Thời sự quốc tế và Việt Nam

Theo Thông Luận - 07-03-2006

Ấn Độ : một đồng minh quân sự đa phương

Từ sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ năm 1989, những đồng minh cũ của Nga tại Đông Âu đã lần lượt thiên về khối NATO. Tại Nam Á chỉ một đồng minh duy nhất vẫn tiếp tục duy trì quan hệ thân hữu với Nga là Ấn Độ.

Cho đến đầu thế kỷ 21 này, đối thủ công khai của Ấn Độ là Pakistan và đối thủ ngầm vẫn là Trung Quốc. Cả hai quốc gia đối thủ này đều đông dân như Ấn Độ nhưng lại có vũ khí nguyên tử và trong quá khứ đã xảy ra nhiều tranh chấp với Ấn Độ dọc vùng biên giới, hiện nay vẫn còn tiếp diễn trong khu vực Kashmir với Pakistan.

Tiếp tục duy trì quan hệ tốt với Nga, New Dehli muốn được Nga ưu tiên cung cấp vũ khí với những điều kiện dễ dãi hơn các quốc gia Âu Mỹ. Ngoài những chuyển nhượng về kỹ thuật sản xuất các loại vũ khí cơ bản như xe tăng, xe bọc thép, đại pháo và súng đạn, Ấn muốn được Nga cung cấp những loại phi cơ chiến đấu và tàu chiến hiện đại nhất để cân bằng sức mạnh quân sự với Trung Quốc và Pakistan trên đất liền và trên biển. Ngày 16-11-2005, Nga đã thỏa thuận nhượng cho Ấn Độ kỹ thuật sản xuất loại máy bay vận tải đa dụng cỡ trung.

Trong những năm đầu của thế kỷ 21 này, trước sự tái phối trí lại quan hệ chiến lược và sự vươn lên của Trung Quốc và Ấn Độ, Nga trở thành đối tác chiến lược quan trọng, nếu không muốn nói là chủ đạo, với Trung Quốc, Pakistan và Ấn Độ, và trong thời gian tới với cả Iran tại Nam Á. Để chuẩn bị cho sự tái phối trí chiến lược mới này, cả Ấn Độ, Pakistan và Iran đều được mời làm quan sát viên trong Cơ quan Hợp tác Thượng Hải, do Trung Quốc, Nga và 4 nước Trung Á thành lập.

Tuy nhiên tiến trình này đã không diễn ra suôn sẻ như mong muốn. Lý do là từ cuối 2001, Mỹ tiến hành chiến tranh chống khủng bố tại Afghanistan, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trong vùng Nam Trung Á đã làm khựng lại tiến trình đó. Một số cộng hòa Hồi giáo, cựu đồng minh với Liên Xô ở Nam Trung Á, đã tích cực hợp tác với Hoa Kỳ để chống khủng bố tại Afghanistan, đồng thời cũng để cải thiện quan hệ ngoại giao và thương mại với hy vọng được giúp đỡ để phát triển kinh tế.

Thật ra Hoa Kỳ không muốn thấy liên minh mới này được hình thành, vì dầu hỏa vẫn còn là một nguồn năng lượng chiến lược mà Hoa Kỳ chưa thoát khỏi sự lê thuộc.

Chính vì thế từ năm 2000 cho tới nay, Hoa Kỳ đã bằng mọi cách cải thiện quan hệ với Ấn Độ. Gần đây Mỹ đã đề nghị giúp Ấn Độ xây dựng các lò phát điện nguyên tử và hợp tác sản xuất vũ khí, vì lượng vũ khí mua từ Nga thường hay trục trặc về kỹ thuật. Chuyến viếng thăm Ấn Độ của tổng thống G. Bush vào đầu tháng 3-2006 này là để cụ thể hóa những đề nghị đó.

