Ấn Độ : một đồng minh quân sự đa phương
Từ sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ năm 1989, những đồng minh cũ
của Nga tại Đông Âu đã lần lượt thiên về khối NATO. Tại Nam Á chỉ một
đồng minh duy nhất vẫn tiếp tục duy trì quan hệ thân hữu với Nga là Ấn
Độ.
Cho đến đầu thế kỷ 21 này, đối thủ công khai của Ấn Độ là
Pakistan và đối thủ ngầm vẫn là Trung Quốc. Cả hai quốc gia đối thủ này
đều đông dân như Ấn Độ nhưng lại có vũ khí nguyên tử và trong quá khứ
đã xảy ra nhiều tranh chấp với Ấn Độ dọc vùng biên giới, hiện nay vẫn
còn tiếp diễn trong khu vực Kashmir với Pakistan.
Tiếp tục duy trì quan hệ tốt với Nga, New Dehli muốn được Nga ưu
tiên cung cấp vũ khí với những điều kiện dễ dãi hơn các quốc gia Âu Mỹ.
Ngoài những chuyển nhượng về kỹ thuật sản xuất các loại vũ khí cơ bản
như xe tăng, xe bọc thép, đại pháo và súng đạn, Ấn muốn được Nga cung
cấp những loại phi cơ chiến đấu và tàu chiến hiện đại nhất để cân bằng
sức mạnh quân sự với Trung Quốc và Pakistan trên đất liền và trên biển.
Ngày 16-11-2005, Nga đã thỏa thuận nhượng cho Ấn Độ kỹ thuật sản xuất
loại máy bay vận tải đa dụng cỡ trung.
Trong những năm đầu của thế kỷ 21 này, trước sự tái phối trí lại
quan hệ chiến lược và sự vươn lên của Trung Quốc và Ấn Độ, Nga trở
thành đối tác chiến lược quan trọng, nếu không muốn nói là chủ đạo, với
Trung Quốc, Pakistan và Ấn Độ, và trong thời gian tới với cả Iran tại
Nam Á. Để chuẩn bị cho sự tái phối trí chiến lược mới này, cả Ấn Độ,
Pakistan và Iran đều được mời làm quan sát viên trong Cơ quan Hợp tác
Thượng Hải, do Trung Quốc, Nga và 4 nước Trung Á thành lập.
Tuy nhiên tiến trình này đã không diễn ra suôn sẻ như mong muốn.
Lý do là từ cuối 2001, Mỹ tiến hành chiến tranh chống khủng bố tại
Afghanistan, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trong vùng Nam Trung Á đã
làm khựng lại tiến trình đó. Một số cộng hòa Hồi giáo, cựu đồng minh
với Liên Xô ở Nam Trung Á, đã tích cực hợp tác với Hoa Kỳ để chống
khủng bố tại Afghanistan, đồng thời cũng để cải thiện quan hệ ngoại
giao và thương mại với hy vọng được giúp đỡ để phát triển kinh tế.
Thật ra Hoa Kỳ không muốn thấy liên minh mới này được hình thành,
vì dầu hỏa vẫn còn là một nguồn năng lượng chiến lược mà Hoa Kỳ chưa
thoát khỏi sự lê thuộc.
Chính vì thế từ năm 2000 cho tới nay, Hoa Kỳ đã bằng mọi cách cải thiện
quan hệ với Ấn Độ. Gần đây Mỹ đã đề nghị giúp Ấn Độ xây dựng các lò
phát điện nguyên tử và hợp tác sản xuất vũ khí, vì lượng vũ khí mua từ
Nga thường hay trục trặc về kỹ thuật. Chuyến viếng thăm Ấn Độ của tổng
thống G. Bush vào đầu tháng 3-2006 này là để cụ thể hóa những đề nghị
đó.
