đông tỉnh Hồ Bắc, được coi như điểm nối của vùng thung lũng Tứ Xuyên
với các đồng bằng miền Hoa-Trung, phía dưới hạ nguồn. Khúc sông này
chảy qua ba hẽm núi lớn và 25 thác đổ. Theo nhận xét của nhiều bậc thức
giả trong và ngoài nước, thì dự án Đập Thủy Điện Tam Hiệp tuy đã được
manh nha từ thời Dân Quốc, do Tôn Dật Tiên đề xướng. Nhưng bị các hội
bảo vệ môi trường sinh thái địa cầu chống đối, vì nó sẽ hủy diệt vĩnh
viễn cãnh quan thiên nhiên trong vùng, đồng thời xóa tên 140 thành phố
lớn nhỏ, 4500 làng mạc, 30.000 ha đất trồng trọt, hằng ngàn di tích
lịch sử và tiêu phí một ngân khoản khổng lồ, mà không chắc đạt được kết
quả mong muốn.
Với nước Tàu, từ trước tới nay sông Dương Tử là
nguồn nước tưới cho cả khu vực đồng bằng Hoa Trung, miền đất cá và gạo,
chiếm nửa tổng sản lượng của cả nước. Nhưng đồng thời sông Dương Tử
cũng là tai ương ngàn năm của Hán Tộc, riêng trong thế kỷ XX lụt lội đã
gây cho hơn 300.000 dân chúng trong vùng thiệt mạng. Giống như sông
Mekong, sông Dương Tử cũng phát xuất từ Tây Tạng, chảy qua khu vực Tam
Hiệp, trước khi vào thành phố Trùng Khánh, được coi như lớn nhất hiện
nay tại Hoa Lục.
Từ nhiều lý do, trong đó quan trong nhất cũng
vẫn là mục tiêu chính trị, khiến cho Bắc Kinh đã nhắm mắt lao vào một
công trình rất tốn kém về tiền bạc, sức người lẫn thời gian, gây ảnh
hưởng nặng nề đến vấn đề tâm lý, khi đàn áp đuổi dân, phá hoại các công
trình kiến trúc bao đời trong vùng. Thực hiện được đập thủy điện này,
về quốc tế Trung Cộng sẽ hãnh diện có thêm một kỳ quan, sau Vạn Lý
Trường Thành. Về kinh tế, Đảng Cộng Sản nuôi hy vọng, nhờ nó giúp mức
phát triển 11% hàng năm qua nguồn cung cấp điện cho công nghệ và sinh
hoạt.
Đây là một cái đập khổng lồ, kinh phí dự chi tốn khoảng
30 tỷ đô la, thực hiện trong 14 năm. Chiều cao của dập 607 bộ, chiếm
một diện tích hơn 1 dặm vuông, bao gồm một hồ chứa nước dài 370 dặm và
một hệ thống khóa đặc biệt: Hút nước từ các nguồn nước khác khi thiều,
cũng như xã nước vào mùa lụt, vừa giúp sự giao thông trên sông Dương
Tử, đồng thời vét vơ nước từ các con sông khác, qua hệ thống kênh đào,
để tưới cho các vùng đất khô hạn xa xôi ở phía tây.
So với các
đập thủy điện khác trên thế giới, dập Tam Hiệp không cao và rộng hơn
nhưng lại trội nhiều về sức mạnh, với 26 Turbin mà trọng lượng mỗi
chiếc 400 tấn/1 chiếc, sẽ tạo ra 18.200 magawatt điện, công suất tương
đương với 18 nhà máy điện nguyên tử. Đập này mạnh hơn các đập Itapu
(giữa Brazil và Paraguy có công suất 12.600 megawatt ), dập Guri ở
Venezuela có 10.300 megawatt, dập Grand Coulee ở Colorado của Mỹ có
6809 megawatt và đập Sayano Shushensk ở Nga với 6400 megawatt.
Theo
nhận xét của thế giới, Trung Cộng đã tốn hết 75 tỷ mỹ kim cho công
trình vĩ đại này (chứ không phải 19 tỷ như tuyên bố của đảng). Vì mục
tiêu chính trị, Trung Cộng không cần biết tới tính khả thi và hiệu quả
kinh tế của dự án, hầu như đều bị sự phê bình chỉ trích của các nhà đầu
tư và tài chính quốc tế. Bởi thế nên không làm lạ khi nghe Phó giám đốc
xây dựng đập là Cao Guangjing, nói rằng muốn biết đập có hoàn hảo hay
không, phải đợi tới 30 năm sau mới thấy được.
Chưa hết, Trung
Cộng còn cho biết sau khi hoàn tất đập Tam Hiệp vào năm 2008, Đảng lại
tiếp tục xây thêm 10 đập khác trên thượng nguồn sông Dương Tử, nối tiếp
vùng Tam Hiệp. Điều lo lắng nhất của người Tàu hiện nay, là làm thế nào
để có thể giảm nhanh chóng một biển nước khổng lồ, luôn được chứa trong
hồ với độ cao từ 512-574 ft, khi mùa mưa tới. Thãm kich về đập thủy
điện Banqiao ở Hồ Nam, vào năm 1975 mưa nhiều vở đê kéo theo sự sụp đổ
của cả một hệ thống đập chung quanh, gây lụt lội làm chết hơn 230.000
người. Nhưng Trung Cộng đã ém nhẹm tới gần đây thế giới mói biết. Ngoài
ra đập thủy điện Tam Hiệp chưa khanh thành nhưng nhiều dấu hiệu bể nứt
đã thấy xuất hiện. Điều này cũng dễ hiểu, vì trong thế giới của các
nước xã hội chủ nghĩa anh em (Tàu, Nga, VC, Bắc Hàn, Cu Ba), gần hết
ngân khoản của các công trình xây dựng, đều bị cán đảng và quan quyền
lớn nhỏ, móc ngoặc với nhà thầu, chia, chặt, xén, bỏ túi..cho nên đâu
có kiến trúc nào được toàn vẹn, vì vậy chưa khánh thành đã lung lay hay
sứt mẽ là cái chắc.
+ HỆ THỐNG ĐẬP THỦY ĐIỆN TẠI TỈNH VÂN NAM, TRÊN SÔNG MEKONG VA HỒNG HÀ CHẢY VÀO VN:
Sông
MeKong phát nguyên từ Tây Tạng, chảy qua Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Miến
Điện, Kampuchia và VN rồi ra Biển Đông tại chín cửa lớn nhỏ, nên phần
sông chảy trong lãnh thổ VN, mới có tên là Cửu Long Giang. Cũng vì dòng
sông có sự liên hệ của nhiều nước, nên đã có chương trình hợp tác phát
triển lưu vực sông Mekong, do nhiều tổ chức và các định chế tài chính
quốc tế tham gia. Trên lý thuyết, đã có tới sáu chương trình và dự án
phát triển con sông trên. Chương trình Ủy ban sông Mekong (MRC), do LHQ
khởi xướng từ năm 1957, nhằm quản lý nguồn nước và tài nguyên của sông,
được xúc tiến mạnh sau năm 1975, khi chiến tranh Đông Dương lần 2 chấm
dứt.