Sự sáp lại gần này của Hoa Kỳ đã làm Nga lo ngại, từ trước đến nay Ấn Độ vẫn là một khách hàng lớn và là một đồng minh chiến lược quan trọng của Nga tại Nam Á. Trong thời gian sắp tới Nga sẽ bán lại cho Ấn Độ các hàng không mẫu hạm cũ với giá rẻ và cho phép quân đội Ấn có mặt tại căn cứ quân sự của Nga ở Takjikistan.

Chủ đích của Nga là lôi kéo Ấn Độ vào Trung Á, trong khi Hoa Kỳ và Nhật muốn kéo Ấn vào Đông Nam Á, sau vụ cứu trợ nạn nhân sóng thần cuối năm 2004. Trong năm 2006, Nhật sẽ tăng thêm viêïn trợ ODA cho Ấn Độ và hỗ trợ tài chánh để mua 100 máy bay vận tải cỡ trung YS-33.

Trung Quốc : hệ thống tiền ngầm chiếm 28% lượng tiền lưu hành

Ngày 4-1-2006, hãng thông tấn Tân Hoa Xã cho biết, lượng tiền ngầm (tức cho vay mượn không cần giấy phép) tại Trung Quốc vào cuối năm 2005 được ước lượng từ 740,5 tỷ nguyên (92 tỷ USD) đến 816,4 tỷ nguyên (101,3 tỷ USD), tương đương với 28% lượng tiền đang lưu hành trong các cơ quan tiền tệ chính quy (ngân hàng và cơ sở tín dụng) trên toàn quốc.

Cuộc điều tra này đã do trường Đại học tài chánh trung ương ở Bắc Kinh thực hiện. Qua đó người ta mới biết là các công ty quốc doanh hoạt động trong các ngành mỏ than, dầu hỏa, sắt thép, xi măng... đều thổi phồng các khoản đầu tư cơ bản để được nhà nước bơm tiền vào, số tiền thặng dư đã được lãnh đạo các công ty đó cho vay lại để thu lợi riêng. Khi hay biết sự việc này, chính quyền trung ương đã ngưng lại tất cả những khoản đầu tư dư thừa (không có thật) này khiến hệ thống tiền ngầm hụt hẫng, do đó lãi suất cho vay trong hệ thống tiền ngầm này leo thang mạnh. Nhiều người đã lấy ngoại tệ của cơ quan và xí nghiệp ra đổi thành tiền nội địa (nguyên) để bơm vào hệ thống ngầm này kiếm lời. Thêm vào đó Bắc Kinh chấp thuận cho một số xí nghiệp xuất khẩu chi trả bằng ngoại tệ, trong khi chờ đợi chi trả các cấp lãnh đạo đã đổi số ngoại tệ này thành tiền nội địa để đưa vào thị trường tiền ngầm này kiếm lời.

Sở dĩ hệ thống tiền ngầm này phát triển mạnh là vì các ngân hàng chính quy của nhà nước đã bày ra những thủ tục rườm rà khi cho các trung tiểu xí nghiệp, các nhà kinh doanh nông nghiệp vay. Do đó, khoảng 1/3 các trung tiểu xí nghiệp và 55% nông dân đã phải vay mượn từ hệ thống tiền tệ ngầm này để có vốn kinh doanh. Đây là một thiệt hại lớn cho quốc gia vì số tiền lời do cho vay mang lại đã lọt vào túi riêng của các chủ nợ thay vì ngân sách quốc gia. Hệ thống tiền ngầm này còn là một đe dọa cho sự ổn vững của sinh hoạt chung, vì chỉ cần một mắc xích của hệ thống này bị gãy sẽ kéo theo sự suy sụp của cả một ngành kinh tế. Chẳng hạn như khi xí nghiệp sản xuất thép lấy tiền của xí nghiệp ra cho vay, khi không thu được nợ thì vốn của xí nghiệp này bị suy giảm hoặc mất theo, giảm vốn dẫn đến giảm sản xuất, không có sản phẩm thì không có thu nhập, xí nghiệp có thể bị khánh tận.