Sự sáp lại gần này của Hoa Kỳ đã làm Nga lo ngại, từ trước đến nay
Ấn Độ vẫn là một khách hàng lớn và là một đồng minh chiến lược quan
trọng của Nga tại Nam Á. Trong thời gian sắp tới Nga sẽ bán lại cho Ấn
Độ các hàng không mẫu hạm cũ với giá rẻ và cho phép quân đội Ấn có mặt
tại căn cứ quân sự của Nga ở Takjikistan.
Chủ đích của Nga là lôi kéo Ấn Độ vào Trung Á, trong khi Hoa Kỳ và
Nhật muốn kéo Ấn vào Đông Nam Á, sau vụ cứu trợ nạn nhân sóng thần cuối
năm 2004. Trong năm 2006, Nhật sẽ tăng thêm viêïn trợ ODA cho Ấn Độ và
hỗ trợ tài chánh để mua 100 máy bay vận tải cỡ trung YS-33.
Trung Quốc : hệ thống tiền ngầm chiếm 28% lượng tiền lưu hành
Ngày 4-1-2006, hãng thông tấn Tân Hoa Xã cho biết, lượng tiền ngầm
(tức cho vay mượn không cần giấy phép) tại Trung Quốc vào cuối năm 2005
được ước lượng từ 740,5 tỷ nguyên (92 tỷ USD) đến 816,4 tỷ nguyên
(101,3 tỷ USD), tương đương với 28% lượng tiền đang lưu hành trong các
cơ quan tiền tệ chính quy (ngân hàng và cơ sở tín dụng) trên toàn quốc.
Cuộc điều tra này đã do trường Đại học tài chánh trung ương ở Bắc
Kinh thực hiện. Qua đó người ta mới biết là các công ty quốc doanh hoạt
động trong các ngành mỏ than, dầu hỏa, sắt thép, xi măng... đều thổi
phồng các khoản đầu tư cơ bản để được nhà nước bơm tiền vào, số tiền
thặng dư đã được lãnh đạo các công ty đó cho vay lại để thu lợi riêng.
Khi hay biết sự việc này, chính quyền trung ương đã ngưng lại tất cả
những khoản đầu tư dư thừa (không có thật) này khiến hệ thống tiền ngầm
hụt hẫng, do đó lãi suất cho vay trong hệ thống tiền ngầm này leo thang
mạnh. Nhiều người đã lấy ngoại tệ của cơ quan và xí nghiệp ra đổi thành
tiền nội địa (nguyên) để bơm vào hệ thống ngầm này kiếm lời. Thêm vào
đó Bắc Kinh chấp thuận cho một số xí nghiệp xuất khẩu chi trả bằng
ngoại tệ, trong khi chờ đợi chi trả các cấp lãnh đạo đã đổi số ngoại tệ
này thành tiền nội địa để đưa vào thị trường tiền ngầm này kiếm lời.
Sở dĩ hệ thống tiền ngầm này phát triển mạnh là vì các ngân hàng
chính quy của nhà nước đã bày ra những thủ tục rườm rà khi cho các
trung tiểu xí nghiệp, các nhà kinh doanh nông nghiệp vay. Do đó, khoảng
1/3 các trung tiểu xí nghiệp và 55% nông dân đã phải vay mượn từ hệ
thống tiền tệ ngầm này để có vốn kinh doanh. Đây là một thiệt hại lớn
cho quốc gia vì số tiền lời do cho vay mang lại đã lọt vào túi riêng
của các chủ nợ thay vì ngân sách quốc gia. Hệ thống tiền ngầm này còn
là một đe dọa cho sự ổn vững của sinh hoạt chung, vì chỉ cần một mắc
xích của hệ thống này bị gãy sẽ kéo theo sự suy sụp của cả một ngành
kinh tế. Chẳng hạn như khi xí nghiệp sản xuất thép lấy tiền của xí
nghiệp ra cho vay, khi không thu được nợ thì vốn của xí nghiệp này bị
suy giảm hoặc mất theo, giảm vốn dẫn đến giảm sản xuất, không có sản
phẩm thì không có thu nhập, xí nghiệp có thể bị khánh tận.
