Với mọi thành tích kinh tế, Trung Quốc đang chứng minh dân chủ là cần thiết…
Kỷ
niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Trung Quốc, hôm 30 vừa qua,
Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đọc một bài diễn văn kêu gọi diệt trừ tham
nhũng. Nghe cứ hùng hồn như Hà Nội! Hơn cả Hà Nội, trước đó một ngày,
ba đảng viên cao cấp đã mất ghế đại biểu Quốc hội, trong đó có một Phó
Đô Đốc, vì tội tham nhũng. Đã hùng hồn lại còn cương quyết nữa.
Từ
Tháng Ba vừa qua, lãnh đạo Bắc Kinh ban hành Kế hoạch Năm năm 2006-2010
với những chương trình cải cách cơ chế được Hội nghị Trung ương đảng đề
ra từ Tháng 10 năm ngoái. Một trọng tâm cải cách chính là cơ chế đảng,
lồng bên dưới là nỗ lực diệt trừ tham nhũng đang làm đảng mất uy tín và
gây làn sóng bất mãn trong quần chúng.
Cho nên, phải tin rằng Hồ Cẩm Đào đã nói là làm… không như người Hà Nội.
Từ
bên ngoài, thế giới ưa có cái nhìn trên tổng thể - và nông cạn - về
quốc gia có một tỷ ba trăm triệu dân và đà tăng trưởng kinh tế tới
9-10% một năm.
Lý luận theo đường thẳng thì cứ đà này thì chỉ
hai kế hoạch năm năm nữa là kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Nhật Bản, đến
năm 2030 sẽ hơn toàn khối Âu châu. Nếu lại đạt tốc độ tăng trưởng chừng
12% trong khi các nước công nghiệp hoá giỏi lắm thì chỉ cầm cự được với
tốc độ 5% thì 30 năm nữa, kinh tế Trung Quốc còn lớn hơn tổng số sản
xuất Mỹ-Nhật. Đứng đầu thế giới!
Trước một thế lực như vậy cho
một thị trường có triển vọng như thế, các doanh nghiệp đầu tư của quốc
tế đều sẵn lòng bỏ qua những chứng tật lặt vặt của chế độ. Microsoft,
Google hay Yahoo!, v.v… đều lý luận như thế cả.
Thành tích ấy
khiến nhiều người phân vân tự hỏi: một chế độ độc đảng theo kinh tế thị
trường có thể tạo ra phép lạ kinh tế? Người ta phân vân như đã từng
phân vân như vậy nửa thế kỷ trước về phép lạ công nghiệp hoá của Liên
Xô. Dường như chế độ độc tài có khả năng sung dụng tài nguyên dù độc
đoán thì cũng hiệu quả hơn sự mù quáng của thị trường.
Ai đó phân vân chứ giới lãnh đạo Hà Nội tin chắc như vậy.
Cũng chỉ vì một cái nhìn nông cạn.
Từ
hai năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh đã nhiều lần báo động là kinh tế tăng
trưởng quá mạnh nên phải có biện pháp hạ nhiệt. Ngần ấy biện pháp đều
chẳng công hiệu cho nên năm ngoái, đầu tư cố định cho sản xuất đã lên
tới 45% tổng sản lượng nội địa GDP, và năm nay sẽ còn mấp mé 50%. Xưa
kia, khi Nhật Bản rồi Đại Hàn hay Đài Loan thắt lưng buộc bụng để dồn
sức cho sản xuất thì cũng chưa hề đạt nổi mức đầu tư cố định là 40%
GDP, vậy mà cũng thành rồng cọp.
Giờ đây, Trung Quốc đầu tư còn lớn hơn thế thì chuyện qua mặt Nhật Bản là tất yếu!
Thực
ra, với trình độ kỹ thuật hiện nay thì mức đầu tư ấy phải dẫn tới kết
quả tăng trưởng cao hơn 10%, phải từ 12 đến 15%. Thực tế, một số địa
phương như thành phố Thiên Tân đã có mức tăng trưởng lên tới 20%. Nhưng
để làm gì?