Năm 1992, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) lại khởi xướng
chương trình hợp tác sông Mekong, giữa các nưóc liên hệ (GMS), thúc đẩy
sự đầu tư khai thác của các nước trong vùng, qua các dự án đầu tư do
ADB chi phối. Năm 1993, Nhật Bản đề xướng diễn đàn phát triển toàn diện
Đông Dương (F&DI), chú trọng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong
vùng có sông Mekong chảy qua. Tiếp theo Nhật lại đưa thêm dự án
AEM-MITI nhằm giúp Miến Điện, Lào, Kampuchia chuyển đổi sang cơ chế thị
trường. Cũng năm 1993, Thái Lan lại đề xướng chương trình hợp tác sông
Mekong, nhằm phát triển khu vực sông chảy qua các nước Tàu, Miến Điện,
Thái Lan và Lào.
Tháng 12-1995, Tân Gia Ba và Mã Lai lại đề
xướng dự án hợp tác phat triển sông Mekong của các nước thành viên
Asean có sông Mekong chảy qua, ưu tiên là đặt hệ thống đường sắt..
Nhưng tất cả đều là lý thuyết, vì Trung Cộng là nước ở thượng nguồn
sông Mekong, chẳng bao giờ tôn trọng các ảnh hưởng, sự tác động và lợi
ích kinh tế của những nước khác ở hạ nguồn. Trung Cộng đã ỹ mình nước
lớn, nên đã bất chấp sự phản đối của các nước liên hệ, bao chục năm qua
đã xây dựng cả hệ thống Đập Thủy Điện trên sông Mekong, trong tỉnh Vân
Nam, gây thiệt hại nhiều nhất cho hai nước hạ nguồn là Kampuchia và VN.
Thật
ra âm mưu khống chế sông Mekong, được Trung Cộng manh nha từ năm 1970.
Do sự cô lập và bưng bít nên mãi tới năm 1989 khi Đặng Tiểu Bình mở cửa
đón tư bản vào cứu đảng, người ta mới biết được đại khái là Hoa Lục
đang xúc tiến các dự án đập thủy điện tại Vân Nam. Theo tài liệu chính
thức của Tỉnh Ủy Vân Nam và lời xác nhận của Hiroshi Hiro, người Nhật,
một chuyên gia về sông Mekong, cho biết Trung Cộng đã xây dựng tới 14
con dập bậc thềm, trên thượng nguồn sông này, đó là chưa kể các con đập
khác ở các phụ lưu và trên sông Hồng Hà. Theo thứ tự từ Bắc xuống Nam,
ta thấy các đập thủy điện Liutongsiang, Jiabi, Wunenglong, Tuoba,
Huangdeng, Tiemenkan, Guongguoqiao, Công Quả Kiều, Xiaowan, Tiêu Loan,
Manwan, Daichaoshan, Đại Triều Sơn, Nuozhado, Nọa Trát Độ, Jinhong,
Cảnh Hồng, Ganlanba và Mãnh Tòng.
Sông Mekong hay Dza-Chu (Nguồn
nước của đá), phát nguyên từ cao nguyên phía đông Tây Tạng, dài hơn
4000 km, chảy về hướng Nam, băng qua những hẽm núi sâu và rừng núi
hoang lạnh của tỉnh Vân Nam với cái tên Lan Thương Giang (Lancang
Jiang). Riêng khúc sông chảy giữa biên giới Lào-Thái mang tên Mae Nam
Khong. Tại Cam Bot sông lại có tên là Tonle Thom và cuối cùng Cửu Long
Giang trong lãnh thổ VN.
Trong cuốn sách 'Lan Thương Giang -
Tiểu Thái Dương' , do Vân Nam Nhân Dân Thư Xã ấn hành bằng tiếng Tàu,
từ đầu tới cuối chỉ đề cao tới tiềm năng của sông cần khai thác, tuyệt
nhiên chẳng thấy nói tới hậu quả nào do chuổi đập gây thiệt hại tới các
nước ở hạ lưu. Điều này dễ hiểu, vì Trung Cộng luôn coi đó như một bí
mật quốc phòng, thứ vũ khí môi sinh chiến lược, để khủng bố VN, quốc
gia cuối cùng nơi dòng sông thoát ra biển.
Tóm lại chỉ riêng với
ba con đập đầu tiên trên, được xây dựng trên thượng nguồn Mekong là dập
Mạn Loan, Đại Triều Sơn và Cảnh Hồng, với các triền núi cao dùng làm
vách hồ chứa nước vào mùa mưa và xã nước trong mùa nắng. Hậu quả sông
Mekong sẻ không còn những cơn lụt hằng năm, mang phù sa và các loại
thủy tộc, từ thượng nguồn xuống Biển Hồ, sông Tiền, sông Hậu. Cuối cùng
các hồ chứa nước tại Vân Nam, sẽ giữ lại hết phù sa và nước ngọt tại
chuổi đập bậc thềm, làm cho Biển Hồ khô chết, còn đồng bằng miền Nam
ven biển Đông, sẽ bị ngập mặn vì lòng sông thấp hơn mực nước biển.
Trước
mắt những con đập tại Vân Nam, thường trực gây bất thường cho dòng sông
Mekong, làm xói lở hai bờ , đọng nhiều muối trên đất, nguồn phù sa hằng
năm từ thượng nguồn bị giữa lại, làm cho ruộng thiếu nguồn phân bón
thiên nhiên. Tai hại hơn, là Trung Cộng đã trút đổ những chất phế thải
độc hại từ các nhà máy công nghệ như chì, kẽm, cyanide..gây ô nhiểm
nước uống và hệ thủy sản trên sông, nhất là các loại cá.
Tháng
12-2001, theo tin Asian Pulse cho biết là Trung Cộng lại khởi công xây
đập Tiểu Loan trên khúc giữa Lạn Thương Giang, lớn thứ nhì trên nước
Tàu, chỉ thua đập Tam Hiệp. Đập này có công suất điện 4200 MW, cao nhất
thế giới 292 m, riêng hồ chứa nước lên tới 15 tỷ m3 khối nước, từ nguồn
sông Mekong. Đập hoàn thành năm 2010 với kinh phí 4 tỷ đô la.
Ngày
nay Trung Cộng đã công khai đe dọa thế giới, trực tiếp đối đầu với Mỹ,
Nhựt, Liên Âu và LHQ, nên đâu có lạ khi thấy người Tàu toàn quyền khai
thác sông Mekong và từ chối tham dự Ủy hội bảo vệ con sông này vào năm
1995 cũng như không cầm đếm xỉa tới thảm họa môi sinh của 5 nước dưới
hạ nguồn. Thế giới ai cũng nhìn thấy rõ, nhát là mưu đồ dùng sông
Mekong như một thủy lộ, khi có cuộc chiến trong tương lai gần.
