Ngày 27-4-2005 vừa qua, cơ quan an ninh Pháp, đã bắt giữ Li Li Whuang
22 tuổi, một nử sinh viên Trung Cộng, đang du học tại Đại học công nghệ
Compiègne (UTC). Đương sự bị cáo buộc đã đánh cắp các tài liệu tuyệt
mật, về ngành sản xuất xe hơi của Pháp, chứa trong máy điện toán của
công ty nơi cô ta đang thực tập. Nội vụ được báo chí thế giới bàn cải
sôi nổi, còn dư luận trong nước, thì đem so sánh với câu chuyện gián
điệp của Mata-Hari năm nào, đã hoạt động cho Đức Quốc Xã và bị Pháp tử
hình. Lần này, người Tàu không dùng sắc đẹp để đạt mục đích như câu
chuyện Lương-Chúc tân thời mấy năm trước tại Bộ Ngoại Giao Pháp, mà lại
xử dụng du học sinh làm tình báo chiến lược.
Tuy
nhiên có điều rất mai mĩa, vì dù cơ quan tình báo trung ương Pháp đã
vào cuộc điều tra cũng như hồ sơ được chuyển sang tòa án thụ lý với đầy
đủ chứng cớ buộc tội. Nhưng rõ ràng, chính phủ nước này đã không dám
làm to chuyện, lại còn can thiệp trả tự do cho bị can và cho phép ở lại
học tiếp tục tới mãn khóa. Điều này cho thấy nước nào ngày nay cũng nể
sợ Tàu, chứ không phải riêng Mỹ hay VC. Cũng dễ giải thích, vì không ai
muốn đụng chạm tới sự làm ăn ký kết đang ngon trớn, hốt bạc, nhất là vụ
việc xãy ra đúng lúc có Bo Xilai, Bộ trưởng thương mại Trung Cộng đến
Pháp, để giải quyết những sự căng thẳng liên quan tới hàng may mặc xuất
khẩu, giữa hai nước và Liên Âu.
Gần đây Nicholas Eftimiades,
một nữ nhân viên tình báo, phục vụ nhiều năm trong cơ quan CIA (Hoa Kỳ)
và M15 (Tình báo quân sự Anh), đã viết 'Chinese Intelligence', tiết lộ
phần nào cơ cấu cùng với những hoạt động tình báo của Trung Cộng. Nhờ
đó, ta biết cơ quan này hiện nay có hơn triệu người, tổ chức rất qui mô
và hoạ động hiệu quả nhất thế giới. Giống những hội kín của người Hoa
hải ngoại, tình báo Trung Cộng không phô trương rùm beng và gây ra
những scandal như các cơ quan Mossad (Irael), CIA (Mỹ), M15 (Anh),
KGB(Nga).., vì nó được ém nhẹm, như các 'bí mật quốc gia' nên được bảo
vệ tuyệt đối, cấm báo chí, truyền thanh và dư luận xầm xì soi mói hay
đụng chạm.
Về lịch sử tình báo của Hoa Lục, từ sự chỉ huy đầu
tiên của Chu Ân Lai, vào tháng 5-1927 mang danh xưng ' đặc vụ trung
ương ', ngày nay cơ quan này được lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng Sản,
qua Bộ An Ninh quốc gia, Bộ Công An va Bộ TTM/Quân Đội. Tóm lại tất cả
hoạt động tình báo Trung Cộng, gọi chung Tân Hoa Xã, tại bất cứ nơi nào
trong nước hay trên thế giới, cũng đều chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ
Bắc Kinh. Ngoài nhân viên tình báo chính thức, còn có một số không ít
cộng tác viên, thuộc mọi lĩnh vực, trong đó có thành phần du học, du
khách và các phái đoàn khảo sát thăm viếng, ngoại giao.. Đây là một đạo
quân gián điệp đông đảo và hiện đại nhất, vì đang xử dụng những thứ vũ
khí người, góp phần giúp Trung Cộng tồn tại và phát huy thế lực càng
ngày càng lón mạnh, tạo thêm bất ổn và hiểm họa khắp thế giới.
Đối
với người Mỹ, thì Trung Hoa chẳng có gì xa lạ trong quá khứ, vì cả hai
từng là đồng minh, chống lại phe trục 'Đức-Ý-Nhật' thời đệ nhị thế
chiến. Năm 1949, đệ tam Cộng Sản quốc tế chiếm được lục địa, thành lập
XHCN Trung Cộng, bế quan tỏa cảng, đồng thời gây thêm cuộc chiến Cao Ly
và Đông Dương lần thứ 2 (1955-1975), trực tiếp đối đầu quân sự với Hoa
Kỳ. Nhờ Kissinger đi đêm móc ngoặc, nên hai nước bắt đầu nối lại ngoại
giao, qua ba cuộc thăm viếng của ba đời Tổng thống Mỹ: Richard Nixon
năm 1972, Jimmy Carter năm 1979 và Bill Clinton năm 1998, đuợc đánh giá
là những sự kiện lớn nhất trong lịch sử bang giao giữa hai nước
Trung-Mỹ.
Trong lần thăm viếng nước Tàu trước khi mãn nhiệm kỳ
2, Clinton và Giang Trạch Dân đã cùng ký 'Bản Tuyên Bố Chung' dài 47
trang, bao gồm các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế..
giữa hai nước nhưng có ảnh hưởng tới vận mệnh của Á Châu và thế giới.
Hai bên còn trân trọng cam kết ký hứa, không bao giờ sử dụng vũ lực để
giải quyết mọi vấn đề, kể cả vụ Đài Loan và Tây Tạng. Sự cam kết trên,
lần nữa Clinton lại đề cập tới, khi trả lời phỏng vấn của tuần báo
Epress và Le Point, lúc ông ta ra mắt tác phẩm 'Chuyện Đời Tôi'.
