(Góp ý với bài "Phản biện bài viết của luật sư Đài", của luật sư Đặng Dũng, viết từ TPHCM).
Nhân
đọc trên Net bài viết của Ls Đặng Dũng, viết để "Phản biện bài viết của
Ls Đài" về việc Ls Đài chủ trương quyền chính trị lập Chính Đảng ở Việt
Nam, người viết cũng xin được góp một vài ý kiến để rộng đường suy nghĩ
cho Đất Nước.
Điều người viết xin xác nhận ngay là tác giả của
bài nầy không có ý đi vào nội dung việc "phản biện" của Ls Đặng Dũng
đối với bài viết của Ls Đài để nói rằng ai đúng ai sai, mà nhân việc Ls
Đăng Dũng nêu ra khía cạnh luật pháp của chủ trương thành lập Chính
Đảng của Ls Đài, để đề cập đến thể thức "dành quyền hạn chế cho luật
pháp" (reserve de lois; riserva di legge), qua thể thức được ghi trong
Hiến Pháp 1992 của CSVN, để nêu ra một đặc tính quan trọng mà Hiến Pháp
phải có, nếu Hiến Pháp đó không phải chỉ là Hiến Pháp thuyết lý, Hiến
Pháp mạo nhận, Hiến Pháp mị dân hay Hiến Pháp có tầm hiểu biết nông cạn
về thế nào là Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ.
Ai trong chúng ta
cũng biết Hiến Pháp văn bản nền tảng, ghi nhận những đạo luật căn bản
(Grundgesetz, Đức Ngữ), trên đó một Quốc Gia được xây dựng.
Nói
như vậy có nghĩa là Hiến Pháp chỉ nêu lên những nguyên tắc nền tảng căn
bản để bảo vệ con người (đặc tính bảo chứng tất yếu phải có của Hiến
Pháp) và định hướng thể chế và cơ chế Quốc Gia.
Hiến Pháp
không thể tiên liệu hết mọi trường hợp cá biệt, do đó phần áp dụng tinh
thần của Hiến Pháp vào cuộc sống Cộng Đồng, được Hiến Pháp dành lại cho
quyền Lập Pháp thường nhiệm sau nầy (Quốc Hội) "chuẩn y hay bác bỏ" các
điều khoản luật pháp sẽ được thành hình (Cfr. QUỐC HỘI LÀ GÌ?).
Hình
thức dành quyền lại cho luật pháp, sẽ được thành hình trong tương lai
sau khi Hiến Pháp được công bố, thường được viết theo hình thức mà
chúng tôi nêu lên ở tựa bài: "... theo luật pháp ấn định,... như luật
lệ hiện hành".
a) Trước tiên qua cách thức tuyên bố vừa kể, các
vị soạn thảo trong Quốc Hội Lập Hiến có ý giới hạn các lối hành xử tác
oai, tác quái của Hành Pháp.
Hành Pháp (hay Nhà Nước mình)
không thể tự mình tùy hỷ ký sắc lệnh, ra nghị định, công bố pháp lệnh
để áp đặt lên đầu lên cổ dân chúng những gì mình muốn, mà khi hành xử
phải tuân theo thể thức và điều kiện của luật pháp được Quốc Hội chuẩn
y và chỉ có Quốc Hội mới có quyền chuẩn y các đạo luật có hiệu lực bắt
buộc luật định.
Đó cũng là những gì Ls Đặng Dũng trích dẫn điều 68 Hiến Pháp 1992 CSVN:
-
"công dân có quyền tự do đi lại và cư trú, ở trong nước, có quyền ra
nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo qui định của Pháp luật".
Đó
là hình thức thông thường "dành quyền hạn chế cho luật pháp" (riserve
di lois; riseva di legge), Hiến Pháp nào cũng dùng đến, tưởng không cần
phải viết thêm.
b) Hình thức kế đến là hình thức "dành quyền hạn
chế tăng cường đối với luật pháp" (riserve renforcée de lois; riserva
rinforzata di legge), thường được dùng để bảo vệ các quyền có liên hệ
mật thiết với tự do cá nhân:
- "Mọi người có quyền tự do được
phát biểu và truyền bá tư tưởng bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh, có
quyền được thông tin không ai được cấm cản, từ những nguồn tin mà ai
cũng có thể thu nhận được. Tự do báo chí và tự do thông tin bằng đài
phát thanh và điện ảnh được bảo đảm. Không thể chấp bất cứ một sự kiểm
duyệt nào.