Trong 27 năm qua, cùng với đà tăng trưởng kinh tế rất
cao khiến người ta nhớ tới phép lạ Đông Á, thì dị biệt giàu nghèo đã
đào sâu gấp bội, ngược hẳn với các nước Đông Á như Nhật Bản, Đại Hàn
hay Đài Loan. Mà các xứ này lại không đề cao lý tưởng xã hội chủ nghĩa
và phải chấp nhận quy luật dân chủ để có một chế độ chính trị ngày càng
cởi mở hơn theo đà tăng trưởng. Nghĩa là họ tăng trưởng có phẩm chất,
xã hội có phát triển.
Ngày nay, Trung Quốc đạt mức tăng trưởng
cao, nhưng thiếu phẩm chất và gây rất nhiều phí tổn ngầm, loại "ẩn phí"
không ai kiểm tra nổi, như nạn ô nhiễm môi sinh hay thái độ vô trách
nhiệm về xã hội. Vì vậy, kết quả tăng trưởng ấy đã không được phân bố
đồng đều mà cũng sẽ không bền. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và những người cùng
ông lên cầm quyền từ năm 2002 đã bắt đầu hiểu ra điều ấy và đang cố
gắng cải sửa, thành thật cải sửa, khác hẳn Hà Nội.
Khi ta thấy
kết quả tổng hợp là tăng trưởng 10% một năm mà Thiên Tân lại vượt bậc
với 20% thì mình phải suy ra là nhiều tỉnh chỉ có mức tăng trưởng 5%,
những tỉnh nằm sâu trong lục địa và chưa ra khỏi thế kỷ 19.
Thiên Tân sở dĩ đáng chú ý vì Chủ tịch Ủy ban Nhân dân là Đới Tương Long, đã có một thời làm Thống đốc Ngân hàng Trung ương.
Khi
làm Thống đốc, ông nhìn tình hình kinh tế ở tầm vóc quốc gia, nay về
lãnh đạo một tỉnh, ông thấy chính quyền trung ương là một… chướng ngại.
Khi làm Thống đốc, ông ta muốn mọi địa phương hay doanh nghiệp phải
chấp hành chánh sách tiền tệ và tín dụng của trung ương, ngày nay, ông
thấy chủ trương mới của chính quyền trung ương gây thiệt hại cho Thiên
Tân.
Lãnh đạo Bắc Kinh - những Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo hay Uý
Kiện Hành - đều hiểu ra là đường lối phát triển kinh tế do Đặng Tiểu
Bình đề xướng và Giang Trạch Dân áp dụng đã đi hết sự vận hành của nó
và ngoài lượng thì còn phải chú trọng đến phẩm. Họ chủ động yêu cầu
giảm đà tăng trưởng, cải cách cơ chế - từ luật lệ (về đất đai) đến thuế
khoá và giáo dục y tế - để nâng đỡ nông thôn và các tỉnh khiếm khai
trong lục địa. Nếu không cấp bách tiến hành việc ấy thì xã hội Trung
Quốc có thể vỡ đôi, nông dân sẽ nổi loạn.
Đồng thời, họ cũng
hiểu là nếu tiếp tục đường lối cũ là dồn tiền từ ngân hàng vào các
doanh nghiệp nhà nước để sản xuất tối đa với giá thành tối thiểu hầu
bán thật rẻ ra ngoài thì các ngân hàng sẽ sụp đổ dưới núi nợ thối không
thể đòi lại từ các doanh nghiệp. Trước khi gặp nguy cơ động loạn xã
hội, Trung Quốc có thể lãnh nguy cơ khủng hoảng tài chánh. Hoặc nói
theo trình tự hợp lý, khủng hoảng tài chánh sẽ xoá sạch tiền ký thác
của dân chúng và dẫn tới động loạn, cả trương chủ ở thành phố tới nông
dân ở thôn quê sẽ cùng biểu tình với công nhân bị sa thải từ các doanh
nghiệp nhà nước bị phá sản.
Đây là viễn ảnh đang chờ đợi họ sau
những hồ hởi tưng bừng của Thế vận hội Bắc Kinh 2008, như một đỉnh cao
báo trước sự sụp đổ của hệ thống chính trị hiện hành.
