Thành qủa và Sai lầm: Nhìn lại Quân Lực VNCH 30 năm sau cuộc chiến

Theo Người Việt - Nguyễn Kỳ Phong - 08-04-2006

 LTS: Nguyễn Kỳ Phong, sanh năm 1956, tị nạn cộng sản ở Mỹ từ năm 1975, là tác giả hai dịch thuật, Hành Quân Lam Sơn 719 (nguyên tác Anh ngữ, Operation Lamson 719, của thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh), và Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa (nguyên tác, The Final Collapse, của đại tướng Cao Văn Viên). Ðã xuất bản một tác phẩm nghiên cứu về quân sử, Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam. Một tác phẩm mới với tựa là, Vũng Lầy của Tòa Bạch Ốc, sẽ được Tủ Sách Tiếng Quê Hương mắt vào trung tuần tháng 4 năm nay.

Lần đầu tiên, hơn ba mươi năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, một trung tâm nghiên cứu đã tổ chức hội thảo về vai trò của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) trong cuộc chiến. Nhiều trung tâm nghiên cứu và đại học ở Hoa Kỳ trong quá khứ đã tổ chức nhiều hội thảo về chiến tranh Việt Nam, nhưng chỉ về chiến tranh Việt Nam như là chủ đề chính, chứ không bàn sâu về vai trò của QLVNCH. Với đề tài ARVN: Reflections and Reassessments After 30 Years (QLVNCH: Hồi Tưởng và Tái Thẩm Ðịnh Sau 30 năm), The Vietnam Center (Trung Tâm [nghiên cứu về] Việt Nam) của đại học Texas Tech tổ chức hai ngày hội thảo cho chủ đề riêng biệt về vai trò của QLVNCH.

 

Theo những gì được biết, ý kiến tổ chức buổi hội thảo có chủ đề dành riêng cho QLVNCH đến từ ông Nguyễn Xuân Phong, một viên chức của trung tâm. Theo ông Phong nhận định, nói về chiến tranh Việt Nam mà không nhắc đến vai trò của QLVNCH thì tất cả những bàn luận trở thành vô nghĩa. Và trung tâm hoàn toàn đồng ý về nhận xét của ông Phong. Cuộc hội thảo là kết quả của nhận định đó.

 

Trong hai ngày hội thảo, có tất cả 29 diễn giả gồm 17 người Mỹ và 12 Việt. Ðề tài thảo luận rất bao quát: Từ cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh qua Hạ Lào vào tháng 2-1971, cho đến trận phản công của QLVNCH trong trận ôMùa Hè Ðỏ Lửaọ vào năm 1972; từ trận đánh giữa tiểu đoàn 4 TQLC và hai trung đoàn Việt Cộng ở Bình Giả năm 1964, cho đến trận hải chiến giữa Hải Quân VNCH và Trung Cộng ở quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Một vài đề tài hơi đi xa chủ đề (Thiếu Thốn; Cuộc Ðời Dang Dỡ; Chống Mỹ: Những Phong Trào Biểu Tình của Thương Phế Binh, 1970-1971; hay là, TQLC Hoa Kỳ và Những Cố Gắng Trong Kế Hoạch Chống Du Kích và Bình Ðịnh ở Việt Nam), nhưng tựu trung, tất cả những bài thuyết trình đều đi sát đề tài và thu hút được sự chú ý của thính giả. Ðặc sắc nhất là khi anh Nguyễn Văn Kiệt (cựu quân nhân của Liên Ðoàn Người Nhái) kể lại chuyện anh và một sĩ quan lực lượng đặc biệt Hải Quân Hoa Kỳ (SEALs) đi vào lòng đất địch để cứu một trung tá phi công bị bắn rơi ở trên bờ sông Thạch Hãn. Trước chuyến giải cứu thành công của anh Kiệt, Hoa Kỳ đã bị thiệt hại 6 phi công và 9 phi cơ để cứu người trung tá này. Dù với khả năng Anh ngữ trung bình, anh Kiệt đã làm cho thính giả vỗ tay vang vội vì sự chân thật trong câu chuyện anh kể. Quan khách đã đứng lên vỗ tay nhiệt liệt khi anh kết thúc câu chuyện thật lý thú, đầy hồi hộp đó. Chuyến giải cứu này trước đây đã được viết ra ba quyển sách, và đã quay thành phim với tựa đề ôThe Rescue of Bat-21ọ (Cuộc Giải Cứu [phi công có bí hiệu] Bat-21).