Các quyền nầy có giới hạn trong các luật lệ tổng
quát và các nguyên tắc có liên quan đến việc bảo vệ thanh thiếu niên và
quyền của mỗi người được tôn trọng danh dự của mình" (Điều 5, đoạn 1 và
2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
Điều vừa kể cho thấy
Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức (CHLBD) cấm mọi sự kiểm duyệt đối
với quyền tự do ngôn luận và truyền bá tư tưởng của con người, "không
thể chấp nhận bất cứ một sự kiểm duyệt nào".
Để giới hạn cách
hành xử quyền tự do vừa kể đối với mỗi người, Hiến Pháp giao lại cho
Quốc Hội soạn thảo ra "các luật lệ tổng quát và các nguyên tắc...", như
hình thức "dành quyền giới hạn cho luật pháp", chúng ta bàn đến ở đoạn
a).
Nhưng không phải giao là "khoán trắng" để Quốc Hội soạn thảo
và chuẩn y luật pháp thế nào tùy hỷ, mà là phải soạn thảo và chuẩn y
luật pháp có mục đích "bảo vệ thanh thiếu niên và quyền của mỗi người
được tôn trọng trong danh dự của mình".
Đó là lằn mức "hạn chế tăng cường đối với luật pháp" của Hiến Pháp 1949.
Ngoài
ra định hướng được Hiến Pháp 1949 nêu ra vừa kể, mọi đạo luật nhằm giảm
thiểu, giới hạn, kềm kẹp tự do ngôn luận và truyền bá tư tưởng sẽ được
coi là những đạo luật vi hiến và do đó vô hiệu lực và sẽ mang lại hậu
quả phải có cho những ai "soạn thảo và chuẩn y" một đạo luật vi hiến.
Hành vi đó sẽ phải nhận lãnh hậu quả trước Viện Bảo Hiến quyết định (Điều 18, id.).
c) Nhưng rồi Hiến Pháp bảo đảm tự do cho con người không những chỉ có vậy.
Đối
với những quyền tự do cá nhân liên quan mật thiết đến thân thể và đời
sống con người, Hiến Pháp còn dành cho mình một hình thức khác, "dành
quyền tuyệt đối cho tư pháp" (riserve absolue au pouvoir judiciaire;
riserva assoluta al potere giudiziario)
Đó là những gì chúng ta có thể đọc được ở điều 13 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc:
- "Tự do cá nhân bất khả xâm phạm.
Không
thể chấp nhận bất cứ một cuộc kiểm soát, lục xét trưng thu nào, cũng
như bất cứ mọi hình thức giảm thiểu tự do cá nhân nào khác, nếu không
do án trác có lý chứng của cơ quan tư pháp, và chỉ trong các trường hợp
và theo thể thức luật định" (Điều 13, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý
Quốc).
Trong điều khoản vừa được trích dẫn, chúng ta thấy Hiến
Pháp dùng hình thức "hạn chế cho luật pháp" như ở đoạn a), "... chỉ
trong các trường hợp và theo thể thức luật định", dĩ nhiên là luật do
Quốc Hội chuẩn y chớ không nghị định, sắc lệnh, pháp lệnh được Hành
Pháp tung ra tùy hỷ.
Và rồi một khi kiểm chứng, có được các điều
kiện "trong các trường hợp và theo thể thức luật định" như Hiến Pháp
bắt buộc, nhân viên công lực hay cảnh sát, công an cũng chưa có đủ yếu
tố để "kiểm soát, lục xét, trưng thu" giới hạn cuộc sống riêng tư và tự
do cá nhân. Hiến Pháp đòi buộc như là điều kiện tuyệt đối để có thể xâm
phạm hay giảm thiểu tự do cá nhân là phải có "án trác có lý chứng của
cơ quan tư pháp".
Chỉ có "án trác có lý chứng của cơ quan tư
pháp" mới là lệnh cuối cùng cho phép cảnh sát, công an hành xử can
thiệp vào đời sống tư riêng của con người.