Indonesia : ngăn ngừa nạn khủng bố Hồi giáo
Ngày 31-12-2005, quân khủng bố Hồi giáo đã đặt bom trên đảo
Sulawesi (Indonesia) làm 7 người thiệt mạng. Lần này quân khủng bố Hồi
giáo nhắm vào cộng đồng người Thiên Chúa giáo địa phương đang sinh sống
trên đảo. Đây không phải là lần đầu quân khủng bố Hồi giáo tấn công
cộng đồng người Thiên Chúa giáo. Sau ngày 11-9-2001, lực lượng Hồi giáo
quá khích đã chọn Indonesia làm địa bàn hoạt động chính tại Đông Nam Á.
Nhóm Hồi giáo quá khích Jemah Islamia đã tổ chức nhiều cuộc đánh bom,
chống người phương Tây và Thiên Chúa giáo, gây tiếng vang lớn trong
vùng Đông Nam Á nơi có người Hồi giáo cư ngụ. Từ hơn 4 năm qua, thế
giới phương Tây hợp tác chặt chẽ chống khủng bố, những nhóm Hồi giáo
quá khích đã dần dần bị cô lập và suy yếu với thời gian, trong đó có
nhóm Jemah Islamia.
Tháng 11-2005, Asuhari (48 tuổi), người chủ mưu vụ đặt bom gây
thiệt hại lớn trên đảo Bali tháng 10-2004, đã chết khi giao chiến với
cảnh sát Indonesia. Nhưng cánh tay mặt của Asuhari là Nuldine cùng với
tàn dư vẫn tiếp tục đánh phá các nhà thờ của người Thiên Chúa giáo trên
đảo Sulawesi. Vì không đủ lực lượng để đối đầu với cảnh sát và quân đội
Indonesia, Nuldine và đồng bọn sử dụng chiến thuật "nổ mìn tự sát".
Người cảm tử gài mìn trong người rồi khoác áo ngoài che lại, sau đó đến
địa điểm đã được chỉ định để bấm nút cho mìn nổ và chết tan xác theo.
Loại mìn dùng chất nổ TAPT, do nhóm Asuhari và Nuldine sáng chế,
có sức công phá tuy không mạnh nhưng rất dễ chế biến và nguyên vật liệu
cũng dễ tìm. Những cảm tử quân Hồi giáo tại Trung Đông thường dùng loại
mìn này để tấn công tự sát vào các cơ sở chính quyền hay dân chúng tại
Do Thái và Iraq.
Lo ngại sự phá hoại của những nhóm Hồi giáo quá khích này lan
rộng, chính phủ Indonesia đang ráo riết cô lập và loại trừ quân khủng
bố trên khắp lãnh thổ. Indonesia là quốc gia Hồi giáo có đông tín đồ
nhất trên thế giới và cũng là quốc gia Hồi giáo hiền hòa nhất, nếu để
dân chúng bị các nhóm Hồi giáo quá khích khuynh loát, hậu quả sẽ rất
khó lường. Cái khó của Indonesia là quân nhân và cảnh sát đều là những
tín đồ Hồi giáo.
Chuẩn bị thành lập Cộng Đồng Đông Á
Từ thập niên 1990, Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF-Asean Region Forum)
sinh hoạt trên bốn mục tiêu chung, đó là : duy trì sự tin tưởng lẫn
nhau, gìn giữ hòa bình chung trong vùng, bảo đảm an toàn trên biển và
hợp tác để ngăn ngừa tội phạm xuyên biên giới. Từ đó ASEAN đã lập ra
Hội đồng hợp tác an ninh Châu Á Thái Bình Dương (CSCAP-Council for
Security Cooperation in the Asia-Pacific) để nghiên cứu việc thực hiện
4 mục tiêu trên. Cho đến nay hội đồng này đã có những liên hệ chặt chẽ
với các cơ quan tư vấn của Úc, Canada, Nhật, Trung Quốc, Nam Hàn, New
Zealand và Mỹ. Gần đây Mạng lưới tư vấn Đông Á (NEAT-Network of East
Asian Thinktank) mở rộng thêm tầm hoạt động để hoàn tất các mục tiêu
này.