 

Phía người Việt tham dự cuộc hội thảo có nhiều thành phần khác nhau: Những viên chức chánh phủ như cựu đại sứ Bùi Diễm, ông Nguyễn Ngọc Bích; phía quân nhân có cựu trung tướng Lữ Lan, đại tá Mai Viết Triết (một trong những sĩ quan đầu tiên của Liên Ðoàn 77 Quan Sát Ðịa Hình, tiền thân của Lực Lượng Ðặc Biệt và Phòng 7 về sau), thiếu tá TQLC Trần Ngọc Toàn, một sĩ quan đã tham dự trận Bình Giả năm 1964, hải quân đại tá Ðỗ Kiểm... và một số cựu sĩ quan khác của QLVNCH. Tương tự, phía dân sự cũng có một tập hợp của nhiều thành phần và kiến thức chuyên môn khác biệt: Từ một dân sự chưa một ngày ăn cơm cháy nhà binh như tác giả bài viết này, cho đến những sinh viên ban tiến sĩ thật trẻ, như hai cô Julie Phạm (29 tuổi, đại học Berkeley), Nguyễn T. Liên-Hằng (34 tuổi, đại học Harvard); hay là hai thanh niên tuổi dưới ba mươi, Hoàng Tuấn (đại học Notre Dame) và Nguyễn Minh Triết (đại học Ottawa); hay ông Nguyễn Văn Tín (em trai cố thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu) tuổi đã ngoài 60; hay anh Ðoàn Hữu Ðịnh, cựu sĩ quan Lực Lượng Ðặc Biệt, một khuôn mặt quen thuộc trong những hoạt động của cộng đồng các hội cựu quân nhân QLVNCH.

 

Phía Hoa Kỳ, phái đoàn tham dự cũng có một sắc thái tương tự - dân sự, khoa bảng, và cựu chiến sĩ. Người mở đầu cuộc hội thảo là tiến sĩ Lewis Sorley, một cựu sĩ quan đã tham dự chiến tranh Việt Nam từ ngày đầu cuộc chiến. Sau khi trở lại Mỹ, Sorley chuyển sang làm việc cho CIA và là một nhân viên cao cấp của cơ quan tình báo này. Sorley, lúc còn sĩ quan cấp tá, là bạn cùng khóa ở trường Tham Mưu Trung Cấp Lục Quân Hoa Kỳ (Fort Leavenworth, Kansas) với đại tá Hà Mai Việt. Ra trường võ bị West Point năm 1965, bạn cùng khóa với ông là những đại tướng ở các bộ tư lệnh quan trọng như Norman Schwarzkopf, John Foss, John Shaud, hay trung tướng Dave Palmer, một cố vấn cho trường võ bị Ðà Lạt trong đầu thập niên 1970. Sorley còn là tác giả của ôThe Abrams Tapesọ, một tác phẩm công phu viết về cơ cấu quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam. Những người khác như trung tá James Willbanks, một sĩ quan đã tử thủ trận An Lộc chung với sư đoàn 5 Bộ Binh trong trận Mùa Hè Ðỏ Lửa, và hiện nay là trưởng khoa quân sử của trường Tham Mưu Trung Cấp Lục Quân Hoa Kỳ; Ðại tá Darrell Whitcomb, một trong những phi công bay yểm trợ và chỉ điểm cho cuộc giải cứu Bat-21; một sĩ quan cố vấn khác, ông Bill Laurie, đã làm cho thính giả Việt Nam thích thú khi anh ta tuyên bố - bằng tiếng Việt, giọng miền Nam - là anh ta đã ngồi nhậu với lính VNCH ở rất nhiều quán cóc trên bốn vùng chiến thuật!