2- ĐỒNG BẰNG VÀ SÔNG NGÒI VN, TRƯỚC THẢM HỌA KHỦNG BỐ CỦA TÀU:
Diện
tích VN hiện nay là 331.000 km2, trong đó hai đồng bằng Bắc và Nam
Việt, xưa nay được coi như là vựa lúa gạo của cả nước. Miền châu thổ
Bắc Việt hình thang, giới hạn bởi tứ giác Phủ Lạng Thương, Đồ Sơn, Việt
Trì và Phát Diệm, với diện tích 15.000 km3, chỉ chiếm 12% Bắc Phần
(115.700 km2), được hình thành bởi phù sa sông Hồng Hà và Thái Bình.
+
SÔNG HỒNG HÀ: Phát nguyên từ rặng Ngụy Sơn, kế Đại Lý Hồ trong tỉnh Vân
Nam (Tàu), có chiều dài 1200 km, phần chảy trên đất Trung Hoa gọi là
sông Ma Lung hay Nguyên Giang. Riêng 500 cây số trong lãnh thổ VN, được
gọi là Nhĩ Hà, Hồng Hà hay Sông Thao.
Sông vào địa phận Bắc Việt
tại Hà Khẩu (Lào Kai), trước khi ra biển Đông, đã tiếp nhận nhiều phụ
lưu quan trọng như sông Lô ở tả ngạn. Sông này còn có tên là Thanh
Giang, cũng phát nguyên từ bên Tàu và chảy vào VN tại Hà Giang, rồi đổ
vào sông Hồng ở Việt Trì. Sông Lô còn có hai phụ lưu là sông Gầm va
sông Chẩy thông với hồ Ba Bể.
Sông Đà bên hữu ngạn, cũng phát
nguyên từ Vân Nam, chảy vào VN song song với sông Hồng và đổ vào sộng
này tại Việt Trì. Ngoài ra còn có nhiều sông nhỏ khác, cũng đổ vào Nhĩ
Hà như Nậm Pò, Nậm Na, Nậm Mấc, Ngòi Thia, Ngòi Lao ở thượng nguồn.
Phía gần biển, có thêm các phụ lưu Sông Luộc, sông Đuống, sông Ninh Cơ,
Trà Lý..Tất cả đã mang phù sa bồi đắp cho cánh đồng lúa mùa, miền Hạ
Du, ngay từ thời Văn Lang lập quốc cho tới bây giờ. Từ Hà Nội lên Lào
Kai, xuyên biên giới đi Vân Nam ,có con đường sắt được thiết lập từ
thời Pháp thuộc, chay song song với tả ngạn sông Hồng, qua những nhà ga
Bảo Hà, Trái Hút, Phố Lu..mang đầy huyền thoại trong kho tàng văn học
dân gian, về các câu chuyện 'Ma-Cọp'.
Lào Kai là tỉnh địa đầu
của miền tây bắc, chỉ cách Trung Cộng có cây cầi biên giới Cốc Lếu, nên
trong cuộc chiến năm 1979, giặc Tàu gần như làm cỏ thành phố, mãi cho
tới năm 1991 mới chỉ có 1700 gia đình trở về nhà cũ của mình.. Ngày nay
nhờ chương trình du lịch Sapa và nhất là buôn lậu ,nên Lào Kai dân số
gần 100.000 người. Thị xã nằm ngay trên ngả ba sông Nậm Thị từ Vân Nam
đổ vào sông Hồng. Cầu Hồ Kiều dài 200m, ngăn đôi hai nước, bên này là
Lào Kai, phía bên kia là thị trấn Hà Khẩu, thuộc châu Hồng Hà, tỉnh Vân
Nam.
Sông ra biền bằng cửa Ba Lạt và Trà Lý ở thị xã Thái
Bình. Trước đây khi Trung Cộng chưa xây dựng các đập thủy điện trên
thượng nguồn của sông chảy trong tỉnh Vân Nam, thì Nhĩ Hà có lưu lượng
rất lớn và thay đổi tuỳ theo mùa, từ 300m3/1 giây - 28.000 m3/1 giây
nhưng trung bình là 700m3/1giây.. Nước sông dâng cao thường vào mùa
mưa, tại Hà Nội có khi dâng cao tới 12m, trong khi mùa nắng mực nước
chỉ có 2m.. Từ trước tới nay vùng Hoa Nam và Bắc Phần có nhiều mưa về
mùa hè, làm cho mực nước sông Nhị dâng cao rất nhanh. Lúc trước tại Vân
Nam, rừng chưa bị đốn để dựng đập nước, nên mùa mưa, phần nào giữ được
nước tuôn từ thượng nguồn về.
Nay Trung Cộng xây đập khắp nơi,
mùa nắng thì giữ nước ngọt lại trong hồ chứa để mà tưới, trái lại mùa
mưa thì mở đập để nước trên sông lẫn trong hồ, tuôn về hạ nguồn, cho
nên mấy năm qua, Hà Nội và các tỉnh Bắc Phần luôn bị nạn lụt. Trong khi
đó, hệ thống đê điền ở miền Bắc tuy dài hơn 4000km, nhưng lại có quá
nhiều khuyết điểm, chẳng hạn như đê phải đắp cao theo tình hình mực
nước, khiến cho đê thường bị vỡ. Ngoài ra vì bị đê ngăn chặn phù sa,
khiến cho đồng bằng Bắc Phần lần hồi không được bồi đắp, nên càng lúc
thêm cằn cổi, thu hoạch kém, tốn nhiều phân bón.
Riêng hệ thống
sông Thái Bình, dài độ 340km, chảy từ Phả Lại, qua Hải Dương ra biển,
với các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu, đều phát
nguồn trong nội địa VN. Tuy nhiên vì Sông Nhị có hai phụ lưu ở tả ngạn
là sông Đuống và sông Luộc, đều chảy vào sông Thái Bình, cho nên hệ
thống sông này cũng bị ảnh hưởng khi nguồn nước hay dòng chảy của sông
Hồng bị tắt nghẽn hay bất thường do những ảnh hửng từ thượng nguồn bên
Vân Nam gây ra.
+ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:
Ngày nay đồng
bằng sông Cửu Long, bao gồm 12 tỉnh miền tây Nam phần: Long An, Mỹ Tho,
Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ,
Sóc Trăng, Bac Liêu và Cà Mâu. Khu cực này chiếm một diện tích 40.000
km2 với hơn 16 triệu dân, gồm người Việt, Khmer, Hoa và Chàm. Do cấu
tạo môi trường thiên nhiên khác nhau, ảnh hưởng từ sông, biển và khí
hậu, nên khu vực này được chia thành bốn vùng riêng biệt:
- Vùng
phù sa nước ngọt: Từ nguồn sông chính tại Kampuchia, Mekong chảy vào
Nam Phần bằng hai nhánh tại Châu Đốc và Hồng Ngự, xuống tận Mỹ Tho, Bến
Tre. Khu vực này chiếm một diện tích hơn 1 triệu Ha, phần lớn là vườn
cây ăn trái đủ loại, mọc bạt ngàn theo hai bờ sông Tiền và Hậu, cùng
với một hệ thống kênh rạch chằng chịt như mạng nhện. Đặc biệt giữa dòng
sông thường có nhiều cù lao lớn nhỏ như Cồn Phụng, Lân, Qui tại Mỹ Tho,
cù lao Ông Hổ ở An Giang, cù lao Tân Lộc (Thốt Nốt-Cần Thơ), cù lao
Bình Hòa Phước tại Vĩnh Long..