Và dĩ nhiên "án
trác có lý chứng" đó của tư pháp, người dân có quyền kiểm chứng hoặc
qua cơ quan tư pháp ở thứ bậc cao hơn (Điều 19, đoạn 4 Hiến Pháp 1949
CHLBD), hoặc qua Viện Bảo Hiến (Điều 93, đoạn 4a Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Qua ba hình thức vừa kể,
- "dành quyền hạn chế cho luật pháp",
- "hạn chế tăng cường đối với luật pháp"
- và "dành quyền tuyệt đối cho tư pháp",
chúng
ta thấy rằng càng tiến lại sát gần bản thân và cuộc sống con người, từ
tự do cư trú qua tự do ngôn luận và tiến đến tự do trên thân thể và
cuộc sống riêng tư, Hiến Pháp càng lúc càng dành những điều kiện khắt
khe hơn đối với luật pháp và nhứt là đối với Hành Pháp, cơ quan hành xử
luật pháp, để bảo vệ hữu hiệu hơn cho con người.
d) Không những
vậy, để bảo vệ trọn vẹn con người, các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ
Tây Âu còn đưa ra những điều kiện bất di dịch, không thể vượt qua, đối
với bất cứ cơ chế nào của Quốc Gia, Lập Pháp, Hành Pháp hay Tư Pháp
cũng vậy:
- "Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm" (Đieàu 1, đoạn 1 Hieán Phaùp 1949 CHLBD).
-
"Không có bất cứ một trường hợp nào, trong đó một quyền căn bản của con
người bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó" (Điều 19, đoạn 2 Hiến
Pháp 1949 CHLBD).
- "Mọi bạo lực trên thân xác và cưỡng chế
tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt" (Điều 13,
đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc),
- "Hình phạt không thể nào chứa
đựng những cách đối xử vô nhân đạo và phải có mục đích cải hóa người bị
kết án" (Điều 27, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Qua những gì
vừa kể, chúng ta thấy rằng các Hiến Pháp Tây Âu, đặc biệt hai Hiến Pháp
mà chúng tôi có dịp học hỏi và nghiên cứu vì liên quan đến việc làm của
chúng tôi, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 CHLBD, không "khoán trắng" Lập
Pháp chuẩn y, Hành Pháp áp dụng và Tư Pháp phán quyết cách nào tùy hỷ,
"theo luật pháp ấn định,... như luật lệ hiện hành", mà là đứng ra "ấn
định và hiện hành" trước, nêu ra phương hướng, đặt điều kiện và lằn mức
không thể vượt qua.
Chúng tôi không hân hạnh có được Hiến Pháp
1992 của Đảng và Nhà Nước CSVN mình trong tay, nên không được biết Hiến
Pháp 1992 mình có những điều khoản tiên liệu như vừa kể, để bảo vệ con
người hay không. Xin Ls Đặng Dũng tra cứu giúp chúng tôi.
Nếu
chẳng may Hiến Pháp 1992 mình vô tình hay hữu ý, vì có tầm hiểu biết
nông cạn về Hiến Pháp hay cố ý viết ra một loại Hiến Pháp mạo danh,
Hiến Pháp 1992 mình "khoán trắng" cho Đảng và Nhà Nước, Quốc Hội cũng
như Toà Án Nhân Dân "... theo luật pháp ấn định,... theo luật lệ hiện
hành" rảnh tay tác oai, tác quái cách nào tùy hỷ lên đầu lên cổ dân
chúng thấp cổ bé họng.
Chúng tôi nêu lên câu hỏi vừa kể với tâm
trạng nghi ngờ về phẩm chất có khả năng bênh vực con người của Hiến
Pháp 1992 mình, do những gì mới xảy ra cách đây không lâu cho anh em
Tin Lành ở Sàigòn.
Nếu Hiến Pháp mình có những điều khoản như
- "Mọi bạo lực trên thân xác và cưỡng chế tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt".
- "Hình phạt không thể nào chứa đựng những cách đối xử vô nhân đạo...",
thì
làm gì công an mình có thể xông vào nhà đột phá, chửi bới, đánh đập,
bắn giết, bắt bỏ tù "bọn Tin Lành đang quy tựu nhóm năm, nhóm bảy tại
các tư gia để cầu nguyện, đọc kinh, nghe tin mừng Phúc Âm, vì nhà thờ
tụi nó bị ủi sập?"