 

Ngoài ra, phía dân sự có nhiều tay thật khoa bảng tham dự: Một giáo sư chưa đầy 34, Mark Moyar, nhưng với văn bằng tiến sĩ từ đại học Harvard và Cambridge (London), anh ta lên viết về cơ cấu của Kế Hoạch Phụng Hoàng. Hiện nay anh là giáo sư thực thụ của trường tham mưu trung cấp TQLC Hoa Kỳ. Một tiến sĩ khác, Anrew Wiest, cũng trong khoảng tuổi hơn ba mươi, thuyết trình về hai khuôn mặt trái ngược của hai quân nhân VNCH trong cuộc chiến: một người hùng là trung tá Trần Ngọc Huệ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/trung đoàn 2/sư đoàn 1 Bộ Binh, người đã dẫn tiểu đoàn nhảy trực thăng vào chiếm Tchepone ở Hạ Lào năm 1971, rồi từ đó phải đánh bằng đường bộ để triệt thoái ngược về biên giới Việt Nam với tiểu đoàn chỉ còn lại 26 người. Người sĩ quan kia, trung tá Phạm Văn Ðỉnh, người đã đem nguyên trung đoàn 56 (sư đoàn 3 Bộ Binh) đầu hàng cộng sản Bắc Việt vào trận Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972, khi trung đoàn 56 bị ba sư đoàn CSNV bao vây, rồi sau đó lên đài phát thanh của cộng sản kêu gọi những quân nhân ở những trung đoàn còn lại đầu hàng. Người thuyết trình này hiện nay là trưởng một trung tâm nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam ở đại học Mississippi. Chúng ta cũng thể không nhắc đến ông giám đốc Trung Tâm Việt Nam của đại học Texas Tech, người đã đứng ra tổ chức cuộc hội thảo: Tiến sĩ James R. Reckner là cựu sĩ quan cố vấn cho một giang đoàn xung phong của Hải Quân Việt Nam (Giang Ðoàn 26 Xung Phong) hoạt động dọc theo Kinh Vĩnh Tế. Rất lý thú khi ngồi nghe ông kể lại cuộc đời chinh chiến của ông trên những kinh rạch, sông ngòi, ở miền Nam, hay xa hơn về phía biên giới Miên như Tân Châu, Hồng Ngự ở Châu Ðốc.

 

Trong chuyến đi tham dự hội thảo, tham dự viên được mời tận vào phòng sách tham khảo và nghiên cứu của trung tâm. Và phải thành thật mà nói, đây là một kho tàng cho những người nghiên cứu về Việt Nam - không nhất thiết chỉ về quân sự hay quân sử, mà tất cả mọi phương diện về Việt Nam như một quốc gia. Nguồn gốc trung tâm bắt đầu vào năm vào năm 1989, khi đại tướng Westmoreland (tư lệnh MACV, rồi sau đó tư lệnh Lục Quân), đô đốc Elmo Zumwalt (tư lệnh Hải Quân ở Việt Nam, rồi tư lệnh Hải Quân Hoa Kỳ), thứ trưởng William Bundy (anh của McGeorge Bundy, cố vấn an ninh quốc gia cho Kennedy và hai năm đầu của Johnson), đại sứ Bùi Diễm, cùng tiến sĩ Reckner ngồi xuống quyết định xây dựng một trung tâm tàng trữ thư liệu về Việt Nam. Hơn hai năm sau, trung tâm được sự cộng tác quan trọng của tác giả Douglas Pike, khi ông này dọn nguyên thư viện cá nhân của ông từ viện đại học Berkeley ở California về. Ông Pike là một học giả về Việt Nam và chiến tranh Việt Nam, thư viện riêng của ông gồm có hơn bảy triệu trang tài liệu; 15 ngàn quyển sách; và ba ngàn phim ảnh đủ loại. Phải nói đây là một thư viện nghiên cứu thứ thiệt! Từ những bộ sách như Công Báo Việt Nam (do Việt Tấn Xã in, tiếng nói chánh thức của chính phủ VNCH) đến những bộ sách về liên hệ Việt-Pháp của thập niên 1800, cho đến những báo cáo tối mật đã được giải mật của CIA, Bộ Ngoại Giao, cho đến những tường trình về quân sự, hồ sơ về trường sĩ quan trừ bị Thủ Ðức... tất cả thật chi tiết, tất cả có thể cho người đọc một quá khứ thật rõ ràng về VNCH nói riêng và về Việt Nam nói chung. Người viết bài này có dịp cầm trên tay một tài liệu nói về những khóa đầu tiên của trường sĩ quan Thủ Ðức. Trong đó nhiều chi tiết thật lý thú.