Dịp
này, cưu Tổng thống Clinton ,đã chỉ trích nặng nề các nhân vật hiện hữu
tại Tòa Bạch Ốc như Rumsfeld, Cheney,Wolfowitz..đã dùng thế lực ép
buộc, Tổng thống G. W. Bush, gây cuộc chiến Iraq,mà ông ta nói là quá
sai lầm, cho dù để thực hiện ý muốn giúp đỡ toàn vùng Trung Đông và
Trung Á, được sống dưới thể chế Tư Do Dân Chủ như tại Hoa Kỳ. Sau rốt,
Clinton còn chỉ trích TT Bush, đã không chịu tôn trọng một số hiệp ước
mà ông đã ký kết, trong đó sự kiện Mỹ bất chấp phản ứng của Nga-Trung
Cộng, khi cứ tiến hành gia tăng sản xuất các loại hỏa tiển và vũ khí
tối tân, cài đặt kế hoạch Lá Chắn Chống Phi Đạn, trên hai lãnh thổ
Mỹ-Nhật..gây nên cuộc chiến tranh lạnh giữa Tàu-Nga-Ba Tư-Bắc Hàn-Syria
và Mỹ, Do Thái, Liên Âu.
Thật ra sự rạn nứt giữa Mỹ -Trung Cộng,
có rất nhiều lý do, chứ không phải vì sai lầm như Clinton đã nói. Đây
cũng là những sự kiện thường trực xãy ra từ xa lắc, nhưng vì cả hai
phía còn đang lợi dụng lẫn nhau, nên đều cố bưng bít để đanh lạc hướng
dư luận. Trong quá khứ, Trung Cộng vì yếu thế, đã cố ngậm miệng ăn
tiền, khi Hoa Kỳ và Nato oanh kích Tòa đại sứ của mình tại thủ đô
Belgrade (Nam Tư), trong cuộc chiến Kosovo vào tháng 3-1999. Rồi vụ
đụng chạm trên không, khi một chiếc thám thính cơ EP-3 của Hải quân Hoa
Kỳ, đâm vào chiếc phản lực cơ F-8 của Trung Cộng, làm chết viên phi
công Tàu. Sau đó cả phi hành đoàn Mỹ bị giam lỏng trên đảo Hải Nam, cho
tới khi Tổng thống Bush ra oai xữ dụng vũ lực, Trung Cộng mới chịu
giảng hòa..
Cùng thời gian này, Mỹ cũng tố cáo Trung Cộng, đã
gài điệp viên Wen Lee Ho tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, để
đánh cắp tài liệu chế tạo bom nguyên tử của Hoa Kỳ. Trên diễn đàn LHQ,
Mỷ luôn tố cáo Tàu chà đạp nhân quyền, không tôn trọng tự do tín
ngưỡng, đàn áp dã mang Giáo phái Pháp Luân Công..
Nhưng tất cả
sự giả tạo trong mối quan hệ Mỹ-Hoa, cho dù được sắp xếp một cách khéo
léo thế nào chăng nữa, cũng không thể kéo dài đươc,khi Bắc Kinh chính
thức xâm phạm quyền lợi sinh tử của nước Mỹ, đó là năng lượng. Sự đối
đầu giữa hai nước công khai, sau khi Trung Cộng đã thu mua được nhiều
đại công ty của Mỹ như Levono của Thompson, hệ thống dây chuyền sản
xuất máy tính xách tay của IBM và công ty Maytag. Nhưng chính tham vọng
thâu tóm Công ty xăng dầu Unocal của Mỹ, để phô trương chính trị hơn là
kinh tế, mơí thật sự làm cho Hoa Kỳ sáng mắt và bừng tỉnh, về hiểm họa
Trung Cộng, càng ngày càng để lộ nanh vuốt. Nên không phải chỉ riêng
tuần báo Christian Scỉence Monotor, lên tiếng cảnh giác vào ngày
11-5-2005, mà hầu như toàn thể các nhà quan sát chính trị thế giới,
cũng đều thống nhất quan điểm, kêu gọi Hoa Kỳ, đừng bận tâm về những
câu chuyện nguyên tử của Nga, Bắc Hàn, Iran..xía vào, làm mất cảnh giác
mục tiêu quan trọng nhất là Trung Cộng, đó mới chính là kẻ thù chung
của nhân loại.
Theo Mã Khai, người đang phụ trách kinh tế và
năng lượng của Hoa Lục, thì chính tham vọng khống chế kinh tế toàn cầu
của Tàu, qua các dự án khổng lồ như ký hợp đồng 70 tỷ US với Iran, tham
gia kế hoạch nối đường ống dẫn dầu với Ba Tư, Kazakhstan, Nga và mới
đây thêm dự án với Brazil, hợp tác khai thác dầu với Sudan....đã tác
động tới giá dầu thô, tăng lên gấp ba lần so với thị trường hiện tại.
Hoa
Kỳ đã thực sự đối đầu với Trung Cộng bằng mọi cách, mà cuộc đụng độ đầu
tiên đã diễn ra tại hai quốc gia dầu Ba Tư và Sudan, ở Caspienne,
Caucase, Hắc Hải.. nói chung nơi nào có TC,Ba Tư lẫn Nga tham dự là có
Mỹ xía vào. Kế tiếp Mỹ bắt đầuve vãn các nước Tây Phương và chính mình,
chuyển hướng đầu tư sang Ấn Độ và các nước Á Châu khác, cũng có nhân
công lao động rẽ mạt, đã làm cho Trung Cộng lo sợ và cảm thấy bị đe
dọa. Đây là lý do đơn giản, để trả lời tại sao Tàu phải chấp nhận trả
một giá thật cao so với phương Tây để mua năng lượng. Sự khống chế điên
khùng này, đã làm cho vật giá leo thang với dầu vàng, khiến tuần này
chứng khoán Mỹ-Âu tuột dốc thê thảm, báo trước nguy cơ về một cuộc
khủng hoảng kinh tế và tiền tệ,như là một khúc dạo đầu của một thế
chiến dành giựt nguồn năng lượng toàn cầu. Hai cuộc thế chiến trước,
nhân loại bắn giết lẫn nhau để giành dựt thị trường. Kỳ này biên giới
các nước được mở toang qua tổ chức WTO, nên cuộc chiến lại chuyển hướng
sang mục tiêu tạo phương tiện chuyển hướng: Đó là Năng Lượng.