Indonesia : ngăn ngừa nạn khủng bố Hồi giáo

Ngày 31-12-2005, quân khủng bố Hồi giáo đã đặt bom trên đảo Sulawesi (Indonesia) làm 7 người thiệt mạng. Lần này quân khủng bố Hồi giáo nhắm vào cộng đồng người Thiên Chúa giáo địa phương đang sinh sống trên đảo. Đây không phải là lần đầu quân khủng bố Hồi giáo tấn công cộng đồng người Thiên Chúa giáo. Sau ngày 11-9-2001, lực lượng Hồi giáo quá khích đã chọn Indonesia làm địa bàn hoạt động chính tại Đông Nam Á. Nhóm Hồi giáo quá khích Jemah Islamia đã tổ chức nhiều cuộc đánh bom, chống người phương Tây và Thiên Chúa giáo, gây tiếng vang lớn trong vùng Đông Nam Á nơi có người Hồi giáo cư ngụ. Từ hơn 4 năm qua, thế giới phương Tây hợp tác chặt chẽ chống khủng bố, những nhóm Hồi giáo quá khích đã dần dần bị cô lập và suy yếu với thời gian, trong đó có nhóm Jemah Islamia.

Tháng 11-2005, Asuhari (48 tuổi), người chủ mưu vụ đặt bom gây thiệt hại lớn trên đảo Bali tháng 10-2004, đã chết khi giao chiến với cảnh sát Indonesia. Nhưng cánh tay mặt của Asuhari là Nuldine cùng với tàn dư vẫn tiếp tục đánh phá các nhà thờ của người Thiên Chúa giáo trên đảo Sulawesi. Vì không đủ lực lượng để đối đầu với cảnh sát và quân đội Indonesia, Nuldine và đồng bọn sử dụng chiến thuật "nổ mìn tự sát". Người cảm tử gài mìn trong người rồi khoác áo ngoài che lại, sau đó đến địa điểm đã được chỉ định để bấm nút cho mìn nổ và chết tan xác theo.

Loại mìn dùng chất nổ TAPT, do nhóm Asuhari và Nuldine sáng chế, có sức công phá tuy không mạnh nhưng rất dễ chế biến và nguyên vật liệu cũng dễ tìm. Những cảm tử quân Hồi giáo tại Trung Đông thường dùng loại mìn này để tấn công tự sát vào các cơ sở chính quyền hay dân chúng tại Do Thái và Iraq.

Lo ngại sự phá hoại của những nhóm Hồi giáo quá khích này lan rộng, chính phủ Indonesia đang ráo riết cô lập và loại trừ quân khủng bố trên khắp lãnh thổ. Indonesia là quốc gia Hồi giáo có đông tín đồ nhất trên thế giới và cũng là quốc gia Hồi giáo hiền hòa nhất, nếu để dân chúng bị các nhóm Hồi giáo quá khích khuynh loát, hậu quả sẽ rất khó lường. Cái khó của Indonesia là quân nhân và cảnh sát đều là những tín đồ Hồi giáo.

Chuẩn bị thành lập Cộng Đồng Đông Á

Từ thập niên 1990, Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF-Asean Region Forum) sinh hoạt trên bốn mục tiêu chung, đó là : duy trì sự tin tưởng lẫn nhau, gìn giữ hòa bình chung trong vùng, bảo đảm an toàn trên biển và hợp tác để ngăn ngừa tội phạm xuyên biên giới. Từ đó ASEAN đã lập ra Hội đồng hợp tác an ninh Châu Á Thái Bình Dương (CSCAP-Council for Security Cooperation in the Asia-Pacific) để nghiên cứu việc thực hiện 4 mục tiêu trên. Cho đến nay hội đồng này đã có những liên hệ chặt chẽ với các cơ quan tư vấn của Úc, Canada, Nhật, Trung Quốc, Nam Hàn, New Zealand và Mỹ. Gần đây Mạng lưới tư vấn Đông Á (NEAT-Network of East Asian Thinktank) mở rộng thêm tầm hoạt động để hoàn tất các mục tiêu này.

