Có lẽ ít nhiều trong chúng ta có lúc nào đó hy vọng sẽ có một"Gandhi
cho VN", một vị lãnh tụ có thể đưa ra lời hiệu triệu kêu gọi toàn dân
đứng lên đòi tự do, nhân quyền và dân chủ tại VN. Có lẽ đó là một trong
những nguyện vọng chính đáng của chúng ta. Để xem nguyện vọng đó có thể
thực hiện được không, chúng ta thử nhìn vào bối cảnh của hai đất nước:
Ấn Độ trong thời kỳ đô hộ của người Anh và Việt Nam ngày nay dưới chế
độ cs. So sánh hai bối cảnh, sẽ có những điểm tương đồng và dị biệt như
sau:
1. Những điểm tương đồng:
a)
Cả hai đều không có độc lập và chủ quyền. Ấn Độ là thuộc địa của Anh.
VN cộng sản thực chất chỉ là tôi mọi cho quốc tế cs. CsVN hết lệ thuộc
vào Nga lại nô lệ cho Tàu.
b) Ấn độ có xung đột tôn giáo: Ấn
Độ Giáo và Hồi Giáo. VN trước 1975 đã bị việt cộng giựt dây, gây mâu
thuẫn và xung đột giữa Phật Giáo và Công Giáo. Hiện tại, csVN vẫn tìm
cách gây chia rẽ và lũng đoạn hàng ngũ tôn giáo để dễ bề thống tri.
c)
Ấn Độ đặc biệt có kỳ thị giữa các đẳng cấp và giai cấp. VN có khác biệt
về ý thức hệ và nhân sinh quan giữa hai miền Nam Bắc. Hơn nữa VN hiện
tại có hai giai cấp rõ rệt: giai cấp thống trị là đảng csVN, và giai
cấp bị trị là giai cấp công nông.
2. Những điểm dị biệt:
a)
Trong thời kỳ Anh thuộc, Ấn Độ có thiếu tự do nhưng không mất hoàn toàn
tự do như tại VN. Ấn Độ vẫn có những tờ báo, chương trình phát thanh,
mặc dù có sự kiểm soát ngầm của người Anh, nhưng vẫn do người Ấn chủ
trương và hoạt động. Người Ấn có quyền tự do lập hội, có quyền đi lại,
có quyền đi du học để phát triển tài năng, cũng như có quyền chọn lựa
đi làm ăn phương xa. Trái lại, csVN đã tước đoạt tất cả các quyền tự do
căn bản để sống và làm người tại VN.
b) CSVN chủ trương bần
cùng hóa nhân dân bằng cách tước đoạt quyền tư hữu của con người. Ấn độ
vẫn có tự do kinh doanh và thương mại trong khuôn khổ của pháp luật.
CsVN chủ trương chính sách ngu dân để dễ cai trị trong khi Ấn Độ có
điều kiện phát triển giáo dục.
c) Dù là thuộc địa, người Anh vẫn
áp dụng luật pháp của Anh Quốc, mặc dù trong giới hạn, trên các thuộc
địa mình. Các nhà đấu tranh cho Ấn Độ đã dựa vào luật để tranh đấu cho
những quyền lợi của dân bản xứ. Còn tại VNcs, chỉ có luật rừng, nghĩa
là không có luật gì cả. Chỉ có luật bảo vệ chế độ độc tài cs là trên
hết.
Nhìn lại bối cảnh của hai đất nước, liệu chúng ta có thể
tìm thấy một Gandhi cho VN hay không? Chúng ta cần nhìn đến hai điểm
sau đây:
I. Trước hết chúng ta cần khẳng định rằng không thể nào
tìm gặp một Gandhi tại hải ngoại bởi vì hải ngoại chỉ có bỗn phận hổ
trợ về mọi mặt cho đồng bào quốc nội mà thôi. Lực lượng nòng cốt và
tiên quyết để quyết liệt với chế độ csVN chính là quốc nội. Chỉ những
ai đang sống và đồng hành đấu tranh với đồng bào trong nước, ngay giữa
lòng dân tộc, mới đủ tư thế và cươngvị trở thành một Gandhi đưa ra lời
hiệu triệu.