Ở Âu Châu, ai ngược đãi, bỏ đói, đánh đập
hay bỏ rơi con chó đều có thể bị Hội Bảo Vệ Súc Vật (Animalista) tố cáo
và có thể được lãnh từ 2 tháng đến 3 năm tù ở.
Ở Việt Nam công
an mình có thể đột phá gia cư, chửi bới, đánh đập bắn giết, bắt bỏ tù
con người theo đạo Tin Lành, "... theo luật pháp ấn định,... theo luật
lệ hiện hành".
Ở Việt Nam con người bị đối đãi thua con chó ở Âu Châu.
Ở
một khoản Ls Đặng Dũng đưa ra lý lẽ để biện hộ cho tính cách tự do dân
chủ trì trệ do Đảng và Nhà Nước mình hành xử "... theo luật pháp ấn
định,... theo luật lệ hiện hành". Lý lẽ của Ls Đặng Dũng đưa ra để biện
hộ không có tính cách thuyết phục.
Theo Ls Đặng Dũng thì "đối
với quyền chính trị thành lập Đảng, thì rõ ràng ai cũng biết, hiện nay,
theo Hiến Pháp 1992, thì quyền chính trị thành lập Đảng chưa được, (chứ
không phải là không được) thể hiện (trg. 2)
Lý do của sự chậm
trễ "chưa được" vừa kể, cũng như chưa có thể thi hành lưỡng đảng thay
vì đa đảng, là do "chính là phải dựa trên sự trưởng thành về dân chủ
của Nhà Nước và người dân qua thời gian dài, mà xuất phát của nó phải
từ đa đảng sẽ dần bớt đi để hướng tới một thể chế lưỡng đảng và điều
nầy sự trưởng thành chính trị nào cũng phải kéo dài hàng chục năm chứ
không thể áp đặt chủ quan là được" (trg. 2).
Hiểu như vậy, chúng ta thấy rằng không biết bao nhiêu năm nữa Việt Nam mới thực sự có tự do dân chủ.
Nếu
người dân chỉ muốn đứng ra thành lập Đảng thôi, như ý kiến của Ls Đài,
còn "chưa được", thì việc đi đến lưỡng đảng như các nước văn minh khác,
từ đa đảng đến lưỡng đảng, phải có "sự trưởng thành chính trị... kéo
dài hàng chục năm" nữa.
Và từ đây cho đến tương lai vòi vọi,
thâm thẩm đó của nền dân chủ văn minh, Đảng và Nhà Nước mình cứ tạm
thời "... theo luật pháp ấn định,... theo luật lệ hiện hành" hành xử
quyền lực Quốc Gia tùy hỷ, áp đặt lên đầu lên cổ dân chúng!
Có
lẽ đọc những dòng nầy Ls Đặng Dũng không lưu ý, nhưng những gì chúng
tôi trích dẫn, là trích dẫn từ Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và Hiến Pháp 1949
CHLBĐ.
Hai Hiến Pháp vừa kể được người Ý và người Đức viết ra ở những năm ngay sau thế chiến thứ hai vừa chấm dứt.
Đất
nước của họ cũng đổ nát do chiến tranh và họ sống với mức sống cùng
cực, không thua gì thảm trạng đất nước chúng ta của năm 1975.
Vậy
mà họ đã soạn thảo ra được Hiến Pháp không những cho phép thành lập
chính đảng, coi như là một trong những quyền bất khả xâm phạm của người
dân, mà còn khuyến khích người dân hãy thành lập chính đảng để cộng tác
hướng dẫn và xây dựng Quốc Gia:
- "Mọi công dân đều có quyền tự
do gia nhập chính đảng để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ
định hướng đường lối chính trị Quốc Gia" (Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ý
Quốc).
Câu văn vừa kể cho thấy không những tổ chức Quốc Gia
không cấm cản, "không được" hay "chưa được" thành lập chính đảng, như
Hiến Pháp 1992 của mình, được Ls Đăng Dũng cho biết ở trên, mà Quốc Gia
còn khuyến khích người dân hãy gia nhập chính đảng để "... cùng nhau
cộng tác theo phương thức dân chủ, định hướng đường lối chính trị Quốc
Gia".