Tuy nhiên một sự kiện bất thường về ngoại giao kiểu "con ếch muốn chinh phục con bò" đang diễn ra. Mười quốc gia ASEAN muốn làm đầu tàu cho toàn vùng Đông Á và Đông Nam A. Ngày 6-12-2005, 10 quốc gia ASEAN đã Ùtổ chức hội nghị thượng đỉnh các quốc gia trong Diễn Đàn Đông Á lần thứ 2, nghĩa là mời thêm 6 cường quốc khu vực là Nhật Bản, Trung Quốc, Đại Hàn, Ấn Độ, Úc và Tân Tây Lan tham dự, để thành lập Cộng đồng Đông Á dựa trên 7 mục tiêu : mở hội nghị thượng đỉnh Đông Á, soạn thảo Hiến chương chung cho Đông Á, thành lập Khu mậu dịch tự do Đông Á, thỏa thuận Hợp tác tiền tệ Đông Á, thành lập Vùng hợp tác hữu nghị Đông Á, xây dựng Mạng lưới giao thông và thông tin Đông Á, soạn thảo Tuyên ngôn liên quan đến nhân quyền và nghĩa vụ của vùng Đông Á.
Để thực hiện được 7 mục tiêu trên mà không bị các cường quốc Đông Á khác điều khiển theo ý mình, các quốc gia ASEAN đã định ra ba tiêu chuẩn để kết nạp các quốc gia thành viên trong tương lai vào Cộng đồng Đông Á :

- phải từ bỏ vũ lực như phương tiện chính để giải quyết tranh chấp giữa các nước bằng cách tham gia Hiệp ước hữu nghị Đông Nam Á (TAC) ;
- đã có sẵn những quan hệ cụ thể hay muốn quan hệ cụ thể với các quốc gia Đông Á ;
- chấp nhận nguyên tắc đồng thuận khi quyết định chung giữa các quốc gia hội viên.

Ba nước Ấn Độ, Úc và Tân Tây Lan được 13 nước hội viên (10 nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Đại Hàn) đồng ý mời tham dự Hội nghị thượng đỉnh Đông Á lần thứ nhất. Sở dĩ phải mời Ấn Độ, một quốc gia ở vùng Nam Á vào, là để làm đối trọng với Trung Quốc, vì hai quốc gia này có trọng lượng ngang nhau cả về dân số lẫn kinh tế. Riêng Nga mặc dù đã sẵn sàng ký vào TAC và được Mã Lai tích cực ủng hộ vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn có quan hệ thực chất và bị Singapore phản đối nên phải chờ đến hội nghị sau tổ chức tại Philippines quyết định.

Tham vọng của Cộng Đồng Châu Á là muốn trở thành một khối chính trị, kinh tế có trọng lượng ngang hoặc hơn Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ, trong đó ASEAN sẽ là trung tâm điểm về địa lý cũng như về chính trị. Theo thống kê của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) năm 2003, trao đổi thương mại giữa các quốc gia Đông Á với nhau đạt hơn 54%, cao hơn NAFTA (46%) và gần kịp EU (64%), tỷ lệ này chỉ có thể tăng lên trong những năm sắp tới.

