Ở
Bắc Kinh trong mấy ngày qua họ họp quốc hội. Một điều đáng chú ý là
đảng Cộng Sản Trung Quốc đang bãi bỏ lối dùng các chỉ tiêu cứng nhắc để
hoạch định kinh tế. Ðây là một quyết định quan trọng.
Từ
thời ông Stalin đã bày ra lối làm “kế hoạch 5 năm,” và ông Mao Trạch
Ðông cũng theo, thói quen còn giữ cho tới gần đây. Những Ủy Ban Kế
Hoạch Nhà Nước trong chế độ cộng sản thường ấn định trước mỗi 5 năm sẽ
phải đạt được những con số kinh tế như thế nào. Một hậu quả là các nhà
máy cứ thi đua “đạt chỉ tiêu,” ngoài ra không cần biết gì hết. Nếu chỉ
tiêu bảo phải làm 500 tấn đinh thì ta chế những cây đinh thật nặng; nếu
bảo làm 500 triệu cây đinh thì cứ làm thứ đinh nhỏ nhất. Trong lúc khắc
phục mọi trở ngại để đạt chỉ tiêu đúng hạn kỳ, có thể gây tai nạn lao
động nhiều hơn, máy móc ăn xăng dầu tốn hơn, hoặc làm cho không khí,
mạch nước chung quanh ô nhiễm hơn, cái đó không sao, vì trong kế hoạch
không nói tới.
Ông
Mã Khải, chủ tịch Ủy Ban Phát Triển và Cải Tổ, trình bày kế hoạch 5 năm
sắp tới trước “Toàn Quốc Nhân Dân Ðại Biểu Ðại Hội,” ông chỉ đưa ra hai
con số. Một là tiếp tục theo đuổi chỉ tiêu tăng gấp đôi Lợi Tức Ðầu
Người trong thời gian 10 năm, từ năm 2001 đến năm 2010. Hai là trong 5
năm tới sẽ cố giảm bớt phí phạm về năng lượng. Ngoài ra, trong kế hoạch
không nói tới các chỉ tiêu thường lệ, như là trong 5 năm tới sẽ bắt
buộc phải sản xuất bao nhiêu thép, bao nhiều xe ô tô, vân vân.
Tại
sao người ta bỏ lối hoạch định bằng chỉ tiêu cứng nhắc? Lý do được nêu
lên là để phân biệt “đâu là phạm vi trách nhiệm của nhà nước, đâu là
phạm vi để cho thị trường quyết định.” Và trong kế hoạch mới, vai trò
của thị trường sẽ cao hơn. Kế hoạch của nhà nước Trung Quốc lần này đặt
trọng tâm trên các phạm vi giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường sống; họ
đặt ra các chỉ tiêu cụ thể vì đó là những lãnh vực nhà nước lo. Trong
lãnh vực kinh tế, nhà nước tự thu hẹp quyền chỉ huy của mình.
Phải
coi đây là một “chiến thắng” của “kinh tế thị trường” đối với lối làm
kinh tế “kế hoạch tập trung chỉ huy” mà các nước cộng sản trước đây vẫn
đề cao. Những công cuộc “cải tổ cơ cấu kinh tế” từ hai chục năm qua, ở
các nước cộng sản hay không cộng sản, đều nhắm làm sao nhà nước bớt can
thiệp vào sinh hoạt kinh tế, để tư nhân đóng vai trò quan trọng hơn.
Trung Quốc đang đi đúng hướng đó, từ thời Ðặng Tiểu Bình.
Nhưng
ngoài ra còn một lý do khác khiến cho ban kế hoạch của đảng Cộng Sản
Trung Quốc khiêm tốn hơn, là những kế hoạch đã đưa ra, khi thực hiện
thường không làm đúng được. Kinh tế Trung Quốc bây giờ phức tạp hơn,
các xí nghiệp tư đông hơn, ngay các doanh nghiệp nhà nước cũng nhiều
quyền tự quyết định theo nhu cầu thị trường hơn. Mà thị trường thì
không thể biết chắc tương lai sẽ thế nào. Cho nên không thể theo lối
cũ, chỉ huy nền kinh tế như trong trại lính được. Vào năm 2000, kế
hoạch 5 năm của Trung Quốc tính Tổng Sản Lượng Nội Ðịa sẽ tăng 7 phần
trăm một năm. Nhưng trong thực tế, tỷ lệ gia tăng của GDP lên tới 9,
gần 10 phần trăm. Tăng nhanh như vậy thì có gì mà sợ? Ðáng lo, vì những
con số gia tăng đó không có nghĩa là tiến bộ. Chính phủ Bắc Kinh bị bắt
buộc phải đổ tiền vào trong nền kinh tế để tạo công việc, tránh nạn
thất nghiệp gây xáo trộn, vì thế tổng số sản xuất cứ lên. Họ đang tìm
cách “thắng bớt lại,” để tránh khủng hoảng trong tương lai.