1- TRUNG CỘNG XÂM LĂNG THẾ GIỚI BẰNG KINH TẾ:
Ngày
nay không còn ai nghi ngờ gì nữa, về cuộc xâm lăng gần như trắng trợn
của Trung Cộng, khắp thế giới bằng kinh tế. Hay nói chính xác hơn, hàng
hóa của Tàu đang tràn ngập thị trường mọi nước, mà nhiều nhất là tại Mỹ
với một xã hội tiêu dùng đa dạng, rất được giới trung lưu ưa chuộng.
Theo
một báo cáo của World Bank, cho biết từ 1978-1995, GDP của Trung Cộng
trung bình hằng năm tăng trưởng 9,4%, đã giúp Đảng Cộng Sản cứu sống
được hằng ngàn công ty quốc doanh đang thua lỗ. Bắt đầu 1997, xuất khẩu
Trung Cộng tăng trong khi nhập khẩu giảm, đem lại thặng dư ngoại tệ
hằng năm là 17,8 tỷ đô la, giúp dự trử tài sản trong nước lên tới 121,2
tỷ US, đó là chưa kể tới vốn đầu tư nước ngoài ào ạt chảy vào như nước.
Sở dĩ Trung Cộng đạt được thành công nhanh chóng, phần lớn là nhờ vào
200 triệu công nhân lao động xã hội chủ nghĩa rẽ mạt.,do 300.000 công
ty quốc doanh cung cấp.
Nguồn vốn nước ngoài chắc chắn sẽ được
tiếp tục đầu tư, nếu Trung Công không quá tham vọng, gây bất ổn và đụng
chạm tới nhiều nước trong vùng Á Châu, Liên Âu, Nhựt và Hoa Kỳ. Tình
trạng căng thẳng đã bùng nổ thật sự giữa các nước, manh nha từ đầu năm
2005 kéo dài tới nay vẫn không có dấu hiệu hàn gắn hay nhượng bộ. Với
Hoa Kỳ, thì rỏ ràng Trung Cộng đã lợi dụng thị trường 1,3 tỷ dân,để câu
khách như một ngón đòn chính trị, làm cho thế giới càng lúc càng giảm
bốt sự phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ coi như lớn mạnh nhất hiện nay. Dù
gì chăng nữa, thì Liên Âu và Mỹ không phải là ao nhà hay sân sau của
nước Tàu, mà là hai thị trường lớn nhất, đang tiêu thụ hàng hóa xuất
cảng của Trung Cộng. Nên không lấy làm lạ cả hai cùng lúc, đều áp lực
Trung Cộng phải hạn chế số lượng hàng xuất cảng quần áo vải vóc, đồng
thời phải tăng giá trị đồng Nhân Dân Tệ (Yuan) theo đúng thời giá của
thế giới, ít nhất là 10%. Sự kiện trên làm Trung Cộng rất phẩn nộ, nên
lại đem món hàng Bắc Triều Tiên ra hù dọa, nhưng TT.Bush đâu có phải la
TT Jimmy Carter hay Clinton của Đảng Dân Chủ,nên cuối cùng Tàu đã
nhượng bộ, để gở thể diện cho Tòa Bạch Ốc, chứ thực chất cũng chẳng
giải quyết được gì cho cán cân thâm thủng mậu dịch giữa hai nước.
+ CUỘC CHIẾN TIỀN TỆ GIỮA THẾ GIỚI VÀ TRUNG CỘNG:
Gần
hai mươi lăm năm qua, kể từ khi Trung Cộng mở cửa, hàng hóa của nước
này nhờ giá rẽ và đa dạng, nên hầu như đã tràn ngập thế giới, kể cả Hoa
Kỳ và Âu Châu. Sỡ dỉ có sự bùng phát mạnh mẽ nền kinh tế lục địa Trung
Hoa ngày nay, phần lớn là trách nhiệm của người Mỹ, đã quá thờ ơ đến
chổ coi thường, khi dễ dãi chấp nhận, sự tương quan giữa đồng Nhân Dân
Tệ và Đồng Đơ La, mà ngày nay ai củng biết Trung Cộng đã cố tình gài
bẩy, để kích động nền kinh tế èo uột của mình lúc ban đầu, trở thành
siêu cường kinh tế ngày nay.
Khi mở cửa hội nhập vào thế giới tự
do trong thập niên 80, vin vào sự lạc hậu của nền kinh tế bản địa lúc
đó, Trung Cộng chấp nhận tỷ giá 1 đô la = 2,4 Nhân Dân Tệ (NDT). Sau đó
vào năm 1990-1993 qua tình trạng kinh tế tiến triển, tỷ giá lại thay
đổi 1 Đôla = 5,9 NDT.