Hiểu như vậy, người dân Ý hay người dân Đức, ngay từ năm
1947 và 1949, đứng trên đất nước đổ nát của họ do Benito Mussolini và
Rudolf Hitler độc tài hét ra lửa, đẩy hàng triệu người như súc vật vào
các lò sát sinh và xuống các mồ chôn tập thể, đã là những người đã có
kinh nghiệm dân chủ, trưởng thành về chính trị hơn cả Nhân Dân, Đảng và
Nhà Nước mình ở năm 1992 và ngay cả hiện nay nữa sao?
Hỏi cách
khác, sau trên 31 năm đỉnh cao trí tuệ lãnh đạo đất nước trong "Độc
Lập, Tự Do, Hạnh Phúc" của Đảng và Nhà Nước ta, dân mình vẫn "chưa
trưởng thành chính trị", còn tụt hậu, kém cỏi, mọi rợ hơn người Ý và
người Đức sau cơn độc tài khủng khiếp của họ sao?
Nói như vậy là chúng ta quá coi thường trình độ hiểu biết của một dân tộc có "bốn ngàn năm văn hiến".
"Bốn ngàn năm văn hiến" của chúng ta, chúng ta đang để ở đâu? Hay đã bị Xã Hội Chủ Nghĩa bóp nghẹt và bị coi như giẻ rách?
Nếu không, thì vì lý do gì Hiến Pháp 1992 mình vẫn còn tuyên bố quyền thành lập chính đảng "vẫn chưa được" bố thí cho nhân dân.
Hiến Pháp 1992 mình, cả Đảng và Nhà Nước vẫn coi nhân dân ta là "trẻ con chính trị sao?".
Điều
gì đã làm cho người Âu Châu, người Ý và người Đức, họ "trưởng thành
chính trị" liền, bảo đảm liền cho các quyền tự do của con người, mở
tung cánh cửa nhân bản và dân chủ cho người dân của họ có quyền hành xử:
-
"Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con
người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi
mỗi người triển nở nhân cách của mình..." (Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý
Quốc).
Trong khi đó thì sau trên 30 năm "Độc lập, Tự Do, Hạnh
Phúc", chỉ có mỗi quyền tự do lập đảng mà Ls Đài muốn lên tiếng cũng
"chưa được"!
Và chắc chắn với kinh nghiệm những gì đã xảy ra ở
Nga và Đông Âu, chúng tôi có thể đoan chắc với Ls Đăng Dũng rằng, Đảng
và Nhà Nước mình có cai trị thêm vài chục năm nữa trong "Độc Lập, Tự
Do, Hạnh Phúc", Nhân Dân ta cũng chưa trưởng thành chính trị đủ để có
thể thay đổi câu trả lời "chưa được" thành lập chính đảng đối với đòi
hỏi của Ls Đài.
Bởi lẽ các Quốc Gia Nga và Đông Âu, qua trên 70
năm Xã Hội Chủ Nghĩa hay Cộng Sản Chủ Nghĩa vẫn là những Quốc Gia Độc
Đảng Cộng Sản cai trị, cho đến ngày họ sụp đổ năm 1989.
Như vậy Nhân Dân của các Quốc Gia vẫn luôn luôn là những con người ấu trỉ về chính trị, sau 70 năm vẫn vậy!
Nếu
người dân Ý vừa chôn xong Benito Mussolini, năm 1947 họ đã không những
cho phép mà còn khuyến khích người dân của họ hãy thành lập chính đảng,
"... để cùng nhau cộng tác, theo phương thức dân chủ, định hướng đường
lối chính trị Quốc Gia", bởi vì họ nhận thức rằng con người ở địa vị
trung tâm điểm và tối thượng trên quyền lực Quốc Gia, và bổn phận của
quốc Gia được thiết lập nên để phục vụ con người:
- "Bổn phận
của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế
và xã hội, là những chướng ngại trong khi thật sự giới hạn tự do và
bình đẳng của người dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người
của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế
và xã hội của xứ sở" (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Nếu
người Đức vừa chôn xong Rudolf Hitler, năm 1949 họ đã có thể viết được
"Mọi người dân Đức đều có quyền thành lập hiệp hội và đảng phái" (Điều
9, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD), bởi vì con người đối với họ ở dịa vị
trung tâm điểm và tối thượng, tổ chức Quốc Gia có nhiệm vụ kính trọng
và bảo đảm cho thực hiện mọi quyền căn bản của con người, trong đó dĩ
nhiên có quyền thành lập chính đảng vừa kể:
- "Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó.