Vì vậy, họ mới vận động cải cách và… đụng vào cái vảy ngược của con rồng, của một bầy rồng.
Việc
cải cách ấy xâm phạm vào quyền lợi của các địa phương, của các đảng ủy
và cán bộ đã trục lợi và làm giàu nhờ đường lối kinh tế cũ. Chẳng những
các tỉnh ngoài duyên hải không ưa gì chủ trương cải cách mà các tỉnh
nằm sâu trong lục địa cũng vậy vì đảng viên nơi ấy vẫn có những đặc
quyền và đặc lợi vượt khỏi tầm tay người dân. Và nhiều đảng viên địa
phương bắt đầu bất mãn với việc cải cách của Hồ Cẩm Đào nên lặng lẽ phá
hoại, nhẹ nhất thì cũng ù lỳ không chấp hành những biện pháp giảm đà
tăng trưởng.
Từ bên ngoài, vì bị mê hoặc ở tốc độ tăng trưởng
cao và viễn ảnh bán cho mỗi người dân Hoa lục một sản phẩm của mình,
thế giới không nhìn ra là chính quyền trung ương hiện không kiểm soát
được nền kinh tế, mỗi nơi lại tăng trưởng một cách theo những tính toán
lợi hại của từng địa phương.
Đâm ra nếu không cải cách thì xã hội vỡ đôi mà tiến hành cải cách thì có khi đảng sẽ vỡ đôi.
Cho
đến nay, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào bắt đầu áp dụng bài bản của Mao Trạch Đông
trong cuộc Đại Văn Cách: vận động thế lực của quần chúng, kể cả sự bất
mãn của nông dân, làm đòn bẩy tấn công ngược vào các đảng viên tham ô.
Cũng trong chiều hướng ấy, họ còn tung ra lập luận là kinh tế thị
trường và giới đầu tư nước ngoài đã hủ hoá đảng viên cán bộ. Đây cũng
một hình thức mị dân, khơi động tinh thần độc lập, hay bài ngoại, của
người dân, nhằm gây sức ép vào trong đảng, để cứu đảng.
Những chuyện ấy đáng để cho thế giới nhìn lại Trung Quốc với con mắt thực tế hơn.
Chế
độ chính trị, cái "định hướng xã hội chủ nghĩa" nói theo Hà Nội, đã gây
vấn đề cho việc sung dụng tài nguyên và phân phối lợi ích kinh tế. Tài
nguyên được trút vào những dự án ít giá trị kinh tế nhưng có lợi cho
đảng viên kiêm doanh gia, và thành quả kinh tế được phân phối trước
tiên cho tập đoàn lãnh đạo ở các địa phương. Phép vua của Bộ Chính trị
vẫn thua lệ làng của các Trung ương Ủy viên ở cấp địa phương.
Đảng
Cộng sản Trung Quốc chưa thể mường tượng ra một thể chế liên bang cho
một xứ sở rộng lớn, có nhiều dị biệt và mâu thuẫn như vậy. Họ cũng
không muốn nghĩ đến một giải pháp chính trị thích hợp cho hình thái
kinh tế thị trường. Họ muốn có một chế độ phi cầm phi thú để chiếm lợi
thế của kinh tế tự do lẫn chính trị độc tài, và họ gặt hái kết quả tệ
hại nhất trong cả hai lãnh vực: kinh tế tự do thiếu luật lệ công minh
và chính trị độc tài thiếu giải pháp cứu vãn.
Tại Việt Nam, mỗi
khi cần tranh luận về việc kinh tế thị trường có cần tới chính trị dân
chủ hay không, người ta thường viện dẫn mẫu mực Trung Quốc để biện minh
cho sự chuyên quyền của giới lãnh đạo. Lý luận ấy sắp trở thành lỗi
thời.
Nhưng dù sao thì đấy cũng chỉ là một vấn đề lý luận.
Trong thực tế thì khi Trung Quốc bị khủng hoảng, Việt Nam sẽ bị họa
lây. Chuyện ấy mới là điều đáng quan tâm hơn!