Từ sau 1994, trong khi Trung Cộng thực
hiện chính sách tiềntệ theo lệnh của Đảng CS qui định lên xuống trong
khoảng 8,2 - 8,3 NDT = 1 Dôla, thì đồng USD nhiều lần bị chao đảo theo
hối suất quốc tế, càng giúp cho hàng hóa Tàu xuất cảng, có giá thấp so
với các nước, nên ai cũng ưa thích. Sự kiện lịch sử này, một mặt giúp
Trung Cộng sớm chiều trở thành siêu cường kinh tê, trong khi đó quốc
gia có đồng tiền, mà Tàu dựa vào để mà thăng tiến là Mỹ, lại nguy cơ bị
phá sản vì sự thâm thủng ngoại tệ. Tình trạng nguy ngập vê kinh tế Hoa
Kỳ từ năm 2002 trở đi, khi kim ngạch nhập cảng vượt mức 103 tỷ US so
với hàng xuất cảng.
Đó là lý do của cuộc chiến tiền tệ hiện nay,
mà Mỹ là nạn nhân cũng là nước tiên phong, gây áp lực bắt Trung Cộng
phải nâng giá đồng NDT để tạo sự ổn định cho nền kinh tế thế giới. Tóm
lại khi đồng Yuan (NDT) tăng giá, hàng hóa của Trung Cộng cũng tăng giá
theo đồng tiền, hàng xuất khẩu tại các nước từ trước, làm sao cạnh
tranh nổi với hàng tốt của phương Tây, Nhật, Mỹ. Đượng nhiên Trung Cộng
sẽ mất dần ưu thế kinh tế từ trước, nhờ hàng bán rẻ.
Rồi từ
tháng 7-2003, không những Mỹ, mà Liên Âu, Nhật, Nam Mỹ mà cả Quỷ Tiền
Tệ Quốc Tế (IMF) đều áp lực bắt Trung Cộng phải tăng tỷ giá đồng NDT.
Làn sóng chống TC tăng mạnh, sau hội nghị Á Âu (Asem) nhóm tại
Indonesia và tiếp theo là hội nghi Liên Minh kiện toàn đồng USD. Có một
sự mai mĩa là trong lúc chính phủ các nước áp lục bắt Trung Cộng phải
tăng hối suất đồng NDT, thì chính bọn thương gia các nước tư bản lại
phản đối, cho rằng nhờ có TC, bọn chúng mới có lợi nhuận. Cuộc chiến
tiền tệ kéo dài tới tháng 9-2003 thì hầu hết giới chủ ngân hàng thế
giới vào cuộc, áp lực TC phải tăng hối suất từ 20-40 % thời gía hiện
tại. Nếu không thi hành, đồng Yuan (NDT), sẽ không được chấp nhận như
một Bản Vị thế giới, trong khi luân lưu thương mại.
Ngoài ra, dù
muốn hay không mọi điều sẽ phải thay đổi sau khi TC được gia nhập Tổ
chức thương mại quốc tế (WTO), qua những ràng buộc với ngân hàng. Thêm
vào đó, hầu hết hàng hóa xuất cảng của TC đều do tiền đầu tư nước ngoài
quyết định, giữa lúc phong trào chống đối Tàu Cộng đang lên cao tại Mỹ
và Tây phương.
Đó chính là lý do ngày 21-7-2005, Trung Cộng bất
ngờ quyết định hủy bỏ Tỉ Giá Hối Đoái Cố Định, giữa đồng Đo La và đồng
NDT, được duy trì hơn 10 năm qua. Sự thay đổi này hay nói thẳng là từ
nay đồng Yuan đã bắt buộc phải thả nổi, trước tiên đã làm ngân sách nhà
nước tổn thất tơí 10 tỷ đô la. Năm 1997, một đôla = 8,277 NDT, nay hối
đoái mới 1 đôla = 8,11 NDT nâng đồng bạc Tàu thêm 2,1% thời giá. Mặc dù
Thủ Tướng TC là Ôn Gia Bảo có trấn an dân chúng nhưng trên hết, nếu TC
cứ ngoan cố, thì Mỹ bắt buộc phải áp dụng tăng thuế trên các hàng hóa
nhập cảng từ TC lên tới 27.5%. Đối với VN, sự thả nổi đồng NDT chẳng có
tác dụng gì. Ngược lại VN chỉ có lợi, khi Mỹ, Nhật và Liên Âu áp dụng
hạn ngạch và thuế xuất cảng cao trong hàng nhập cảng của TC. Cuối cùng
việc đồng NDT lên giá thả nổi, cũng là lý do chính đáng để các nước đầu
tư chuyển vốn sang Ấn Độ cùng các nước Á Châu khác trong khu vực.
Nhưng
cuộc đối đầu Mỹ-Hoa mới chỉ màn khai diễn, vì ngoài hai con bài tẩy Ba
Tư và Bắc Hàn, hiện Trung Cộng còn nắm chặc một yếu tố chiến lược khác
đối với Hoa Kỳ. Đó là chuyện Trung Cộng sẽ bất thần rút hết vốn tới 600
tỷ đô la,đang được đầu tư ngay trên đất Mỹ. Ác nhất là trong số tiền
này, có tới 200 tỷ USD dùng để mua trái phiếu của ngân khố. Hoa Kỳ. Đây
là thứ vũ khí hiệu quả nhất mà TC có thể xử dụng khi cần thiết, để gây
xáo trộn nền kinh tế của kẽ thù trước mặt.
+ TRUNG CỘNG KHỐNG CHẾ KINH TẾ THẾ GIỚI BẰNG NĂNG LƯỢNG:
Với
tham vọng đối đầu trực tiếp với Mỹ, để tranh giành vai trò lãnh đạo thế
giới, nên trong nhiều năm qua, Trung Cộng đã tiêu phí hàng chục tỷ đô
la, để hoàn thành các mục tiêu chiến lược, trong đó có năng lượng. Cuối
năm 2002, Hồ Cẩm Đào thay Giang Trạch Dân làm trùm Đảng Cộng Sản, đã
thực hiện nhiều chuyến công du khắp đó đây để tìm dầu. Nhờ vậy đã gặt
hái được nhiều kết quả tại Ba Tư, Sudan, Nam Mỹ và một vài nước Cộng
Hòa thuộc LX cũ.