Thánh Gandhi, nếu không trở về nước, có lẽ nước Ấn
không bao giờ có một Gandhi. Sau khi tốt nghiệp luật khoa tại Anh Quốc,
Gandhi trở về Ấn hành nghề luật sư nhưng không thành công. Được giới
thiệu, ông qua Nam Phi biện hộ cho một công ty người Ấn. Vụ cãi hoàn
toàn mang tính cách thương mại và vụ cãi đã thành công. Trước khi ông
trở về nước, tình cờ khi ông ghé qua Natal, một thành phố lớn của Nam
Phi, tại đây ông đã giúp cộng đồng người Ấn chống lại dự luật tước
quyền bầu cử của người Ấn tại Natal. Thừa thắng, ông giúp họ chống lại
dự luật đánh thuế cao những người lao động Ấn Độ đến làm việc tại Nam
Phi theo khế ước.
Những vụ kiện pháp luật này giúp ông ý thức
hơn về quyền độc lâp và tự trị của dân Ấn. Nếu Gandhi, vì sự thành công
tại Nam Phi, đưa gia đình qua và lập nghiệp tại Nam Phi, có lẽ ông sẽ
không bao giờ trở thành một "Gandhi" cho dân tộc Ấn. Chỉ khi ông về
nước, cùng đồng hành đấu tranh với dân tộc Ấn, một Gandhi, một lãnh tụ,
một vị lãnh đạo tinh thần, một người cha chung đã đến với dân tộc Ấn.
Một
Gandhi chỉ có thể tìm thấy và gầy dựng tại VN mà thôi. Nếu nhìn vào
hoàn cảnh hiện tại tại VN, chúng ta có thể nói rằng khó có thể tìm thấy
một Gandhi bởi vì nhiều lý do phát xuất từ sự kiểm soát chặt chẽ cộng
với sự đàn áp, trù dập và vu khống có hệ thống của chế độ công an trị
tại VN. Một trong hai vị, Hòa Thượng Thích Quảng Độ và Hòa Thượng Thích
Huyền Quang có khả năng và tư thế để trở thành một Gandhi cho VN. Tiếc
rằng, CSVN đã dùng mọi thủ đoạn để phân tán Giáo Hội Phật Giáo VN nói
chung, hơn nữa họ còn trù dập và cô lập các ngài không cho các ngài cơ
hội quy tụ sức mạnh toàn dân.
Đạo Trưởng Lê Quang Liêm có thừa
uy dũng để trở nên một Gandhi cho VN. Tiếc rằng vì tính cách địa phương
của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo nên ảnh hưởng không được lớn lao. Tương
tự như thế, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang khó lòng vượt lên trên những giới
hạn của Giáo Hội của ông.
Một trong những LM Chân Tín, Nguyễn
Văn Lý, Phan Văn Lợi, và Nguyễn Hữu Giải, có thừa can đảm và dũng lực
để trở thành một Gandhi. Tiếc thay, các LM này lại lệ thuộc vào Giám
Mục bản quyền, và trên hết là Hội Đồng Giám Mục VN (HĐGMVN). Trong giai
đoạn hiện tại, HĐGMVN, vói cơ cấu tổ chức của Giáo Hội Công Giáo, kèm
theo sự liên đới với cộng đồng quốc tế, là tiếng nói có sức mạnh hơn
cả. Chỉ cần một vị Giám Mục, đại diện cho HĐGM, mang tinh thần của cố
TGM Nguyễn Kim Điền, nói lên tiếng nói chung cho toàn Giáo Hội Công
Giáo VN, vị này sẽ là một Gandhi cho VN. Tiếc thay csVN đã tìm cách
lũng đoạn và chia rẽ hàng ngũ Giám Mục. Vì thế niềm hy vọng nơi HĐGMVN
có lẽ không thành tựu.
II. Nếu không tìm được một Gandhi cho VN, liệu chúng ta có thể tìm thấy một Jerzy cho VN hay không? Vậy Jerzy là ai?
Vào
tháng 08/1980, bất chấp sự phản đối và áp lực từ phía chính quyền cs Ba
Lan, Công Đoàn Đoàn Kết (CĐĐK) ra đời, đánh dấu một thắng lợi lớn lao
của giai cấp công nhân, và là một bước ngoặc lịch sử trong công cuộc
đấu tranh cho tự do và nhân quyền tại Ba lan. Cha Jerzy Popieluszko
đồng ý làm tuyên úy cho CĐĐK. Sự chọn lựa này là một chọn lựa định mệnh
bởi vì từ nay cha trở thành vị lãnh đạo tinh thần cho công đoàn, một
người bạn kết nghĩa của anh chị em công nhân, một vị linh mục cho toàn
dân Ba Lan,và là một cái gai cần phải nhổ đi đối với chính quyền cs.