 

 Thí dụ, nhìn vào Khóa 1 Nam Ðịnh, chúng ta thấy tên người sĩ quan thủ khoa là thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh; khóa có 255 khóa sinh, nhưng chỉ có 218 người ra trường với cấp bậc thiếu úy, số còn lại là chuẩn úy vì điểm đậu dưới tiêu chuẩn. Ngoài những chi tiết đó, chúng ta còn biết các sĩ quan có tên ra trường hạng thứ mấy trong khóa đó. Chẳng hạng như chuẩn tướng không quân Ðặng Ðình Linh đậu hạng 208 (trên 255 sinh viên); đại tá cựu thẩm quán quân sự Nguyễn Cao Quyền hạng 19; trung tướng TQLC Lê Nguyên Khang hạng 75; tướng không quân Phan Phụng Tiên hạng 31... Trong khi đó, Khóa 1 Thủ Ðức có tất cả 311 sinh viên thụ huấn, 278 ra thiếu úy; 24 ra chuẩn úy; và 9 ra trung sĩ vì điểm quá thấp. Nhìn sơ qua, thấy thủ khoa là cựu đại tá Cảnh Sát Phạm Kim Quy, thấy trung tướng Nguyễn Ðức Thắng ra trường hạng 5 và chọn binh chủng Pháo Binh, hay, tướng Ðồng Văn Khuyên là á khoa của khóa 1 Thủ Ðức. Và những khóa khác lại cho nhiều lý thú hơn: Khóa 3 có đại tá Hoàng Ðức Ninh ra trường hạng 208 trên 712 sinh viên; tướng nguyễn Khoa Nam hạng 83; tác giả viết sử Phạm Kim Vinh hạng 256. Ở Khóa 5 thì có tác giả đại tá Phạm Bá Hoa, hạng 648 trên 879; đại tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu, hạng 381; và đại tá Hà Mai Việt, hạng 86... Ðại khái, những tài liệu ghi lại những chi tiết như vậy. Người viết bài - một người tự thú là mê sách - thật hăm hở, thật là thích thú với hàng trăm kệ sách đầy tài liệu trước mặt mình. Sự thích thú của của người viết đã làm cho ông Reckner nói đùa với hai phụ tá là tiến sĩ Steve Maxner và anh Trần Công Khanh là, Nên chú ý tên này, nó lục lạo nhiều quá. Xét người nó trước khi ra về. Nó có thể 'chôm' những tài liệu quý giá của chúng ta! Thật là một cuộc thăm viếng không uổng công.

 

Trung tâm Việt Nam của đại học Texas Tech, trong quá khứ đã bị nhiều phản đối, chỉ trích, và phê bình có khuynh hướng thân cộng. Nhất là sau khi họ cho xuất bản quyển hồi ký của bác sĩ cộng sản Ðặng Thùy Trâm. Dĩ nhiên chúng ta thấy tác phẩm đó có một cái nhìn cá nhân rất lệch lạc, đầy tuyên truyền của một bác sĩ đã bị nhồi sọ từ lúc thiếu thời. Cũng như trung tâm đã thường liên lạc và hướng dẫn những phái đoàn viên chức cao cấp của cộng sản Việt Nam qua thăm viếng, như Nguyễn Mạnh Cầm, Trần Bạch Ðằng, tướng Nguyễn Ðình Ước, Phan Huy Lê, Lê Văn Bằng. Nhưng theo giám đốc Reckner, trung tâm của ông đã bị mọi bên chỉ trích: Phía phản chiến, thiên Tả thì nói ông quá thân thiện với các quân nhân VNCH, thiên vị cho phía miền Nam; trong khi một vài chiến sĩ VNCH và Hoa Kỳ thì đặt vấn đề tại sao trung tâm lại thân thiện với nhiều viên chức cộng sản! Câu trả lời của trung tâm - cũng như của chính tiến sĩ Reckner - trung tâm chỉ là một nơi dự trữ những tàn tích, thư liệu, tang chứng về Việt Nam, về VNCH và CSVN. Trung tâm chỉ là một trung gian chứ không phải là nơi thẩm định những tác động hay hậu quả chính trị, hậu quả cuộc chiến đã xảy ra; trung tâm không phê phán mà chỉ trưng bày những sự kiện. Rồi từ những sự kiện và thư liệu đó, các nhà nghiên cứu, học giả, độc giả, tự mình đi đến những kết luận riêng cho chính họ.

 

Nguyễn Kỳ Phong

 


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:
     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_thanh_qua_va_sai_lam_1.htm

Những Bài Liên Quan:
LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online.

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.