Sự kiện Chính phủ Hoa Kỳ vì vấn đề an ninh quốc
gia, đã ngăn cấm công ty xăng dầu Unocol, từ chối bán cho Tập đoàn xăng
dầu quốc doanh Tàu (CNOOC), dù họ đã bỏ ra tới 18,5 tỷ USD nhều hơn
Chevron gọi thầu. Điều này cho thấy Hoa Thịnh Đốn giờ đã thực sự bừng
tĩnh, khi nhận rõ được đối thủ của mình là Bắc Kinh., chứ không phải là
Nga, Đức, Pháp hay Nhật. Bởi vậy Hoa Kỳ xem vấn đề Trung Cộng đang dần
hồi thâu tóm những tập đoàn xăng dầu khổng lồ của mình trên thế giới,
là mối đe dọa nghiêm trọng nhất, cho nền an ninh quốc gia Hiệp Chủng
Quốc, chứ không phải sự đe dọa của các tổ chức khủng bố, quân sự hay
vấn đề bom nguyên tử của Bắc Hàn, Ba Tư.
Với Trung Cộng, năng
lượng cũng vô cùng quan yếu, vì nó giữ vai trò chi phối sự tăng trưởng
của nền kinh tế Hoa Lục, tạo phương tiện để Tàu hiện đại hóa quân sự,
đủ sức khiêu khích đối đầu với thế giới, trong đó có Đài Loan, Hoa Kỳ,
Nhật Bổn và Liên Âu.
Dầu cũng là nhịp cầu, đã nối bang giao
giữa Nga-Hoa sau nhiều năm lạnh nhạt vì biên giới, Ngoại Mông và VC.
Hiện hai nước cọng sản anh em, đã sát cánh trong sứ mạng đánh Mỹ để
sinh tồn, qua hai con cờ Bắc Hàn và Ba Tư, được coi như hai kho thuốc
nổ hiện nay, đang hăm nóng lại cuộc chiến tranh lạnh năm nào. Hồ cẩm
Đào và Putin đã ba lần gặp mặt, để bàn thảo về chiến lược liên minh,
xây dựng một đường ống dẫn dầu khí của Nga từ Tây Bá Lợi Á, về tận
Trung tâm năng lượng Đại Khánh của Trung Cộng. Theo đó, chỉ có con
đường dầu khí này, mới tương đối an toàn ,khi có chiến tranh xãy ra,
một điều mà Nhật cũng đã từng ứng dụng, trong Đệ 2 thế chiến.
Do
sự tăng trưởng kinh tế ào ạt, nên mấy năm qua Trung Cộng đã tiêu thụ
một số năng lượng khổng lồ,mà theo đánh giá của thế giới là quá phí
phạm không cần thiết. Sự tiêu dùng trên chỉ thua Mỹ nhưng hơn hẳn Nhật
và Âu Châu. Tuy nhiên Hoa Lục không giống các nước tiền tiến, đều có
sẳn liên minh năng lương., còn Tàu chỉ phụ thuộc vào nhập cảng, trong
khi chính TC thực sự không có khả năng kiểm soát số lượng dự trữ dầu
khí của thế giới. Ngoài ra, ví dù TC có được nguồn năng lượng cung cấp
từ Đông Phi, Trung Á, Trung Đông..thì cũng chưa chắc bảo đãm được dầu
sẽ an toàn về tận chỗ, qua các phương tiện chuyên chở bằng đường bộ hay
đường biển. Tình trạng này lại càng nguy hiểm hơn khi có chiến tranh.
Lúc đó tàu dầu của Trung Cộng làm sao qua khỏi Ấn Độ, eo biển Mã Lai,
eo biển Đài Loan, biển Nhật Bản..khi có sự hiện diện của Hải quân Ấn
Độ, Mỹ, Nhật và các nước Đồng Minh. Mặt khác các ống dẫn dầu khí của
Trung Cộng hợp đồng với Ba Tư hiện nay, nếu đặt đường ống hay dùng
đường bộ,xe lửa,xe bồn, đều phải qua Trung Á, A Phú Hản , Tây Tạng, Tân
Cương.là những khu vực luôn bất ổn, lại có đầy các căn cứ quân sự của
Mỹ, nên làm sao tránh được sự phá hoại..như tình trạng nước Nga hiện
tại.
Đó là lý do khiến Trung Cộng đã cố nối lại bang giao với
Nga, để trao đổi năng lượng. Quan trọng nhất là việc Bắc Kinh đã ký kết
với Ba Tư, một hợp đồng lên tới 70 tỷ US, để mua dầu và khí đốt dài hạn
của nước này. Vì vậy, mà Nga và Trung Cộng đã ra mặt liên minh và bênh
vực cho Ba Tư cũng như Sudan, khi hai nước này bị Hội Đồng Bảo An LHQ
đòi trừng phạt kinh tế, vì chương trình nguyên tử và sự tàn ác ở
Darfur..
Tại Đông Hải, Trung Cộng công khai tranh giành khai
thác dầu khí tại thềm lục địa với Nhật,VN, Phi Luật Tân..nhiều cuộc
đụng độ quân sự đã xảy ra trên biển quanh quần đảo Trường Sa mấy năm
trước hay mới đây bằng tàu ngầm trong vùng biển Nhật Bản. Ngoài ra TC
còn bắt chước Mỹ, thiết lập nhiều kho dầu dự trữ chiến lược tại tỉnh
Triết Giang, đủ cung ứng trong ba tháng khi dầu nhập cảng bị nghẹn.