Vì
CĐĐK trở nên một thách đố lớn cho cs Ba Lan và cs Nga nên cuối năm 1981
chế độ cs Ba Lan công bố "tình trạng chiến tranh" khiến các lãnh tụ
công đoàn phải rút vào bóng tối để tránh khủng bố của lực lượng công an
mật vụ. Bất chấp sự hăm dọa và lệnh thiết quân luật của chế độ, cha
Jerzy vẫn tìm cách đi lại để ủy lạo và nâng đỡ các công nhân và gia
đình của họ. Chính cha đã chạy ngược xuôi tìm nguồn tài trợ để có thể
giúp đỡ những gia đình đang túng quẫn, đặc biệt những công nhân tham
gia công đoàn đang bị bách hại. Cha lo phân phát quần áo, chia sẻ thực
phẩm và thuốc men cho mọi người, trong khi chính cha, sức khỏe gần như
kiệt quệ và quần áo cũng không được lành lặn. Lech Valesa, chủ tịch của
CĐĐK đã phải thốt lên: "Quả thực cha đã quên bản thân mình."
Hằng
tháng cha Jerzy dâng một Thánh Lễ đặc biệt: "Thánh Lễ Cầu Cho Quê
Hương." Dần dần, Thánh Lễ Cầu Cho Quê Hương đã quy tụ hàng chục nghìn
người tham dự khiến công an mật vụ tìm cách ngăn cản và làm khó dễ. Mặc
kệ, cha vẫn hiên ngang nhắc lại lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
trong dịp Ngài viếng thăm Ba Lan: "Đừng sợ, hãy kiên vững cho đức tin
và chân lý." Cha luôn nhắc bảo mọi người rằng hãy thắng vượt sợ hải,
bởi vì chỉ có vượt sợ hãi mới chiến thắng sự áp bức. Hăm dọa không có
kết quả, cs Ba Lan đã tìm cách sát hại ngài. Một lần một quả bom đã
phát nổ trong căn phòng nơi cha thường chuẩn bị cho Thánh lễ buổi sáng.
Hôm đó, vì bị bệnh nên cha thoát chết. Lần khác mật vụ dàn xếp một tai
nạn giao thông để thủ tiêu cha, lần này, nhờ ơn trên cha lại thoát
hiểm. Không sợ hãi cha tuyên bố: "Là linh mục thì phải theo đuổi con
đường công chính cho đến cùng." Chính sự hy sinh cao cả, sự can đảm phi
thường và sự dấn thân khôn lường của cha đã mang lại niềm hy vọng cho
mọi người, và niềm tin vào ngày mai cho quê hương Ba Lan.
Và
điều tệ hại đã xảy đến cho cha. Ngày 19-10-1984, cha đã bị mật vụ bắt
cóc và thảm sát. Phải chăng "viên đá người thợ xây loại bỏ đã trở nên
tảng đá góc tường?" Cái chết của cha, tưởng chừng như một thất bại, đã
trở thành một biểu tượng của chiến thắng. Khi còn sống cha đã không
hoàn thành mục đích, nhưng chết đi cha đã mang lại sự thành công vượt
bực. Cái chết của cha đã mang lại sức mạnh và niềm tin cho công nhân và
cho dân tộc Ba Lan. Cha gục xuống nhưng toàn quốc đứng lên đòi hỏi công
lý và tự do. Cha ra đi nhưng để lại một di sản đồ sộ của ý chí, sự đoàn
kết và một tinh thần bất diệt. Trong Thánh Lễ an táng, Lech Valesa, chủ
tịch CĐĐK tuyên bố: "Công Đoàn Đoàn Kết sống, bởi vì chính cha Jerzy đã
cống hiến đời cha cho dân tộc Ba Lan và cho Công Đoàn." Từ đó, cũng từ
ngôi mộ đầy uy linh của cha, niềm tin đã biến thành sức mạnh. CĐĐK càng
thêm vững mạnh dẫn tới sự sụp đổ của chế độ cs Ba Lan.