Nhưng nhiều trở ngại quan trọng đang được đặt ra là : có quá nhiều khác biệt về trọng lượng dân số cũng về kinh tế giữa các quốc gia hội viên và sự di dân ồ ạt từ những quốc gia nghèo sang những quốc gia giàu. Dân số của Trung Quốc và Ấn Độ chiếm hơn 2/3 dân số trong khu vực, trọng lượng kinh tế của Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc và Đại Hàn lấn át các quốc gia hội viên khác, và hố cách biệt giàu nghèo quá sâu rộng giữa từng quốc gia không có thể san bằng được trong vài thập niên, nếu không muốn nói là không thể san bằng. Lợi tức bình quân đầu người tại Nhật Bản và Việt Nam cách biệt nhau khoảng 100 lần. Nhật Bản, Đại Hàn và Úc lo ngại sư di dân ồ ạt của người Trung Quốc vào quốc gia họ như đã từng xảy ra tại Đông Nam Á trong thế kỷ trước. Thêm vào đó, với những quốc gia chưa quen với những luật lệ quốc tế, người ta lo sợ Trung Quốc và một vài quốc gia ASEAN, sau khi được giao gia công sản xuất hàng hóa, sẽ cạnh tranh bất chánh như xuất khẩu cùng loại hàng hóa đó dưới những tên khác sang các quốc gia khách hàng của những công ty nước ngoài có vốn đầu tư trực tiếp (FDI).

Gary Glitter lãnh 3 năm tù về tội dâm ô trẻ em

Ngày 3-3-2006, tòa án tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã kết án cựu ca sị nhạc rock người Anh, Gary Glitter, tên thật là Paul Francis Gadd (62 tuổi), 3 năm tù giam về tội dâm ô với trẻ em và bị trục xuất khỏi Việt Nam ngay khi mãn án. Tòa cũng buộc Gary Glitter bồi thường cho hai nạn nhân (Trần Thị D., sinh năm 1994, và Trần Thị Thảo N., sinh năm 1993), mỗi người 5 triệu VND (315 USD).

Đây là vụ án xét xử người nước ngoài ồn ào nhất về tội dâm ô với trẻ vị thanh niên tại Việt Nam. Đã có gần 20 phóng viên của 4 hãng thông tấn nước ngoài (Reuters, AFP, DPA, AD) và 30 phóng viên của 14 đoàn báo chí quốc tế và hơn 50 phóng viên Việt Nam làm phóng sự trực tiếp vụ án này. Bị cáo Gary Glitter có một luật sư biện hộ, còn hai nạn nhân không có luật sư nào.

Bản án 3 năm dành cho Gary Glitter là rất nhẹ so với tội trạng, chiếu theo khoản 2, điều 116 của bộ luật hình sự về tội dâm ô với trẻ em (án tù từ 3 đến 7 năm). Nếu bị xử trước tòa án Anh Quốc, Gary Glitter có lẽ sẽ lãnh một án phạt nặng nề hơn, về số năm tù cgg như tiền bồi thường nạn nhân. Trước tòa án Việt Nam, Gary Glitter đã phủ nhận có quan hệ tình dục với hai em bé này, trong khi em N. khai là đã có quan hệ tình dục với Gary Glitter hai lần, mỗi lần được trả 300.000 VND, và em D. khai là đã có hành vi dâm dục với Glitter nhiều lần nhưng chỉ nhận 900.000 VND thay 5 triệu, vì bị người cô làm trung gian lấy hết.

Cũng nên biết năm 1999, Gary Glitter bị cảnh sát Anh bắt giam hai tháng về tội lưu trữ hình ảnh dâm ô trẻ em trong máy vi tính. Trước đó, đầu năm 2005, Gary Glitter bị cảnh sát Campuchia trục xuất ra khỏi nước về tội mua dâm với trẻ vị thành niên. Tại Việt Nam, Gary Glitter bị bắt tại phi trường Tân Sơn Nhứt ngày 25-11-2005 và bị giam tại nhà giam Phước Cơ (Vũng Tàu). Từ đầu năm 2005, trong một nhà thuê ở Vũng Tàu, Glitter đã có quan hệ tình dục với rất nhiều thiếu nữ Việt Nam, tuổi từ 17 đến 24 ; một trong những phụ nữ này đã dẫn hai bé gái D. và N. đến giới thiệu cho Glitter để kiếm hoa hồng. Khi bị truy tố, Gary Glitter đã thương lượng bồi thường cho gia đình hai bé gái này mỗi người 2.000 USD nên được làm đơn bãi nại, nhờ đó bản án dành cho Glitter đã nhẹ đi rất nhiều.