Tuy nhiên một sự kiện bất thường về ngoại giao kiểu "con ếch muốn
chinh phục con bò" đang diễn ra. Mười quốc gia ASEAN muốn làm đầu tàu
cho toàn vùng Đông Á và Đông Nam A. Ngày 6-12-2005, 10 quốc gia ASEAN
đã Ùtổ chức hội nghị thượng đỉnh các quốc gia trong Diễn Đàn Đông Á lần
thứ 2, nghĩa là mời thêm 6 cường quốc khu vực là Nhật Bản, Trung Quốc,
Đại Hàn, Ấn Độ, Úc và Tân Tây Lan tham dự, để thành lập Cộng đồng Đông
Á dựa trên 7 mục tiêu : mở hội nghị thượng đỉnh Đông Á, soạn thảo Hiến
chương chung cho Đông Á, thành lập Khu mậu dịch tự do Đông Á, thỏa
thuận Hợp tác tiền tệ Đông Á, thành lập Vùng hợp tác hữu nghị Đông Á,
xây dựng Mạng lưới giao thông và thông tin Đông Á, soạn thảo Tuyên ngôn
liên quan đến nhân quyền và nghĩa vụ của vùng Đông Á.
Để thực hiện được 7 mục tiêu trên mà không bị các cường quốc Đông Á
khác điều khiển theo ý mình, các quốc gia ASEAN đã định ra ba tiêu
chuẩn để kết nạp các quốc gia thành viên trong tương lai vào Cộng đồng
Đông Á :
- phải từ bỏ vũ lực như phương tiện chính để giải quyết tranh chấp
giữa các nước bằng cách tham gia Hiệp ước hữu nghị Đông Nam Á (TAC) ;
- đã có sẵn những quan hệ cụ thể hay muốn quan hệ cụ thể với các quốc gia Đông Á ;
- chấp nhận nguyên tắc đồng thuận khi quyết định chung giữa các quốc gia hội viên.
Ba nước Ấn Độ, Úc và Tân Tây Lan được 13 nước hội viên (10 nước
ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Đại Hàn) đồng ý mời tham dự Hội nghị
thượng đỉnh Đông Á lần thứ nhất. Sở dĩ phải mời Ấn Độ, một quốc gia ở
vùng Nam Á vào, là để làm đối trọng với Trung Quốc, vì hai quốc gia này
có trọng lượng ngang nhau cả về dân số lẫn kinh tế. Riêng Nga mặc dù đã
sẵn sàng ký vào TAC và được Mã Lai tích cực ủng hộ vẫn chưa đáp ứng
được tiêu chuẩn có quan hệ thực chất và bị Singapore phản đối nên phải
chờ đến hội nghị sau tổ chức tại Philippines quyết định.
Tham vọng của Cộng Đồng Châu Á là muốn trở thành một khối chính
trị, kinh tế có trọng lượng ngang hoặc hơn Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ,
trong đó ASEAN sẽ là trung tâm điểm về địa lý cũng như về chính trị.
Theo thống kê của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) năm 2003, trao đổi
thương mại giữa các quốc gia Đông Á với nhau đạt hơn 54%, cao hơn NAFTA
(46%) và gần kịp EU (64%), tỷ lệ này chỉ có thể tăng lên trong những
năm sắp tới.