- Vùng phù sa nước mặn: Chiếm
diện tích khoảng 900.000 Ha, bao gồm lưu vực các tỉnh Long An, Tiền
Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau. Đặc điểm vùng này là có
nhiều rừng nguyên sinh ngập măn, nhiều khu vực tập trung hàng ngàn loại
chim cò đủ loại tại Vàm Hồ (Ba Tri-Bến Tre), Bạc Liệu hay Chùa Dơi (Sóc
Trăng)..
- Vùng bán đảo Cà Mau: Nằm cuối miền Nam nước Việt,
rộng chừng 1 triệu Ha và hằng năm được phù sa của sông Hậu, bồi đắp
thêm Mũi Cà Mâu lấn ra biển từ 60 - 80m. Tại đây còn nhiều khu rừng
tràm, đước được dùng làm củi đốt từ xưa tới nay Khắp khu vực có nhiều
Sân Chim Cò, Cốc hơn 40 loại, sống tại Ngọc Hiển, U Minh, Hòn Khoai.
Đây cũng là vựa tôm, cá và đặc biệt là mật ong nổi tiếng của Miền Nam.
-
Vùng Đồng Tháp Mưới và Khu Tứ Giác Long Xuyên: Rộng 1 triệu ha, được
coi như là những hồ chứa nước thiên tạo, vào mùa sông Tiền-sông Hậu lụt
lội, nhờ vào năm miền trũng thấp. Trong số này quan trọng nhất vẫn là
Đồng Tháp Mười, với các khu rừng tràm Xẻo Quít (20 Ha), Tràm Chim
(2441Ha)..có hơn 141 loài chim sinh sống, nhiều nhất là loài sếu đầu đỏ.
Nói
chung đồng bằng sông Cửu Long được tạo thành bởi phù sa của hai nhánh
sông Mekong, gọi là sông Tiền (Dòng chính) và sông Hậu, được chia thành
chín nhánh nhỏ hình rẽ quạt, đổ ra biển bằng chín cửa, lại tạo thành
nhiều cù lao rất phì nhiêu. Trong lãnh thổ VN, phía thượng nguồn, sông
Cửu Long làm thành vùng trũng như những hồ chứa nước thiên nhiên trong
mùa lụt. Về phía biển, đồng bằng được phù sa bồi đắp cao ráo, thành
những giồng để cất nhà cửa, lập vườn cây ăn trái.
Dòng sông
cho nhiều tôm cá quanh năm, bù đắp phù sa như một thứ phân bón hữu to
rất tốt cho đồng ruộng. Toàn vùng, Mỹ Tho được coi là lý tưởng nhất cho
nghề nông vì đất đai phì nhiêu, sông rạch đầy tôm cá, người dân làm
chơi ăn thiệt, cuộc sống sung túc, tạo thêm dân trí lễ nghĩa với các
thú vui nghệ thuật, mà phát triển nhất nếp sống miệt vườn tao nhã qua
đờn, ca, hát xướng, thơ ngâm, hò đáp khi chèo thuyền giả gạo.
Sông
Tiền Giang chảy ngang qua thành phổ cổ kính Mỹ Tho, trước khi ra biển
bằng nhiều nhánh. Giữa những nhánh sông có các cù lao rộng lớn phì
nhiêu, làm thành tỉnh Bến Tre nổi tiếng với rặng dừa xanh lơn nhất
nước. Trường Trung Học danh tiếng Nguyễn Đình Chiểu tại Mỹ Tho, được
coi như là ngôi trường đầu tiên của người Việt tại Nam Phần, trong lúc
Sài Gòn mới có ngôi trường Trung học dành cho con cái người Pháp (nay
là trường TH.Lê Quy Đôn), lập hồi cuối thế kỷ XIX. Vào năm 1926, Sài
Gòn mới có trường TH. Petrus Ký, dành cho người Việt.
Đất Gò
Công sát biển, nổi tiếng với Đức Từ Dũ (Mẹ ruột vua Tự Đức nhà Nguyễn),
căn cứ chống thực dân Pháp của anh hùng Trương Định (1863). Ngược về
phía nam, xuyên QL4 (nay là QL1), trước khi đến cầu Mỹ Thuận (thay thế
phà), hai bên đường lẫn bờ sông, nhà cửa san sát, xen lẫn với vườn đủ
loại trái cây và đồng ruộng lúa nước xanh um ngút mắt.
Qua
cầu, quẹo về hướng biển non 10 cây số, là tới Vĩnh Long, miền đất hiền
lành xinh đẹp nằm trên Sông Cổ Chiên, một nhánh của Cửu Long. Chợ tỉnh
trải dài theo bờ sông bồng bềnh những giề Lục Bình hắt hiu trong màu
phù sa làm cho nước vàng đục. Thành cổ xưa còn đó với cây đa cổ thụ,
làm nhớ tới Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông..người uống thuốc độc quyên
sinh để đền nợ nước, kẻ thỉ rời bỏ quê làng chôn nhau cắt rút, dắt díu
gia đình ra tận Bình Thuận tị địa vào năm 1867, khi thành Vĩnh Long bị
thực dân Pháp đánh chiếm. Gần chợ nay vãn còn Văn Thánh Miếu được lập
ra thờ Khổng Tử, nhưng ngày nay người Việt đến cúng bái, gần như chỉ
biết tới Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông mà thôi.
Bên kia sông
Hậu là thành phố Cần Thơ, sung túc bề thế và xinh đẹp chỉ thua Thủ đô
Sài Gòn. nên xưa nay vẫn được đời xưng tụng là Thủ phủ của Miền Tây-Nam
Nam Phần, phát triển ngay từ đầu thế kỷ XX, ngay khi miền Hậu Giang trở
thành vựa lúa gạo nuôi sống cả nước. Nhờ vậy mà cả cánh đồng lau sậy,
tràm được, cá sấu, muỗi mòng, giữa sông Hậu và Vịnh Phú Quốc, được khai
thác, đào kênh, đắp đường, mở mang làng xóm, trù phú như ngày nay. Thời
Pháp thuộc, Cần Thơ có Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương, Nhà máy Điện lực
rất lớn, cung cấp điện cho các tỉnh lân cận. Trường Trung học Công lập
Phan Thảnh Giản thành lập từ năm 1926, hơn trăm năm qua đã đào tạo
không biết bao nhiêu nhân tài của đất nước, trong đó không thể không
nhắc tới Nhà Quân Sử nổi tiếng hiện nay tại hải ngoại là Pham Phong
Dinh..