Những
quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền bắt buộc đối với Lập
Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, như là quyền đòi buộc trực tiếp" (Điều 1,
đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Cũng vậy, người dân Hoa Kỳ
vừa chiến thắng xong, đuổi quân Anh Hoàng về mẫu quốc, năm 1776 đã
tuyên bố địa vị tối thượng của con người:
- "Mọi người được dựng nên bình đẳng như nhau.
Mọi
người được ban cho một số quyền bất khả nhượng. Trong các quyền nầy,
quyền được bảo toàn mạng sống và quyền tìm kiếm hạnh phúc là những
quyền thượng đẳng" (Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776).
Trong
khi đó thì trên 70 năm Cộng Sản Chủ Nghĩa ngự trị, nhân dân Cộng Hoà
Liên Bang Sô Viết vẫn "chưa được" quyền thành lập chính đảng. Đảng Cộng
Sản vẫn là đảng độc tôn cho đến ngày sụp đổ năm 1989, bởi lẽ con người
trong Cộng Sản Chủ Nghĩa hay Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ là người công dân, mà
quyền và nhiệm vụ phải được Đảng và Nhà Nước xác định, tùy hỷ bố thí
cho "... theo luật pháp ấn định, theo luật lệ hiện hành" mới có:
-
"Nhân Dân Sô Viết (hay Đảng Cộng Sản Sô Viết), được hướng dẫn bằng các
tư tưởng chũ nghĩa khoa học và chính trị của Cộng Hòa Liên Bang Sô
Viết, thiết định quyền, tự do và bổn phận bắt buộc đối với người công
dân, các nguyên tắc tổ chức, mục đích cho Xã Hội Chủ Nghĩa của toàn
dân" (Tiền Đề, đoạn XIV, Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết).
Như
vậy, "quyền, tự do và bổn phận bắt buộc đối với người dân" phải được
Đảng và Nhà Nước "thiết định" cho mới có, và cho đến bao giờ Đảng và
Nhà Nước chưa thiết định, thì "chưa được", chớ không phải Đảng và Nhà
nước "có bổn phận kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó" (Điều 1, đoạn 1
Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Bởi đó vị Giáo Sư Tiến Sĩ Luật Hiến Pháp dòng tên ở Đại Học La Sapienza (Roma) đã nói một câu bất hủ:
-
"Trong ý thức hệ Cộng Sản không có con người!" (P. Hortz S.J., La Nuova
Costituzione Sovietica, in Civiltà Cattolica 1978, 40).
Và vì
không có con người, nên con người trong ý thức hệ Cộng Sản là một con
số không, không có bất cứ một địa vị và quyền và tự do nào, nếu không
"... theo luật pháp ấn định,...theo luật lệ hiện hành" được Cộng Sản
"ấn định, hiện hành" tùy hỷ bố thí cho.
Hiểu như vậy, người ta
có thể hiểu được tại sao công an mình ở Sàigòn có thể xông vào tư gia
chửi bới, đánh đập, bắn giết, bắt bỏ tù "bọn Tin Lành đang đọc kinh,
thờ phượng" không khác gì súc vật.
Và cho đến bao giờ Đảng và
Nhà Nước mình, vì quyền lợi của Đảng và các Đồng Chí Đảng Viên chưa
tiện tùy hỷ "thiết định" bố thí cho, thì chắc hẳn Ls Đài "chưa được"
quyền lập chính đảng.
Một ý thức hệ không có con người như vậy
không còn có cách gì khác để xử dụng hơn là được cho vào sọt rác, như
Nga và Đông Âu đã hành xử trên mười mấy năm nay.
Mục đích của
Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phục vụ con người, hay con người
Việt Nam là dụng cụ để phục vụ Quốc Gia của Đảng và Nhà Nước Xã Hội Chủ
Nghĩa, nhứt là phục vụ Xã Hội Chủ Nghĩa quốc tế?
Hỏi để mọi người Việt Nam trả lời.