Nếu không
thể tìm thấy một Gandhi cho VN, chúng ta có thể tìm thấy, không những
một mà là nhiều Jerzy cho VN. Jerzy ở đây không chỉ đơn thuần là một
linh mục, mà là hình ảnh của những ai yêu chuộng tự do, nhân phẩm, quan
tâm đến đời sống giai cấp lao động, và đấu tranh cho công bằng, quyền
sống và quyền làm người của đồng bào. Từ định nghĩa đó, Việt Nam không
thiếu những Jerzy.
Gần đây, thế giới nghiêng mình trước sự can
đảm dấn thân cho tự do và công bằng của 22 nhà đấu tranh cho dân chủ
khi họ ký tên vào Lời Kêu Gọi ủng hộ phong trào đình công tại VN. Đó là
LM Nguyễn Cao Lộc, LM Chân Tín, LM Hồ Văn Quý, LM Nguyễn Văn Hội, LM
Nguyễn Hữu Giải, LM Hoàng Cẩn, LM Lê Văn Nghiêm, LM Nguyễn Văn Lý, LM
Phan Phước, LM Trần Văn Quý, LM Phan Văn Lợi, Đạo Trưởng Lê Quang Liêm,
GS Hoành Minh Chính, GS Trần Khuê, Cựu Đại Tá Phạm Quế Dương, MS Nguyễn
Hồng Quang, Tu Sĩ Lê Văn Sách, Nhà Văn Hoàng Tiến, Nguyễn Khắc Toàn, GS
Nguyễn Chính Kết, KS Đỗ Nam Hải. Phải, họ chính là những Jerzy cho công
nhân và cho VN.
Hòa Thượng Thích Quảng Độ, HT Thích Huyền Quang,
mặc dù không ký vào Lời Kêu Gọi, nhưng qua sự dấn thân đấu tranh cho
dân chủ và tự do, các ngài nghiễm nhiên đã là những Jerzy của VN. Các
công nhân Nguyễn tấn Hoành, Huỳnh Ngọc Cảnh, Nguyễn Tấn Dung, Dương
Thái Phong, Huỳnh Tiến, Vũ Hà, Nguyễn Thị Tuyết, Hoàng Anh Tuấn, những
người tranh đấu cho quyền sống của anh chị em công nhân, đều có tiềm
năng để trở thành những Jerzy cho công nhân.
Đã có những Jerzy
và những tiềm năng sẽ trở thành Jerzy, tất nhiên phải có một công đoàn.
Theo nhận định của tôi, cần thành lập một Công Đoàn (tương tự CĐĐK Ba
Lan) hay một Tổng Công Đoàn cho toàn công nhân mà thôi, bởi vì nhiều
công đoàn riêng biệt sẽ bị phân tán sức mạnh và tạo điều kiện cho cs
cài người vào lũng đoạn và phá hoại. Một công đoàn độc lập không dễ gì
thành lập trong một chế độ độc tài cs. Phải đấu tranh mới thành hình
được, đó là quy luật sống còn trong chế độ độc tài cs. CĐĐK Ba Lan với
sự đấu tranh bền bĩ và sự quyết tâm cao độ của ban lãnh đạo và công
nhân mới thành hình được.
Như trong bài viết trước đây, Một
Cuộc Tổng Đình Công Toàn Diện, tôi đã phân tích về những thuận lợi cho
việc thành lập một công đoàn tại VN:
1. Chúng ta có thể tự thành
lập một công đoàn bởi vì chúng ta đã và đang có một sức mạnh: sức mạnh
đình công. Đó là sức mạnh của giai cấp bị trị và chế độ cs không thể
nào tiêu diệt được.
2. Hiện tình thế giới và tại VN đã thay đổi
nhiều rồi. Bản chất chế độ độc tài csVN vẫn còn đó nhưng chính sách
kinh tế đổi mới của chính họ đã gần như vô hiệu hóa "bức màn sắt" của
chế độ cs. Sự đầu tư của các công ty ngoại quốc, đặc biệt các hãng
thương mại của Hoa Kỳ sắp sửa đầu tư vào VN, sự hiện diện của ngoại
quốc, các nhà báo, các cơ quan truyền thông, các cơ quan nhân quyền sẽ
hậu thuẫn cho chúng ta nếu chúng ta quyết tâm thành lập một công đoàn.