Cuối nước Việt, về hướng biên giới,đầu tiên là Cảng
Cá,nằm ngay Vàm sông Ông Đốc, qui tụ nhiều tàu đánh cá lớn khắp vùng.
Xa hơn là Ngư Cảng Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang, nổi tiếng nhất nhì
trong nước, ngang hàng với Ngư Cảng Phan Thiết-Bình Thuận. Biển ở đây
cạn, nhiều bùn lại nhiều muỗi mòng nhưng ngược lại đầy tôm cá. Ngoài
khơi Rạch Giá có hằng trăm đảo thuộc chủ quyền VN, trong đó có Hòn Tre
diện tích lớn, dân đông. Kế bên là Hòn Sơn Rái nổi tiếng làm nước mắm
cá biển
Sát biên giới Việt-Kampuchia là Thị Xã Hà Tiên,phong
cảnh hữu tình với Đông Hồ, núi Tô Châu, ngôi chợ tuy nhỏ nhưng đây cổ
kính. Đối diện là Hải Đảo Phú Quốc, lớn nhất VN, chuyên trồng tiêu, làm
nước mắm, ngư nghiệp
Từ Chợ Hà Tiên đi ngược lên dọc theo biên
giới có Kênh Vĩnh Tế do Thoại Ngọc Hầu đào vào thập niên 1920, thời Vua
Minh Mệnh nhà Nguyễn. Kênh này như một thủy đạo, nối liền sông Hậu
thông ra Vịnh Phú Quốc. Vùng này trũng thấp, đất phèn mặn, nên ruộng
đồng hoàn toàn bị ngập, vào mùa lụt do sông Cưu Long dâng cao. Bảy Núi
hay Thất Sơn bao gồm nhiều hòn lớn nhỏ, chạy dài trên 30km, mà đỉnh cao
nhất là ngọn Núi Cấm (700m), mây trắng che mịt mù vào mùa đông, trong
nuí có nhiều hang động thiên nhiên, trên sườn mọc đầy sắn, đậu, hoa quả
và các cây thuốc Nam.
Kế cận là Thị Xã Châu Đốc, nổi tiếng ba
miền là Miểu Thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam, được xem là chốn linh thiêng,
quanh năm có rất nhiều thiện nam tín nử tới hành hương cúng kính.. Chợ
Châu Đốc xây trên bờ sông Hậu, dưới sông tấp nập ghe thuyền. Phia bên
kia sông có nhiều Làng Chàm Hồi giáo, chuyên sinh sống bằng ngư nghiệp
và nghề dệt dệt tơ lụa.
Thành phố Long Xuyên là thủ phủ của tỉnh
An Giang, lúa gạo sung túc, đang phát triển mạnh nghề nuôi cá bè trên
sông Hậu. Đây là miền đất được mở mang sớm nhất ở Nam Phần, ngay từ năm
1700 khi Thống Suất Nguyễn Hửu Cảnh, được lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu,
tới đây cũng cố biên giới, vì vậy các lưu dân từ Thuận Quảng theo chân
đoàn quân vào đậy lập nghiệp rất đông đảo. Tại An Phú, đầu nguồn của
sông Hậu trong tỉnh An Giang, nay còn sót lại Búng Bình Thiên, có diện
tích rộng hơn 30.000 m2, là một vùng đất bị bỏ hoang vì nước sâu không
thể trồng lúa được. Láng mọc đầy Sen và cỏ dại, là nơi chung sống của
đủ loài thủy tộc, từ cá tôm, cho tới rán rùa, sống dưới rừng củ co,
bông súng, rau tràng..cảnh sắc không gì thay đổi như từ hai ba thế kỷ
trước. An Phú còn có tới 4 chợ trời biên giới và đông đảo người Chàm
theo Hồi giáo cư ngụ.
Sa Đéc hiện nay chỉ là thị trấn, trong khi
Cao Lãnh trở thành thị xã tỉnh lỵ của Đồng Tháp. Nằm bên hửu ngạn sông
Hậu, Sa Đéc là vùng đất cổ, nổi tiếng với những vườn cây ăn trái của
Nam Phần,nhờ khí hậu trong lành so với các tỉnh khác.
Chợ Sa
Đéc đẹp, vùng lân cận nổi tiếng về sản xuất hoa hồng. Trên con đường từ
chợ tới Bắc Vàm Cống, có hai làng nghề truyền thống là Nem Lai Vung và
Chiếu Lấp Vò. Ngoài ra tại làng Định Yên, còn có một Chợ chiếu độc đáo,
mà người điạ phương gọi là 'Chợ Ma hay Chợ Âm Phủ', vì chợ chỉ nhóm họp
hằng đêm từ 12 giờ khuya tới hừng sáng thì dẹp. Đây là truyền thống đã
có từ 100 năm qua, chuyên bán sĩ và lẽ hai loại chiếu 'Hà Niên' là loại
chiếu bông vuông nhỏ và loại 'Vẩy Ốc' màu trắng, bông được in bằng
khuôn, làm rất công phu, để lâu không bị bay màu và lên mùi mốc.
Đồng
Tháp Mười là vùng đất trũng, nhiều phèn, vào mùa lụt nước sông dâng cao
tới 4m, cá tôm nhiều nhưng muốn có phải mua sắm dụng cụ mới khai thác
được.. Tại đây còn có một loại lúa trời, mọc tự nhiên, ăn được nhưng
không ngon. Trước đây Đồng Tháp Mười coi như một đồng cỏ khổng lồ, ngày
nay nhiều khu vực đã được khai khẩn để trồng lúa. Dân cư tứ xứ tới đây
làm ăn rất đông, nhất là khu vực tiếp xúc với hai con sông Vàm Cỏ Đông
và Tây.
Tại những tỉnh về phía Nam, nơi hạ nguồn của sông Hậu
như Trà Vinh, Sóc Trăng, đồng bằng được phù sa bồi đắp, thành những
giồng đất cao ráo, không bị úng lụt vì nước rút ra biển rất nhanh. Đây
là địa bàn cư trú cũa người Việt gốc Khmer và người Minh Hương (Tiều
Châu chiếm đa số). Ngoài những cánh đồng lúa, ruộng muối cò bay thẳng
cánh ở Bạc Liêu, dân địa phương còn trồng nhiều hoa màu phụ như cải,
dưa hấu, cây ăn trái..Với người Việt gốc Khmer, thì thu nhập chính vẫn
là cấy lúa ngắn hạn loại Thần Nông, trên đất cao không cần nhiều nước.