Thí
dụ bây giờ người ta dùng than, dầu làm năng lượng để sản xuất thép, cứ
làm ra một đồng thép thì tốn 10 xu năng lượng. Nhưng ở nước mình, muốn
làm ra một đồng thép lại cần đến 50 xu năng lượng. Hao tốn như vậy
nhưng tổng cộng GDP tăng thêm, vì số lượng than, dầu phải sản xuất
nhiều hơn, mặc dù vẫn chỉ làm ra một đồng thép. Muốn sản xuất thêm thép
và than, lại phải đầu tư, bỏ thêm vốn xây cất cơ sở, mà việc đầu tư đó
cũng làm tăng GDP nữa. Nếu các xí nghiệp sản xuất không bắt buộc phải
theo luật cung cầu thì họ làm ra thép rồi có bán được cho ai dùng hay
không, họ cũng không cần biết. Lỗ lã, thiếu tiền đã có ngân hàng của
nhà nước lo. Nhưng trong sổ sách thì tổng số sản xuất vẫn cao, GDP vẫn
lên. Nhiều nhà máy làm thép, nhôm, xi măng, xe hơi cung cấp dư dùng
trong thị trường nhưng vẫn hoạt động.
Bản
báo cáo của chính phủ Bắc Kinh cho biết trong năm qua số than sản xuất
cao gấp đôi chỉ tiêu đã đặt ra, số nhà máy điện dựng lên nhiều hơn 20
phần trăm. Việc sử dụng năng lượng ở Trung Quốc hiện đang phí phạm hạng
nhất thế giới. Sản xuất ra một đồng trong GDP phải dùng số năng lượng
cao gấp 5 lần ở Mỹ. Vì vậy, trong 5 năm sắp tới Bắc Kinh đặt chỉ tiêu
bắt các xí nghiệp phải tìm cách tiết kiệm. Ở những nước theo kinh tế
thị trường thật sự thì nhà nước không cần can thiệp nhiều như vậy. Nếu
muốn người tiêu thụ tiết kiệm xăng thì chính phủ đánh thuế cao hơn.
Chính phủ không cần bắt các xí nghiệp phải tiết kiệm. Tất cả các xí
nghiệp đều tự họ lo tiết kiệm đủ thứ, từ nguyên liệu tới năng lượng, để
giá thành sản phẩm của họ thấp, ngõ hầu cạnh tranh với nhau. Trên thế
giới không có một quốc gia nào theo “chủ nghĩa kinh tế tự do” thuần
túy. Chính phủ nào cũng can thiệp vào đời sống kinh tế, ngay việc những
người sống ở Mỹ đang phải lo khai thuế đã chứng tỏ là họ “mất tự do”
rồi. Nhưng nhà nước ở Mỹ không tự mình can thiệp vào việc sản xuất.
Ở
Bắc Kinh, ông Mã Khải cũng nói rằng trong thời gian sắp tới nhà nước
Trung Quốc cũng chỉ đóng vai trò “tạo điều kiện thuận lợi,” để một số
chỉ tiêu khả dĩ đạt được; chứ nhà nước không đóng vai chỉ huy cứng rắn
như cũ. Giới lãnh đạo ở Bắc Kinh đã ý thức rằng họ phải tháo gỡ dần dần
guồng máy hoạch định chỉ huy do thời Stalin, Mao Trạch Ðông để lại; năm
nay họ tiến thêm một bước nữa trong quá trình tháo gỡ đó. Ðây là một sự
thay đổi sâu xa trong quan niệm kinh tế chính trị chứ không phải chỉ là
một thay đổi hành chánh nhỏ. Quan niệm kinh tế chỉ huy đi đôi với một
thể chế chính trị độc tài, khó tách rời nhau được. Trong nền kinh tế tự
do thì khác. Chúng ta cần tìm về tận cội nguồn để thấy hai quan niệm
kinh tế khác nhau, ở thế giới cộng sản và thế giới tự do trước đây. Các
nước cộng sản tin ở chủ nghĩa Mác Lênin, họ nghĩ chỉ cần áp dụng lý
thuyết đó trong phạm vi kinh tế là sẽ tiến bộ. Ở các nước tư bản, người
ta không theo một chủ nghĩa nào cả, họ quan sát đời sống kinh tế một
cách khách quan rồi tìm hiểu và hành động.
Mục
này hôm trước đã nhắc tới hình ảnh Con Nhím và Con Chồn mà triết gia
Isaiah Berlin dùng để mô tả hai loại người suy nghĩ khác nhau. Loại Con
Nhím ôm lấy một thế giới quan, một ý thức hệ, một chủ nghĩa, làm cái
gì, nghĩ điều gì cũng căn cứ vào chủ nghĩa đó. Loại Con Chồn chấp nhận
cuộc đời rất đa dạng, phức tạp, đời sống có nhiều thứ tương phản hoặc
mâu thuẫn. Ông Alan Greenspan, nguyên chủ tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang Hoa
Kỳ, được coi thuộc loại Con Chồn. Nhiều khi ông hành động ngược lại với
các lý thuyết ghi trong sách vở, khi ông nhận ra những yếu tố quan
trọng mà sách vở bỏ qua không nhìn tới.