Đồng thời TC cũng ráo riết bỏ tiền đầu tư vào lãnh vực khoa học, tập
trung vào các dự án khai thác, thăm dò dầu khí trong nội địa, nhất là
vùng Tân cương, Nội Mông, Mãn Châu..với hy vọng tìm được nguồn dầu khí
mới, để cắt giảm số năng lượng nhập cảng phải lệ thuộc của nước ngoài.
Tóm
lại ngày nay, Trung Cộng đã tự coi mình như một quyền lực mới trên toàn
cầu về dầu khí. Trong lúc Hoa Kỳ, Nhật, Liên Âu..đã bằng mọi cách chống
sự phá giá xăng dầu, thì chính Nga và Trung Cộng bất chấp thời cuộc, đã
phung phí những số tiền khổng lồ, mua chuộc các nước có năng lượng khắp
thế giới, để tạo thành những đồng minh chính trị, tạo điều kiên cho các
nước trên, tự ý nâng giá quá trớn món hàng vàng đen đã có ông chủ TC
giàu xụ chịu mua với thời giá cao gấp ba giá thị trường.
Nhờ có
trữ lượng dầu khí đứng thứ 2 hiện nay, nên Ba Tư được Trung Cộng và Nga
Sô nâng đờ tận tình. Chính sự bợ lưng này, đã làm Tổng thống Iran
Mahmoud Ahmadinejad coi thường tất cả, từ LHQ, Mỹ, Liên Âu. Hề nhất là
mới đây, còn cho biết đã lựa chọn hai đồng minh cùng mình chống Mỹ là
Syria và Hamas (Palestine), cũng như thẳng tay bác bỏ phương án thỏa
hiệp của Anh, Pháp, Đức..nhằm làm dịu bớt không khí căng thẳng, giữa Ba
Tư và Mỹ-Irael..
2- TRUNG CỘNG LĂM LE THỐNG TRỊ THẾ GIỚI BẰNG QUÂN SỰ:
Phân
tích tiềm lực quân đội Trung Cộng ngày nay, các chiến lược gia và quân
sự Mỹ đều có chung nhận định ' Đó là cơn ác mộng, chẳng những của các
quốc gia Đông Nam Á mà còn là hiểm họa toàn cầu '.Ngoài ra, Trung Công
cũng bị thế giới cáo buộc là một quốc gia đã và đang xuất cảng tội ác
cùng chính sách độc tài sắt máu, tới nhiều nước như Khmer đỏ, Nepal,
Bắc Phi, Bắc Hàn, Trung Đông, Iran, Iraq, Pakistan, A Phú Hãn.., trực
tiếp hay gián tiếp giúp đỡ, khuyến khích các nước trên, chế tạo những
vũ khí độc hại, giết người hằng loạt, làm đảo lộn trật tự và an ninh
thế giới trong nhiều năm qua với hậu quả có thể trở thành một cuộc thế
chiến.
Theo lời tuyên bố trong 'Chinese Territorial Water Laws',
TC cho biết lãnh thổ của mình bao gồm: Đài Loan, quần đảo Senkaku,
Pescador, Pratas,Macclesfiel Bank, Hoàng Sa và Trường Sa. Như vậy biển
Trung Hoa rộng hơn 3 triệu km2, chiếm phần lớn Thái Bình Dương, bao gồm
khu vực 200 hải lý, tính từ đảo Đài Loan, mà Trung Cộng lúc nào cũng
coi như đất đai của Tàu. Tháng 3-1988, Trung Cộng dùng vũ lực cưỡng
chiếm đảo, thuộc quần đảo Trường Sa của VN. Sau đó ngang nhiên dựng đài
quan sát biển (Marine Observatory) và lập căn cứ quân sự, trên các đảo
còn đang tranh chấp chủ quyền.
Tháng 2-1995, Trung Cộng lại
cưỡng chiếm đảo Mischief, lãnh thổ của Phi Luật Tân, nằm ở phía tây đảo
Palawan. Mặc dù bị chính phủ nưóc này phản đối dữ dội, Trung Cộng vẫn
tiến hành xây nhiều căn cứ quân sự trên đảo, từ năm 1998-1999, trước sự
làm ngơ của Hải quân Nga và Mỹ, luôn có mặt trên đại dương.
Tháng
2-1992, Trung Công bất chấp công pháp quốc tế, ngang nhiên tới khoan
giếng dầu ở Wanan Reef, nằm trong lãnh hải VN. Song song, Trung Cộng
cũng tới khoan dầu tại Reed Bank (thuộc Philippine) và James Shoal
(thuộc Mã Lai Á). Đã công khai cưỡng chiếm lãnh thổ của người khác,
Trung Cộng còn to tiếng với đám nhà thầu tây phương, là sẽ sử dụng vũ
lực để đè bẹp các cuộc chống đối nếu có. Trên đảo Hoàng Sa, từ năm
1988-1993, Trung Cộng đã xây xong một căn cứ hải quân lớn, có phi
trường với phi đạo dài trên 2500 m, luôn luôn có sự hiện diện của 10
chiếc phản lực loại F7.
Mới đây Hoa-Nhật lại tranh chấp chủ
quyền đảo Senkaku, nơi mà người Nhật đang khoan tìm dầu. Xa hơn trên
vùng biển Ấn Độ Dương, Trung Cộng cũng đã vói tay xuống để thực hiện
cái gọi là 'Chiến lược Vòng Ngọc Trai', với nhiều căn cứ quân sự ở
Pakistan, Bangadesh, Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt nhưng quan trọng và
bị chống đối dữ dội, vẫn là căn cứ tàu ngầm tại vùng biển Nam Dương,
đối diện với eo biển Mả Lai. Căn cứ này nằm ngay yết hầu của hải lộ dầu
quan trọng nhất thế giới, từ Trung Đông tới Úc, Tân Tây Lan, Đông Á và
Hoa Kỳ..