Nhưng nhiều trở ngại quan trọng đang được đặt ra là : có quá nhiều
khác biệt về trọng lượng dân số cũng về kinh tế giữa các quốc gia hội
viên và sự di dân ồ ạt từ những quốc gia nghèo sang những quốc gia
giàu. Dân số của Trung Quốc và Ấn Độ chiếm hơn 2/3 dân số trong khu
vực, trọng lượng kinh tế của Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc và Đại Hàn
lấn át các quốc gia hội viên khác, và hố cách biệt giàu nghèo quá sâu
rộng giữa từng quốc gia không có thể san bằng được trong vài thập niên,
nếu không muốn nói là không thể san bằng. Lợi tức bình quân đầu người
tại Nhật Bản và Việt Nam cách biệt nhau khoảng 100 lần. Nhật Bản, Đại
Hàn và Úc lo ngại sư di dân ồ ạt của người Trung Quốc vào quốc gia họ
như đã từng xảy ra tại Đông Nam Á trong thế kỷ trước. Thêm vào đó, với
những quốc gia chưa quen với những luật lệ quốc tế, người ta lo sợ
Trung Quốc và một vài quốc gia ASEAN, sau khi được giao gia công sản
xuất hàng hóa, sẽ cạnh tranh bất chánh như xuất khẩu cùng loại hàng hóa
đó dưới những tên khác sang các quốc gia khách hàng của những công ty
nước ngoài có vốn đầu tư trực tiếp (FDI).
Gary Glitter lãnh 3 năm tù về tội dâm ô trẻ em
Ngày 3-3-2006, tòa án tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã kết án cựu ca sị
nhạc rock người Anh, Gary Glitter, tên thật là Paul Francis Gadd (62
tuổi), 3 năm tù giam về tội dâm ô với trẻ em và bị trục xuất khỏi Việt
Nam ngay khi mãn án. Tòa cũng buộc Gary Glitter bồi thường cho hai nạn
nhân (Trần Thị D., sinh năm 1994, và Trần Thị Thảo N., sinh năm 1993),
mỗi người 5 triệu VND (315 USD).
Đây là vụ án xét xử người nước ngoài ồn ào nhất về tội dâm ô với
trẻ vị thanh niên tại Việt Nam. Đã có gần 20 phóng viên của 4 hãng
thông tấn nước ngoài (Reuters, AFP, DPA, AD) và 30 phóng viên của 14
đoàn báo chí quốc tế và hơn 50 phóng viên Việt Nam làm phóng sự trực
tiếp vụ án này. Bị cáo Gary Glitter có một luật sư biện hộ, còn hai nạn
nhân không có luật sư nào.
Bản án 3 năm dành cho Gary Glitter là rất nhẹ so với tội trạng,
chiếu theo khoản 2, điều 116 của bộ luật hình sự về tội dâm ô với trẻ
em (án tù từ 3 đến 7 năm). Nếu bị xử trước tòa án Anh Quốc, Gary
Glitter có lẽ sẽ lãnh một án phạt nặng nề hơn, về số năm tù cgg như
tiền bồi thường nạn nhân. Trước tòa án Việt Nam, Gary Glitter đã phủ
nhận có quan hệ tình dục với hai em bé này, trong khi em N. khai là đã
có quan hệ tình dục với Gary Glitter hai lần, mỗi lần được trả 300.000
VND, và em D. khai là đã có hành vi dâm dục với Glitter nhiều lần nhưng
chỉ nhận 900.000 VND thay 5 triệu, vì bị người cô làm trung gian lấy
hết.
Cũng nên biết năm 1999, Gary Glitter bị cảnh sát Anh bắt giam hai
tháng về tội lưu trữ hình ảnh dâm ô trẻ em trong máy vi tính. Trước đó,
đầu năm 2005, Gary Glitter bị cảnh sát Campuchia trục xuất ra khỏi nước
về tội mua dâm với trẻ vị thành niên. Tại Việt Nam, Gary Glitter bị bắt
tại phi trường Tân Sơn Nhứt ngày 25-11-2005 và bị giam tại nhà giam
Phước Cơ (Vũng Tàu). Từ đầu năm 2005, trong một nhà thuê ở Vũng Tàu,
Glitter đã có quan hệ tình dục với rất nhiều thiếu nữ Việt Nam, tuổi từ
17 đến 24 ; một trong những phụ nữ này đã dẫn hai bé gái D. và N. đến
giới thiệu cho Glitter để kiếm hoa hồng. Khi bị truy tố, Gary Glitter
đã thương lượng bồi thường cho gia đình hai bé gái này mỗi người 2.000
USD nên được làm đơn bãi nại, nhờ đó bản án dành cho Glitter đã nhẹ đi
rất nhiều.