Nói
chung, kinh tế ở các nước tư bản đều theo lối Con Chồn đó, còn ở các
nước xã hội chủ nghĩa thì ngược lại, theo lối Con Nhím. Và đó là điều
giải thích tại sao trong nửa sau thế kỷ 20 kinh tế các nước Tây phương
tiến bộ, trong khi Liên Xô và Trung Quốc thì không. Ðiểm khác nhau
chính là thế này: Ở các nước tư bản, sinh hoạt kinh tế đi trước, kinh
tế học đi sau để nghiên cứu xem người ta làm ăn như thế nào, khi nào
thành, khi nào bại. Nó cũng giống như các nhà nghiên cứu thực vật tìm
hiểu coi cây cỏ nó sống như thế nào, tại sao có lúc nó chết. Tìm ra một
hiểu biết nào coi bộ chắc, lúc đó mới đem áp dụng thử. Thí dụ, thử tìm
ra cách trồng cam không có hạt, hoặc trồng loại lúa mới hạt lớn hơn,
vân vân.
Trong
kinh tế học, mỗi năm ở Mỹ có hàng ngàn người làm luận án tiến sĩ về
kinh tế, tài chính, hàng ngàn công cuộc khảo cứu cấp cao hơn. Mỗi người
cố tìm cách giải thích các hiện tượng kinh tế lớn, nhỏ khác nhau. Ðoán
ra một mối liên hệ, một tương quan nào, họ dùng những dữ kiện kinh tế
chính xác để thử coi cách giải thích của mình có đứng vững hay không.
Khi thấy nhiều hiện tượng không thể giải thích được bằng các lý thuyết
có sẵn, người ta vứt bỏ lý thuyết đó tìm cách giải thích mới; rồi lại
đem thử bằng các dữ kiện, con số. Nói chung, mỗi lý thuyết kinh tế chỉ
là những giả thuyết, chờ có ngày bị bác bỏ. Khoa học, dù trong các
ngành xã hội hay trong khoa học chính xác, chỉ là tập hợp những giả
thuyết chưa bị lật đổ mà thôi. Thái độ đích thật của các nhà khoa học
đều rất khiêm tốn. Vì đời sống kinh tế thì phức tạp, đa dạng vô cùng,
mà hiểu biết của con người thì có giới hạn. Cùng một hiện tượng có thể
giải thích nhiều cách khác nhau, phải đem thử xem giả thuyết nào giải
thích được nhiều trường hợp nhất thì chắc là đúng hơn. Người ta có thể
tin một giả thuyết khi nó chưa bị các sự kiện bác bỏ, nhưng chưa chắc
đó đã là “chân lý” có giá trị mãi mãi.
Ở
các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thì ngược lại. Họ bắt đầu bằng lý
thuyết. Ðời sống xã hội được xếp đặt dựa trên lý thuyết, giống như
trong tôn giáo. Khi nói đến lý thuyết kinh tế, họ bắt đầu bằng những
lời quả quyết của Karl Marx hoặc Lenin, Stalin, Mao Trạch Ðông, vân
vân. Họ hiểu các lý thuyết đó ra sao thì đem áp dụng như vậy, muốn cuộc
sống xã hội phải đi theo đúng những lý thuyết mà họ tin. Họ đem loài
người ra làm thí nghiệm, từ Liên Xô, Trung Quốc qua Rumani, Bắc Hàn,
Việt Nam, Cam Bốt.
Ông
Ðặng Tiểu Bình đã yêu cầu đảng Cộng Sản Trung Quốc thay đổi quan niệm
trên, ông dùng khẩu hiệu: “Thực sự cầu thị.” Ðến nay, đảng Cộng Sản
Trung Quốc vẫn đi theo hướng đó.
Một
nhà lý luận của đảng Cộng Sản Việt Nam thì đang nói ngược lại. Trên mặt
báo Nhân Dân, ông Nguyễn Ðức Bình phê phán những người lãnh đạo đảng
Cộng Sản Việt Nam là không theo đúng chủ nghĩa Mác Lênin. Về kinh tế
ông chỉ trích họ là không trung thành với chủ trương lấy kinh tế nhà
nước làm chủ đạo, bỏ cả định hướng xã hội chủ nghĩa, chỉ biết kinh tế
thị trường với kinh tế thị trường mà thôi, và hội nhập để bị hòa tan
vào kinh tế hoàn cầu, vân vân. Ông Nguyễn Ðức Bình không đặt câu hỏi là
kinh tế thị trường nó có làm cho dân chúng nghèo đói hơn không. Ông
cũng không hỏi là kinh tế nhà nước đã bao giờ thành công chưa. Ông
không nói “hòa tan” nghĩa là gì, và tự hỏi những nước hội nhập hạng
nhất như Singapore, Mã Lai Á, họ có bị hòa tan hay không?
Ông
Nguyễn Ðức Bình không đi tìm sự thật trong các sự kiện. Ðúng ra, ông
chẳng quan tâm đến sự thật. Ông chỉ muốn bảo vệ “đường lối đảng” của
ông mà thôi. Nhưng bảo vệ theo lối con nhím như thế thì được bao lâu?
NGÔ NHÂN DỤNG