3-TRỜI HÀNH LỤT LỘI MỖI NĂM TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:
Từ
trước tới nay, các tỉnh từ Hà Tĩnh vào tới Quảng Trị, thuộc Miền Trung
nước Việt, luôn luôn hứng chịu thảm trạng chiến tranh và sự khắc nghiệt
của thời tiết,thêm vào đó Rặng Trường Sơn lấn ra sát biển, làm cho đồng
ruộng cằn khô vì cát lẫn với đá núi. Cho nên trong dân gian đã có câu
ca dao 'Trời hành cơn lụt mỗi năm, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu
cơm'. Lời than thở này bây giờ đã vượt biên giới và trở nên thân quen
đối với đồng bào miền Châu Thổ Sông Cửu Long, vì năm nào cũng phải cât
lực đối phó với tình trạng lụt lội, đã trở nên thường trực trong cuộc
sống của mọi người.
Trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt, tổ
tiên ta bao đời vừa phải ngăn chống giặc ngoại xâm, đồng thời cũng luôn
luôn diễn ra cuộc chiến sống chết chống thiên tai bảo lụt, khắp ba miền
Trung, Nam , Bắc., mỗi miền có một địa hình, thời tiết khác nhau nên
cách phòng chống cũng vô cùng phức tạp.
Dựa vào tài liệu của bao
đời lưu lại, ta thấy người xưa đã biết rất rõ ràng phương pháp trị
thủy. Miền Trung điạ hình hẹp và dốc, sông ngắn nên lụt lội dâng lên
rất mau., phải luôn đề phòng để kịp thời phòng chống. Ở Bắc phần, đồng
bằng thấp hơn mực nước sông vào mùa lụt từ 5m - 7m, vì vậy cần phải đắp
đê rất cao để ngăn lụt. Hằng năm vào mùa mưa, nước từ thượng nguồn bên
Tàu chảy về, cộng thêm nước từ miền Trung Du và đồng bằng, lại còn thủy
triều và nước biển dâng cao, do ảnh hưởng của bảo, là nguyên nhân mà
các thời đại VN trong lịch sử, phải đắp đê ngăn ngừa lụt ở miền Bắc.
Năm
886 sau Tây lịch, miền Bắc đã bắt đầu khởi công xây dựng hệ thống đê
điền, doc theo các con sông Hồng, Thái Bình và nhiều con sông quan
trọng khác.. Hiện nay qua báo cáo, hệ thống đê tại Bắc Việt dài tới
3500 km, tổng khối lượng đất đá xữ dụng là 400 triệu m3, gồm 260 bờ kè,
800 cống thoát nước. Những con đê với bờ cao, dốc thoải, thảm cỏ xanh
rờn, uốn lượn hai bờ sông, đã vẽ nên bức tranh quê làng VN, thật là êm
đềm hạnh phúc. Khắp nơi chen chúc ruộng đồng, vườn tược và nhà cửa đình
làng, ân hiện sau lũy tre xanh, đã nói lên thể phách văn minh văn hiến
của Dân tộc Hồng-Lạc.
Từ khi Trung Cộng lén lút xây dựng các đập
thủy diện trên hệ thống sông ngòi chảy qua tỉnh Vân Nam vào năm 1971,
thì đại họa cũng bắt đầu đổ ập một cách âm thầm vào non nước VN, qua
cảnh dòng sông không còn êm đềm chảy, mà dâng cao đục ngầu, mang đầy
rác rưởi, gổ tre, khắp nơi đầy những vực xoáy hung dữ. Năm 1971, mực
nước sông Hồng dâng cao tới 14,8 m,gần như lưu lượng nước (80-88%) đổ
vào Sơn Tây, trung tâm của đồng bằng Bắc Việt. Từ năm 1920, bờ đê tại
Hà Nội chỉ mới cao 11,5m. Năm 1932 là 13,3m và hiện nay đã cao tới
15-15,5m.
Ngoài ra còn hy vọng vào các hồ chứa sông Đà, Lô,
Gầm, Chảy và Ba Bể..để hạ bớt mực nước lụt. Câu chuyện thần thoại 'Sơn
Tinh Thủy Tinh' thời Tổ Hùng dựng nước, được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp
hồi tiền chiến, vẽ lại bằng bức tranh thơ, đã nói lên cuộc chiến quyết
liệt của Dân Tộc Việt, trước thảm nạn lụt lội và giặc thù truyền kiếp,
cả hai đều xuất phát từ nước Tàu. Vậy mà từ Hồ Chí Minh tới các chóp bu
kế tiếp sau này, lúc nào cũng to miệng bưng bợ Trung Cộng, rằng là đồng
chí đồng rận, chủ nghĩa xã hội anh em, môi hở răng lạnh, sông liên sông
núi liền núi..cho nên VC mới đem không biết bao nhiêu đất đai biên
giới, biển đảo để mà dâng cúng cho quan thầy, cũng đâu có gì lạ.
Đồng
bằng sông Cửu Long trái lại bằng pẳng,cho nên trước đây người dân bản
địa có tập quán là cứ sống chung với lủ lụt cho tới khi nước rút hết,
chứ không làm gì cả. Ta biết Sông Mekong tuy phát nguồn tận Tây Tạng và
chảy qua các nước Miến Điện, Thái Lan, Lào, Kampuchia mới vào Nam VN.
Quan trọng nhất, là dù phần cuối của sông Mekong, với tổng diện tích tự
nhiên chỉ có 3,9 triệu ha, chiếm 5% toàn bộ lưu lượng của cả dòng sông.
Trong lúc đó hằng năm,miền tây nam Nam phần, phải nhận của sông Cửu
Long, hơn 460 tỷ nước, cùng 200 triệu tấn phù sa, tạo nên miền châu thổ
phì nhiêu sông Tiền, sông Hậu ngày nay.
Lãnh thổ VN, chỉ có địa
hình Nam Phần bằng phẳng, thấp không có đồi núi nhiều (trừ núi Bà Rá,
Bà Đen ở miền Đông-Bắc,Thất Sơn ở biên giới phía Tây). Nên dù khắp nơi
có đầy kênh rạch, sông ngòi nhưng vào mùa nước lụt, vẫn không chịu nổi
ảnh hưởng của thủy triều và lượng nước tuôn về từ thượng nguồn, khiến
cho lòng sông không tải kịp nước ra biển, gây nên hiện tượng úng ngập
tràn lan kéo dài hằng tháng.
Trước đây khi dòng sông Cửu Long
chưa bị biến thái vì các đập thủy điện trên thượng nguồn tại Trung
Cộng, Thái Lan, Lào..thì hằng năm nước ngập, đã mang đến thật nhiều phù
sa bồi đắp cho miền châu thổ, làm cho Mũi Cà Mau lấn thêm đất ra biển,
sông rạch có thêm nhiều tôm cá và đủ cac loại thủy sản..Từ năm 1961 tới
1994, miền Tây Nam Phần đã bị sáu trận lụt lớn, làm ngập 1.828.000 Ha
ruộng, kéo dài từ 3-6 thang mới rút hết nước.