Trước kia, phía sau "bức màn sắt", cs Nga, Tàu và VN đã thảm sát hàng
triệu triệu công nông để ngăn ngừa một cuộc tổng đình công toàn diện và
các cuộc nổi dậy khác hầu bảo vệ chế độ độc tài. Ngày nay, điều này khó
có thể thực hiện bởi vì tình hình đã thay đổi như chúng ta vừa kể trên.
3.
Sự ủng hộ quyết liệt của đồng bào hải ngoại. Dĩ nhiên csVN sẽ không dễ
dàng cho thành lập một công đoàn tự do không cs tại VN. Họ sẽ dùng mọi
biện pháp và thủ đoạn gian manh nhất để triệt tiêu ý chí đấu tranh của
công nhân. Vì thế, người Việt hải ngoại có bổn phận gắn liền với mọi
hình thức sinh hoạt của một công đoàn không cs bên VN. Có vậy công đoàn
này mới có thể đứng vững và đương đầu với csVN.
Đây là giai đoạn
lịch sử rất quan trọng liên hệ tới vận mệnh của cả một dân tộc. Xin
đừng bỏ qua cơ hội lịch sử này. Xin cùng nhau lên tiếng và ủng hộ quyết
liệt phong trào đình công tại VN. Trong giai đoạn này, chúng ta cần chú
ý tới hai điểm hệ trọng:
A. Tại Quốc Nội: Ngoài việc lên tiếng
ủng hộ, cần phải đi đến thành lập một công đoàn độc lập không cs cho
công nhân. Chỉ có một công đoàn mới có thể bảo vệ cách hữu hiệu quyền
sống và quyền làm việc của công nhân. Và chỉ có một công đoàn có sức
mạnh và thực lực mới có thể dẫn đến sự chiến thắng trường tồn cho công
nhân và cả một dân tộc.
B. Tại Hải Ngoại: Cần phải chú trọng tới những hoạt động cụ thể để hổ trợ quốc nội:
a)
Thành lập một ủy ban pháp lý liên hệ với công đồng quốc tế, đặc biệt
với các nghiệp đoàn công nhân trên thế giới, hầu bảo vệ các công nhân
và phong trào đình công tại VN.
b) Thành lập một ban vận động
gây quỹ để có thể hổ trợ đắc lực về tài chánh và tinh thần cho những ai
vì đình công mà bị làm khó dễ tại VN.
Chúng ta đã và đang có
những người con của Mẹ Việt Nam sẵn sàng trở nên những Jerzy cho công
nhân và cho VN. Nếu hải ngoại thực hiện được những điểm căn bản nêu
trên, tôi hy vọng các công nhân và các nhà đấu tranh cho dân chủ tại VN
sẽ vững tâm hơn để tiếp tục tranh đấu cho sự thành hình một công đoàn.
THAY LỜI KẾT:
Đã
lâu lắm rồi quê hương ngụp lặn trong gông cùm, lầm than và tăm tối. Đã
lâu lắm rồi âm thanh của tự do và hy vọng không còn đọng lại trên môi
miệng của người dân Việt. Phải chăng làn sóng đình công tại VN đã thực
sự trở nên tiếng chuông tự do, tiếng chuông vang lên từ những nguyện
ước sâu thẳm và những hoài bão khôn cùng của mỗi người trong chúng ta?
Một đại diện công nhân trong Thánh Lễ an táng cha Jerzy đã nói thay cho
lời tiễn đưa: "Cha Jerzy, cha có nghe tiếng chuông tự do vang xa
không?" Phải, tiếng chuông tự do đó đã vang xa, len lõi vào mọi hang
cùng ngõ hẻm, thấm nhập vào tận tâm khảm của mọi người dân Ba Lan, để
rồi bùng lên một sức mạnh vô song lật đổ chế độ bạo tàn. Xin mượn lời
nói đó để nói với tất cả anh chị em công nhân tại VN rằng, tiếng chuông
tự do anh chị em đã rung lên sẽ tiếp tục vang vọng khắp mọi nẻo đường
VN, sẽ thấm nhập vào tận tâm hồn của mọi dân Việt, sẽ báo hiệu một bình
minh tươi đẹp cho Quê Hương, bởi vì tiếng chuông đó đã thực sự mang lại
niềm tin và hy vọng cho một dân tộc.
LM Đinh Xuân Long