Tóm lại, Trung Cộng ngày nay đã trở thành một tai họa
lón cho nhân loại với những biến chuyển nóng hổi, có thể làm thay đổi
trật tự thế giới trong vài giờ, mà không ai có thể tiên liệu được. Tại
Châu Á, chỉ trong vòng hai năm qua, với hành động bá quyền nước lớn,
Trung Cộng đã khiến cho tất cả quốc gia quanh vùng lo sợ và coi như thù
địch. Những vụ công khai cướp bốc các đảo ngoài khơi, thuộc chủ quyền
của VN, Phi, Mã Lai, uy hiếp Đài Loan, tạo tình trạng bất ổn tại Tay
Tạng, Tân Cương, Nội Mông, để có cớ chụp mũ đồng bào vô tội là khủng
bố, rồi tha hồ tàn sát diệt chủng. Mới đây Trung Cộng còn tranh chấp cả
với Nhật tại nhóm đảo Điếu Ngự Đài (Senkaku) và công khai thách thức
chạy đua với Mỹ trên không gian.
Nếu tiếp tục thành công về kinh
tế như thời gian qua, thì với những lãnh đạo hiện nay có khuynh hướng
quân phiệt và quốc gia cực hữu, chắc chắn Trung Cộng sẽ gây nên một thế
chiến, để làm bá chủ Châu Á Thái Bình Dương và hoàn cầu. Nhưng muốn là
một chuyện, còn thành công hay thất bại lại là một vấn đề thời gian.
Như lời tuyên bố mới đây của Frank Hsiech, Phó Thủ Tướng Đài Loan, thì
sở dĩ Trung Cộng to miệng với thế giới, chẳng qua chỉ để che đậy những
xáo trộn nội bộ tại lục đia, báo hiệu Hoa Lục đang trên đà sụp đổ, mà
trước hết là kinh tế với hàng hóa sản xuất quá thặng dư, đang bị Mỹ,
Liên Âu và nhiều nước cảnh cáo, tẩy chay vì đã làm lũng đoạn đời sống,
cũng như an ninh, trật tự của nước họ. Đức, Ý, Nhật gây hai cuộc thế
chiến vì cần thị trường và thuộc địa để sinh tồn. Người Tàu nếu mất thị
trường tiêu thụ hàng hóa sản xuát, đầu tiên là dân nghèo (chiếm 90%) cả
nước phải đói. Đây là nguyên nhân ngàn đời, làm cho nước Tàu không bao
giờ được yên ổn hay thống nhất, kể cả ngày nay đang sống dưới sự kềm
kẹp siết họng của cọng sản.
Trung Cộng đất rộng người đông, từ
ngàn xưa đã là một đại cường của Châu Á. Khi Đặng Tiểu Bình nắm quyền
nước, theo tư bản để phát triển kinh tế và càng ngày càng nuơi tham
vọng trở thành một siêu cường trên đại dương. Cũng từ đó, người Tàu coi
vùng biển phía Nam thuộc lãnh hải các nước VN, Phi, Mã Lai, Brunei, Tân
Gia Ba và Nam Dương là ao nhà của mình. Cao vọng hơn, người Tàu muốn
đuổi Mỹ ra khỏi Thái Bình Dương, vì cho đó là cửa ngõ của mình để bước
ra thế giới.
Tóm lại từ đầu tới cuối, chính người Mỹ đã tận tình
giúp Trung Cộng, một quốc gia lạc hậu mạt rệp trong thập niên 70 của
thế kỷ XX, để trở thành một siêu cường kinh tế và quân sự ngày nay.
Cũng chính cựu Tổng Thống Mỹ Bill Clinton, trong thời gian còn tại
chức, đã đưa Trung Cộng có mặt tại các diễn đàn quốc tế, như một cường
quốc trong vùng. Nhưng cũng bắt đầu từ đó, qua sự nâng đỡ của Hoa Kỳ,
giúp Trung Cộng có đủ phương tiện bành trướng quân đội, nhất là hải
quân và phát triển các võ khí chiến lược tầm xa, tạo điều kiện để nước
Tàu càng lúc càng tham lam bá quyền, coi thường các công ước quốc tế về
luật biển (Unclos), dù đã ký hứa với mọi người.
Tự vẽ lại bản đồ
nước, đòi chủ quyền trên tất cả hải đảo, lãnh hải kể cả không phận,
trong một vùng biển rộng lớn tận quần đảo Trường Sa của VN, trong Thái
Bình Dương, sau khi vùng biển này phát hiện có trữ lượng dầu hỏa và khí
đốt rất đáng kể, nhất là tại biển đông của VN. Ngoài trực tiếp xâm lăng
lãnh thổ của lân bang, ngày nay Trung Cộng còn ngang nhiên trịch
thượng, tự ý quyết định các vấn đề tranh chấp trong vùng, như một chủ
nhân ông trắng trợn, mà không cần phải che đậy ý đồ bất lương trước các
diễn đàn quốc tế, trong đó có Mỹ và cộng đồng chung Âu Châu.
Như
thói quen cố hữu của những con người cọng sản thập thành, Trung Cộng
dùng chính sách đòn xóc hai đầu, để vừa gạt bọn tư bản da trắng, đồng
thời vừa hưởng lợi. Bởi vậy người Tàu khi tới với thế giới, chỉ với một
mục đích duy nhất, để bảo vệ quyền lợi và an ninh của nước mình mà
thôi. Bởi vậy, không bao giờ thành thật góp sức cùng thế giới, để giải
quyết mọi vấn đề có liên quan tới an ninh và vận mệnh của nhân loại,
trong vụkhủng hoảng bom nguyên tử tại Bắc Hàn, Iran, vấn đề Đài Loan,
sự hợp tác của Tổ Chức Châu Á Thái Bình Dương (ARF)..Tóm lại, trong mọi
vấn đề, ngày nay TC coi mình là bá chủ của thế giới, nên công khai
quyết định tất cả mọi chánh sách phải theo ý mình. Ai, dù là LHQ hay Mỹ
làm trái ý, sẽ bị Tàu chống đối mãnh liệt.