Thật ra vấn đề lụt
lội tại Nam Phần, đã được người Pháp quan tâm từ năm 1926, khi Đông
Dương là thuộc địa của thực dân. Qua những hồ sơ lưu trữ, ta biết tới
nay vùng này đã bị 31 lần lụt lội lớn nhỏ. Quan trọng nhất là năm 1966,
vào mùa lụt, nước sông Cửu Long tại Tân Châu lên tới 5,28m (trước đó
mực nước tối đa là 4,6m), đã làm cho toàn thể đồng bằng miền Tây chìm
ngập trong biển nước. Trước đây người ta thường có quan niệm về sự lụt
lội của Nam phần, là điều phải xảy ra theo chu kỳ qui định của thiên
nhiên trong 4 năm. Đó là những giai đoạn 1937-1940, 1946-1949.
Nhưng
giai thoại trên, kể cả lụt lội đem phù sa bồi đắp cho đồng ruộng, coi
như đã chấm dứt từ năm 1980, nguyên do vì Trung Cộng đã phá vở gần như
tất cả những môi trường thiên nhiên tại thượng nguồn nhưng VN lại lãnh
đủ hậu quả, nhưng cứ đem hiệu ứng nhà kính, đã gây ra sự thay đổi thời
tiết, khí hậu, để mà đổ thừa hay che dấu sự thực.
Hiện nay có
tới 12 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cưu Long, chiếm diện tích 3,9 triệu Ha
nhưng vùng lụt lội hằng năm thường tập trung vào 7 tỉnh đầu nguồn là An
Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và Long
An. Lụt lội hằng năm, làm cho 1 triệu Ha ruộng bị chìm ngập dưới nước
sâu trong nhiều tháng, gần 10 triệu đồng bào địa phượng bị thiệt hại,
từ nhân mạng tới vật chất. Lụt bây giờ ngập sâu và kéo dài hơn trước,
lại đến sớm nhưng rút muộn, ảnh hưởng nặng nề tới nông vụ vốn là chén
cơm manh áo bao đời của tầng lớp cư dân miệt vườn. Mặc khác lụt lớn,
làm cho đất đai bị mòn xói, phá vở các công trình xây dựng hai bên bờ
sông, kể cả đường xá kênh rạch. Riêng trận lụt năm 1996, làm cho 217
người chết trong đó có tới 162 trẻ nít, gây tổn hại tới 2182 tỳ tiền Hồ.
Sông
Mekong khi chảy tới Kampuchia, trong tỉnh Kompong Cham thì lòng sông
không đủ sức chuyển vận lưu lượng nước từ thượng nguồn, nên phần lớn
ruộng đất trong vùng cũng bị ngập nước nhiều tháng, từ tháng 7-12 hằng
năm. Nhờ nước tràn bờ nên lưu lượng giảm. Thêm vào đó tại NamVang, sông
Cửu Long có một chi nhánh lớn là sông Tonle Sap, đã dẫn nước về chứa
trong Biển Hồ có thể tích tới 80 tỷ m3.Nước này lại chảy ngược ra sông
chính vào mùa khô.
Cũng tại Kompong Cham, sông Cửu Long lại chia
thành hai nhánh: Nhánh chính tới Neak Luong và chảy vào VN tại Tân Châu
gọi là Tiền Giang. Nhánh Phụ còn gọi là sông Bassaac vào Châu Đốc, đó
là sông Hậu và ra Đông Hải bằng chín cửa nhưng nay cửa Ba Lai tại Bến
Tre đã bị cát biển và phù sa bít kín. Tại đầu nguồn, vì lưu lương nước
quá mạnh, nên dòng sông thường bị tràn bờ, đã tạo nên vùng nước úng
thủy Đồng Tháp Mười và Khu trũng Tứ Giác Long Xuyên. Ngoài ra vùng này
còn phải tiếp nhận một khối lượng nước phèn, hơn 77% từ Kampuchia tràn
sang trong mùa lụt.
Từ năm 1961 tới nay, miền Tây Nam Phần đã bị
nhiều trận lụt rất lớn và thiệt hại, vào các năm
1961-1966-1984-1991-1994 với mực nước dâng cao từ 4,67m - 5,28m. Năm
1978 tại Tân Châu, nước lên cao 4,88m làm 87 người chết, gây hư hại
307.000 Ha lúa và 9000 căn nhà. Năm 1994 mực nước lụt lên tới 5,11m làm
chết 407 người, gây tổn thất 283.000 Ha lúa, 2799 căn nhà bị nước cuốn,
thiệt hại tới 2284 tỷ tiền Hồ.Năm 1995 lại lụt, làm 150 người thiệt
mạng, cuốn trôi nhiều nhà cửa và ruộng lua.
Nguy cơ trùng trùng
nhưng Đảng chẳng những chẳng giải thích một lời nào về thảm họa vì đâu
nên nổi, trái lai vẫn cứ ru ngủ đồng bào nạn nhân bằng luận điệu tuyên
truyền như Mùa Nước Nổi Hay Sống Chung Với Lũ..nhờ đó mà đồng ruộng
Miền Nam được kéo dài tuổi trẻ, vì có sự bồi đắp của phù sa. Trong khi
đó,thực chất gần như đất đai màu mở, cá tôm thủy sản quý của thiên
nhiên ban cho các dòng sông Hồng Hà, Mekong..đã bị chuổi đập lớn nhỏ
trên 14 cái, được xây dựng tại Vân Nam giữ lại. Kế tiếp những gì may
mắn thoát được, lại bị kẹt ở chuổi đập của Lào-Thái. Cho nên ngày nay,
Kampuchia và VN chỉ còn nhận đủ những thứ cặn bã, trong đó có hơn 80%
các quặng, hóa chất..được thải từ hằng trăm nhà máy bên Tàu, đổ xuống
dòng nước, tống ra biển, như chúng đã làm trên sông Dương Tử, mà chính
báo chí tại Trung Cộng, vừa to tiếng tố cáo.
Khôi hài nhất là
bọn Tàu trắng Á Châu và các nước Tây Phương, trong cái gọi là Ủy Ban
hợp tác và bảo vệ sông Mekong, lúc nào cũng to miệng về những chuyện
trên mây,mục đích vẫn là những dự án đầu tư kiếm lời, chứ đâu thấy ai
nhắc tới hiểm họa, khủng bố mà Trung Cộng đã gây cho các nước ở hạ
nguồn sông Cửu Long.
4- ĐỒNG RUỘNG MIỀN NAM KÊU CỨU VÌ NẠN XÂM NHẬP NƯỚC MẶN:
Từ
năm 1980 tới nay, các sông ngòi ở VN hầu hết đều biến đổi kỳ lạ: Mùa
mưa thì tràn nước gây nên lụt lội, trái lại về mùa nắng nước thiếu gây
nên cảnh khô hạn. Tại Nam Phần, chính việc thiếu hụt nước tại các sông,
đã liên quan tới sự tấn công, xâm nhập của nước mặn từ biền tràn vào
sông, trong các đợt thủy triều.
