Ghép Tế Bào Gốc Trị Chấn Thương Cột Sống Thần Kinh
Bs
Michael Fedlings cùng các cộng sự viên tại Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa
Học Thần Kinh Krembil, Đại Học Toronto lấy tế bào gốc từ tế bào trưởng
thành não của chuột. Tế bào gốc được nhuộm bằng chất phát huỳnh quang
fluorescene để dễ theo dõi. Sau đó cấy tế bào gốc não vào cột sống lưng
chuột bị chấn thương.
Tế bào gốc tẩm trong một hỗn hợp gồm yếu
tố tăng trưởng và thuốc kìm hãm miễn dịch. Sau 2 tuần lễ ghép tế bào
gốc não vào chấn thương cột sống chuột thì thấy 1/3 tế bào gốc chuyển
động dọc theo cột sống thần kinh, bám vào những vùng cột sống thần kinh
bị chấn thương. Tế bào gốc tiến triển thành những tế bào giống như
những tế bào thấn kinh cột sống đã bị hư hại vì chấn thương, sản xuất
chất myelin, bao quanh giây thần kinh và dẫn truyền dấu hiệu thần kinh
từ não. Chuột dần dần có thể cử động và đi được vững vàng hơn. Chất
myelin đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn truyền thần kinh.
Thực
vậy, nhờ chất myelin tăng trưởng sau khi ghép tế bào gốc khiến chức
năng dẫn truyền thần kinh tái phát, chỉ huy bắp thịt và xương hoạt động
trở lại. Cấy sớm tế bào gốc vào mô thần kinh bị hư hại sẽ giúp chóng
lành mạnh chấn thương. Các khoa học gia hy vọng áp dụng ghép tế bào gốc
thần kinh trong việc điều trị bệnh nhân bị chấn thương cột sống. Kết
quả đăng trong báo The Journal of Neuroscience, March 29, 2006. (Chú
thích: Bs James Baumgartner thuộc Bệnh Việc Nhi Đồng Memorial Hermann,
đại Học Y Khoa Texas, Houston, đang sửa soạn một cuộc thử nghiệm đợt
đầu (1) cho 10 bệnh nhân nhi đồng tuổi từ 5 tơí 14, bằng cách ghép tế
bào gốc tủy sống lấy từ chính bệnh nhân rồi ghép vào não bị hư hại sau
chấn thương. Hy vọng đây là thử nghiệm đầu tiên dùng tế bào gốc trị
thương tích não bệnh nhân. Chương trình nghiên cứu được vạch ra nhờ kết
quả nghiên cứu cấy tế bào gốc thần kinh vào súc vật và người đã thành
công khi tế bào gốc được tẩm dung dịch yếu tố tăng trưởng, growth
factor, và thuốc kìm hãm miễn dịch. Cần lưu ý là trong thử nghiệm này
sẽ dùng tế bào gốc lấy từ tủy máu xương chứ không dùng tế bào gốc lấy
từ tế bào não trưởng thành như theo kết quả khảo cứu kể trên).
Bà Già Mỹ Bỏ Thuốc Lá Nhanh Hơn Ông Già
Bs
Heather E. Whitson và các cộng sự viên nghiên cứu khoảng 4,200 bệnh
nhân người già trong thời gian từ 1986 tới 1997. Mục đích là muốn tìm
hiểu xem các bà già, ông già sống ở Mỹ, bỏ thuốc lá như thế nào. Trong
số những người già kể trên có 600 người mơí hút thuốc lá khi bắt đầu
cuộc nghiên cứu. Trong 3 năm đầu, kết quả cho thấy cứ 600 người già thì
lại có 100 người bỏ hút thuốc lá. Người già bỏ thuốc lá khác vơí người
trẻ bỏ hút thuốc lá. Đàn bà già bỏ thuốc lá nhiều hơn ông già bỏ hút
thuốc lá. Trong khi đối vơí những người còn trẻ thì đàn ông lại bỏ hút
thuốc lá nhiều hơn đàn bà. Nhưng khoảng 16% người đã bỏ hút thuốc lá
lại hút lại. Những người trẻ bỏ hút thuốc lá (45%) nhiều hơn người già.
Hiện đang cần thêm nghiên cứu tìm hiểu vì sao người trẻ lại bỏ hút
thuốc lá nhiều hơn người già? Biết rằng bỏ thuốc lá có lợi, nhưng hầu
như nhiều bác sĩ không mạnh dạn khuyến cáo người già bỏ thuốc lá? Và vì
sao bà già lại bỏ hút thuốc lá nhiều hơn ông già?
Tuy nhiên, ở
bất cứ tuổi nào, bỏ thuốc lá sẽ giảm nguy cơ tử vong, gấp 2 lần, vì các
chứng bệnh ung thư hay tim mạch. Tham Khảo: Journal of the American
Geriatrics Society, March 2006.
Ngủ Nhiều Hay Ngủ Ít Quá Cũng Gây Nguy Cơ Bệnh Tiểu Đường?
Bs H. Klar Yaggi thuộc Cơ Quan Khảo Cứu New England Research Institutes
và Đại Học Yale nghiên cứu 1,709 đàn ông tuổi từ 40 tới 70. Kết quả cho
thấy đàn ông ngủ 6-8 giờ mỗi đêm là đủ và lành mạnh. Trái lại, khi đàn
ông ngủ ít, từ 5-6giờ mỗi đêm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường gấp đôi. Đàn
ông ngủ nhiều hơn 8 giờ mỗi đêm tăng cao nguy cơ tiểu đường gấp ba.
Nguy cơ tiểu đường vẫn cao sau khi điều chỉnh những yếu tố như: tuổi
tác, cao huyết áp, hút thuốc lá, và giáo dục.
Các chuyên gia
khuyến cáo cần biết thêm cơ nguyên vì sao giấc ngủ lại tăng cao nguy cơ
bệnh tiểu đường. Hiện có nhiều nghiên cứu tìm hiểu liên hệ giữa kích
thích tố và biến dưỡng khi thiếu ngủ. Thay đổi biến dưỡng liên hệ thay
đổi chức năng kích thích tố (hormone) giảm khả năng dinh dưỡng chất
bột, hiện tượng kháng insulin, hạ thấp leptin trong cơ thể gây mập phì.
Tham Khảo: Diabetes Care, March 2006.
Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D., F.A.A.F.P.; Điện Thoại: (714) 547-3915; E-mail: nmtran@hotmail.com