Gary Glitter không phải là người nước ngoài đầu tiên có hành vi dâm dục với trẻ vị thành niên Việt Nam. Nhiều vụ lạm dụng tình dục trẻ em đã bị báo chí trong nước phanh phui nhưng sau đó đã được ém nhẹm, vì người vi phạm là những đàn ông gốc châu Á (Trung Quốc, Đài Loan và Đại Hàn) nhờ biết đút lót với các quan chức địa phương nên đã về nước an toàn. Những đàn ông gốc châu Á này còn gớm ghiếc hơn Gary Glitter nhiều lần vì chỉ tìm những bé gái còn trinh để thỏa mãn thú tính. Tại sao người Việt chỉ lên án người phương Tây mà không dám kết tội người phương Đông về cùng một tội ?

Đối với người phương Tây, lạm dụng tình dục trẻ em là một tội rất nặng, ngang hàng với tội giết người. Chính vì thế cảnh sát Đức vừa thông báo cho Interpol Việt Nam danh sách 21 người Đức tình nghi lạm dụng trẻ em (với đầy đủ tên tuổi, địa chỉ, số hộ chiếu) sẽ nhập cảnh vào Việt Nam.

"Ngu si hưởng thái bình"

Đại hội 10 Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ họp vào tháng 6-2006 sắp tới với khoảng 1.100 đại biểu. Cho tới nay đã có ít nhất ba hội nghị trung ương để chuẩn bị cho đại hội này, lần chót là hội nghị trung ương 13 hồi đầu năm nay. Sẽ còn ít nhất một hội nghị trung ương 14, có lẽ vào tháng 4 sắp tới, để chuẩn bị nhân sự lãnh đạo cho đại hội 10.

Theo nội qui của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì đại hội là cơ quan quyền lực cao nhất. Trên thực tế, đại hội chỉ có một công tác duy nhất là giơ tay biểu quyết những chọn lựa đã được "chuẩn bị" từ trước, đặc biệt là về thành phần nhân sự lãnh đạo (những người được vào ban chấp hành trung ương, bộ chính trị, ban bí thư...).

Như thường lệ, trước mỗi đại hội, ban lãnh đạo yêu cầu đảng viên và nhân dân đóng góp. Điều mới trong một tháng qua là những đóng góp đã thẳng thắn phê phán tổng bí thư Nông Đức Mạnh, một người cho tới nay không được ai đánh giá cao về tài năng cũng như không bị ai đả kích. Ông được bầu vào chức vụ tổng bí thư vì không là một đe dọa cho ai.

Xuất thân là một cán sự lâm nghiệp, ông Mạnh, tuy không có bất cứ một thành tích nào, đã được cất nhắc lên rất nhanh chỉ vì không bị tai tiếng là tham nhũng và cũng không làm phiền lòng ai. Những người phê phán ông Mạnh cũng chỉ phê phán ông là bất tài và nhu nhược.

Một nhân vật khác cũng vô tích sự và nhu nhược không kém, nhưng được tiếng là hiền lành là thủ tướng Phan Văn Khải, cũng được yêu cầu về hưu. Cũng tương tự, ông Trần Đức Lương, chủ tịch nước, được yêu cầu từ chức và về hưu.

Cho tới nay, "ngu si hưởng thái bình" vẫn là bí quyết thăng tiến trong đảng cộng sản. Công thức đó đã đưa những người như ông Mạnh, ông Lương, ông Khải lên tột đỉnh quyền lực. Nhưng hiện nay tình trạng này không còn hiệu nghiệm nữa, ngu si không còn được hưởng thái bình vì tình hình đã quá nghiêm trọng đòi hỏi những người dám và biết lấy quyết định. Vần đề là đảng cộng sản không còn những khuôn mặt nào sáng giá hơn ba nhân vật này.

Thông Luận


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_thoi_su_quoc_te_va_vn__1.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.