Đã có trên hằng triệu Ha lúa và
hoa màu tại các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long, bị nước mặn xâm nhập khốc
liệt, vừa gây tổn hại tới thu hoạch cũng như làm cho mọi người trước
nguy cơ thiếu nước ngọt để ăn uống,tắm giặt. Đây là thảm họa chỉ mới
xãy ra tại Nam Phần từ sau thang 5-1975, hiện tượng nước mặn theo thủy
triều chảy sâu vào nội địa các tỉnh sát biển, nơi cửa sông Cửu Long. Sở
dĩ có tình trạng trên,vì ảnh hưởng của hai yếu tố từ lưu lượng nước tại
thượng nguồn và vùng hạ lưu, cộng thêm lượng nước mưa cũng như sự bốc
hơi vào mùa nắng.
Thông thường hằng năm, từ cuối tháng 4-5, nước
mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa, khiến cho nước ngọt tại các
kênh rạch không còn dùng được để mà tưới ruộng lúa và hoa quả, gây nên
cảnh hạn hán thất thu. Theo định luật khoa học, thì tiêu chuẩn độ mặn
cần có trong lượng nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp là 4%. Trong
khi đó nguồn nước lợ (nước ngọt đã bị nước mặn xâm nhập), độ mặn chỉ có
2% nhưng cũng chỉ để tưới ruộng tạm thời khi không còn một lối thoát
nào khác. Nguyên do vì thứ nước lợ này, chỉ có tác dụng cứu khô ngắn
hạn, nếu để lâu, nước bốc hơi làm cho nồng độ muối trong ruộng tăng lên
cao, làm chết hết lúa.
Do phần lớn đồng ruộng ở miền Nam, không
có hệ thống bờ ruộng và kè đê tốt, nên đã lãnh đủ sự xâm nhập của nước
mặn chảy vào ruộng,với số lượng bị ảnh hưởng lên tới 1,1 - 1,3 Ha theo
báo cáo của các cơ sở Nông Nghiệp. Ngoài ra nước mặn còn gây tổn hại
rất lớn đối với những đồng bào nuôi các loại thủy sản như tôm, cá,
ốc..để xuất cảng.
Nạn nước mặn xâm nhập đồng ruộng được đánh giá
trầm trọng, bắt đầu từ năm 1977, trên sông Vàm Cỏ Tây và Tiền Giang.
Tại đây nước mặn chảy sâu vào nội địa từ 8-12km, nhiều hơn những năm
trước. Trên sông Vàm Cỏ Tây, nước mặn theo thủy triều vượt qua Tuyên
Nhơn về hướng thượng nguồn hơn 30km và kéo dài tới 10 ngày mới rút. Tại
Mỹ Tho, nước mặnvào sông Tiền ít hơn và chỉ ở lại có 4 ngày. Nhưng vì
nhu cầu nước tuới, đồng bào đã vô tình giúp nước mặn tràn lan nội địa.
Những năm 1985-1986, vùng Tuyên Nhơn-Đồng Tháp, tình trạng nước mặn xâm
nhập có giảm so với các năm trước, nhờ con kênh Hồng Ngự mới đào, dẫn
nước Vàm Cỏ Tây thông qua sông Tiền. Bắt đầu từ thập niên 1990 Đồng
Tháp Mười được khai thác triệt để diện tích ruộng lúa, nên lượng nước
ngọt dùng để tưới trở thành thiếu thốn, tạo điều kiện cho nước mặn càng
ngày càng dâng cao, xâm lăng tới tăp vào sâu trong nội địa.
Năm
1993, nước mặn theo sông Vàm Cỏ Tây, lên tới thượng nguồn và ở lại
Tuyên nhơn tới 50 ngày. Trên Tiền Giang, do nhu cầu xữ dụng quá nhiều
nước, nên ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn cũng thay đổi từng năm.
Tại Mỹ Tho, nước mặn đã vượt qua vài cây số và nằm lai tới 17 ngày mới
rút ra biển. Năm 1998, tình trạng trên lại tái diễn một cách khốc liệt.
Nguyên do vì mùa nước nổi tại đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1997,
diễn ra thật bất thường, nước từ thượng nguồn đổ về rất ít và rút đi
rất sớm Tình trạng trên gây ra khô hạn kéo dài, tạo điều kiện để nước
mặn dâng lên cao và ùn ùn kéo vào sông Vàm Cỏ Tây, chảy sâu vào nội địa
tới 15-20km.
Trên sông Tiền, sông Hậu, Cổ Chiên tuy lưu lượng có
kém so với các năm trước, nhưng vẫn còn sức mạnh, làm giảm thiểu phần
nào sự xâm nhập của nước mặn, tuy nhiên cũng đã gây thiệt hại cho hơn
200.000 Ha ruộng lúa. Trong khi đó, vùng tứ giác đầu nguồn Long Xuyên
và phía Tây sông Hậu, lại bị ảnh hưởng rất nặng bởi sự xâm nhập của
nước mặn, vào sâu trong nội địa từ 16-20 km và ở lại hơn 3 tháng.
Sự
xâm nhập của nước mặn vào các sông ngòi miền Nam, là nguyên nhân chính
làm các nhà máy đường phải đóng cửa ngưng hoạt động, vì nước ngọt từ
năm 1999 đã tăng lên 30.000/1m3 tiền Hồ. Từ đây nước mặn tấn công vào
đất liền sớm hơn mấy năm trước. Tóm lại, không riêng gì Tuyên Nhơn, Mỹ
Tho..mà hầu như các tỉnh tại đồng bằng sông Cửu Long như Vàm Mỹ Hoá
(sông Hàm Luông-Bến Tre), Trà Vinh,, An Thuận, Bến Trại, Sóc Trăng,
Vĩnh Long, Cần Thơ.đều bị nước mặn xâm nhập phá hoại tàn khốc và không
có triệu chúng nào, báo hiệu thảm họa trên sẽ ngừng hay chấm dứt. Thêm
vào đó, từ mấy năm nay thời tiết lại thay đổi đột ngột, gió chướng thổi
manh hơn mấy năm trước, dồn nước mặn vào sông nhiều hơn, đồng lúc thủy
triều tại cửa sông hoạt động thêm dữ dội, trong khi lưu lượng dòng sông
từ thượng nguồn chảy xuống càng lúc càng yếu dần, không đủ triều cường
giữ giới hạn giữa hai con nước như mấy thập niên trước.
Hỡi ơi viết chuyện nước mà đau lòng với nước'
'Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mõi miệng cái gia gia
Dừng chân ngoảnh lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta '
(Bà Huyện Thanh Quan)
Hay:
' Non cao đã biết hay chưa
Nước đi ra bể, lại mưa về nguồn '
(Tản Đà)
Vẽ
hững hờ và êm ả của giòng sông, vào lúc chiều tà hay khi trăng treo
trên đầu núi, không biết Nguyễn Du tiên sinh sống lại, đứng trước những
thảm họa trên,đang ào ạt trút xuống những giòng nước thân thương đó,
từng phút, từng giây, từng trong hơi thở của nhip sống Dân Tộc Việt, có
còn đủ cảm hứng để hạ bút đề thơ:
'Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác, biết là về đâu ' -/-
Xóm Cồn
Tháng 6 - 2006
MƯỜNG GIANG