Gary Glitter không phải là người nước ngoài đầu tiên có hành vi
dâm dục với trẻ vị thành niên Việt Nam. Nhiều vụ lạm dụng tình dục trẻ
em đã bị báo chí trong nước phanh phui nhưng sau đó đã được ém nhẹm, vì
người vi phạm là những đàn ông gốc châu Á (Trung Quốc, Đài Loan và Đại
Hàn) nhờ biết đút lót với các quan chức địa phương nên đã về nước an
toàn. Những đàn ông gốc châu Á này còn gớm ghiếc hơn Gary Glitter nhiều
lần vì chỉ tìm những bé gái còn trinh để thỏa mãn thú tính. Tại sao
người Việt chỉ lên án người phương Tây mà không dám kết tội người
phương Đông về cùng một tội ?
Đối với người phương Tây, lạm dụng tình dục trẻ em là một tội rất
nặng, ngang hàng với tội giết người. Chính vì thế cảnh sát Đức vừa
thông báo cho Interpol Việt Nam danh sách 21 người Đức tình nghi lạm
dụng trẻ em (với đầy đủ tên tuổi, địa chỉ, số hộ chiếu) sẽ nhập cảnh
vào Việt Nam.
"Ngu si hưởng thái bình"
Đại hội 10 Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ họp vào tháng 6-2006 sắp tới
với khoảng 1.100 đại biểu. Cho tới nay đã có ít nhất ba hội nghị trung
ương để chuẩn bị cho đại hội này, lần chót là hội nghị trung ương 13
hồi đầu năm nay. Sẽ còn ít nhất một hội nghị trung ương 14, có lẽ vào
tháng 4 sắp tới, để chuẩn bị nhân sự lãnh đạo cho đại hội 10.
Theo nội qui của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì đại hội là cơ quan
quyền lực cao nhất. Trên thực tế, đại hội chỉ có một công tác duy nhất
là giơ tay biểu quyết những chọn lựa đã được "chuẩn bị" từ trước, đặc
biệt là về thành phần nhân sự lãnh đạo (những người được vào ban chấp
hành trung ương, bộ chính trị, ban bí thư...).
Như thường lệ, trước mỗi đại hội, ban lãnh đạo yêu cầu đảng viên
và nhân dân đóng góp. Điều mới trong một tháng qua là những đóng góp đã
thẳng thắn phê phán tổng bí thư Nông Đức Mạnh, một người cho tới nay
không được ai đánh giá cao về tài năng cũng như không bị ai đả kích.
Ông được bầu vào chức vụ tổng bí thư vì không là một đe dọa cho ai.
Xuất thân là một cán sự lâm nghiệp, ông Mạnh, tuy không có bất cứ
một thành tích nào, đã được cất nhắc lên rất nhanh chỉ vì không bị tai
tiếng là tham nhũng và cũng không làm phiền lòng ai. Những người phê
phán ông Mạnh cũng chỉ phê phán ông là bất tài và nhu nhược.
Một nhân vật khác cũng vô tích sự và nhu nhược không kém, nhưng
được tiếng là hiền lành là thủ tướng Phan Văn Khải, cũng được yêu cầu
về hưu. Cũng tương tự, ông Trần Đức Lương, chủ tịch nước, được yêu cầu
từ chức và về hưu.
Cho tới nay, "ngu si hưởng thái bình" vẫn là bí quyết thăng tiến
trong đảng cộng sản. Công thức đó đã đưa những người như ông Mạnh, ông
Lương, ông Khải lên tột đỉnh quyền lực. Nhưng hiện nay tình trạng này
không còn hiệu nghiệm nữa, ngu si không còn được hưởng thái bình vì
tình hình đã quá nghiêm trọng đòi hỏi những người dám và biết lấy quyết
định. Vần đề là đảng cộng sản không còn những khuôn mặt nào sáng giá
hơn ba nhân vật này.
Thông Luận