Nhờ đứng trong thế
mạnh về kinh tế, lại được Nga hợp tác, nên Trung Cộng đã công khai đối
đầu với thế giới, không còn kiêng dè bất cứ một ai, kể cả Nhật, Đông
Nam Á, Liên Âu và ngay cả Hoa Kỳ. Tháng 1-2005, một phái đoàn quốc hội
Hoa Kỳ, gồm dân chủ lẫn cọng hòa, sau khi từ Trung Cộng về, đã cảnh báo
hiểm họa của nước Tàu, trong đó có nhắc tới Đài Loan hiện nay là một
khu vực nguy hiểm nhất trên thế giới, vì chiến tranh có thể xảy ra bất
cứ lúc nào. Do đó, lập pháp cảnh báo chính phủ Hoa Kỳ, ngay bây giờ
phải luôn có một lực lượng hải quân hùng mạnh, để sẵn sàng đáp ứng ngay
với hiểm họa của Trung Cộng, khi nước này gây chiến.
Sau khi bị
Hoa Kỳ, Liên Âu và cả thế giới lên án về hành động bá quyền và coi
thường luật pháp quốc tế về kinh tế lẫn quân sự, chẳng những không biết
sửa đổi hay tự chế, trái lại Bắc Kinh còn phẫn nộ và lớn tiếng thách
thức với nhân loại, rằng là sẽ chạy đua vũ khí với Mỹ trên không gian,
cũng như bắn bom nguyên tử làm hủy diệt thành phố Los Angeles, nếu Hoa
Kỳ dám can thiệp, khi Trung Cộng tấn công xâm lăng Đài Loan và chiếm
lĩnh hải đạo Thái Bình Dương.
Mới đây trong một tài liệu được
phổ biến tai quốc hội, các nghị sĩ Mỹ lên tiếng đòi hỏi Bắc Kinh phải
dứt khoát vấn đề nguyên tử, hoặc cùng với thế giới tuân hành những luật
lệ bảo toàn an ninh trật tự toàn cầu hay là cùng Mỹ đối mặt trong một
cuộc chiến sắp tới với vũ khí hạt nhân. Do tình hình biến động bất ngờ
tại Đông Hải, nên TT W.G.Bush đang cứu xét việc cho phép các tư lệnh
chiến trường, được quyền xử dung bom nguyên tử mang theo khi cần thiết.
Nhưng quan trọng hơn hết là Mỹ sắp có quyết định cho phép Nhật tái
trang bị quân sự và chế tạo vũ khí hạt nhân, để tự vệ trước cuộc tấn
công của Tàu Cộng.
+ LỰC LƯỢNG HẢI QUÂN HOA KỲ:
Sau
khi Đệ nhị thế chiến kết thúc, Hoa Kỳ coi như hoàn toàn loại bỏ hải
quân Nhật Bổn và chiếm địa vị hàng đầu trên mặt biển, dù tại Thái Bình
Dương luôn có sự hiện diện của Hạm đội Nga Sô. Từ năm 1945 tới nay, Hoa
Kỳ đã tham dự 9 cuộc chiến quan trọng , trong đó Hải quân vẫn là lực
lượng nòng cốt giúp đạt chiến thắng. Thật vậy, cũng nhờ Đệ Lục Hạm Đội
Hoa Kỳ luôn luôn hiện diện ngoài khơi Địa Trung Hải, nên đã kềm chế
được Libya từ năm 1980 về sau, không dám chế tạo bom nguyên tử, để có
cơ hôi xưng hùng, quậy phá Phi Châu và Cận Đông, như mấy năm gần đây
Trung Cộng nhờ Mỹ che chở, nên đã và đang làm cho Thái Bình Dương dậy
sóng từng giờ.
Để luôn duy trì quyền lực trên biển, Hải quân Hoa
Kỳ luôn luôn sẵn có 12 Hàng Không Mẫu Hạm và các Phi Đoàn Chiến Thuật.
Quan trọng nhất là Hải Quân Hoa Kỳ đã tối tân hoá, gần như toàn diện
các hàng không mẫu hạm, bằng những con tàu thuộc thế hệ Nimitz và CVX,
chạy bằng năng lượng nguyên tử, có trọng tải 90.000 tấn với chiều dài
335m. Trên mỗi hàng không mẫu hạm Nimitz, đều có trang bị 4 giàn phóng
bằng hơi nước, 4 dây cáp giữ máy bay lại khi hạ cánh. Sân tàu có một
phi đoàn, gồm 76 máy bay đủ loại như chiến đấu cơ, oanh tac cơ, thám
thính cơ và trực thăng.
Đặc biệt, hạm đội nào cũng đều mang theo
nhiều bom nguyên tử. Từ năm 1995, công ty đóng tàu Newport New
Shipbuilding, đã chuyển giao cho Hải quân Mỹ chiếc hàng không mẫu hạm
nguyên tử John Stennis. Năm 1998 lại giao chiếc Harry Truman và 2003 là
chiếc Ronald Reagan (chiếc thứ 9 trong thế hệ tàu nguyên tử Nimitz).
Hiện Mỹ đang thử nghiệm các loại tàu CVX, để thay dần các tàu chiến cũ,
hầu hoạt động hữu hiệu trong thế kỷ XXI. Tóm lại, Mỹ đả bỏ xa hải quân
Nga, Anh, Pháp. Riêng Trung Cộng nếu muốn bắt kịp, phải chờ tới nhiều
năm sau nhưng với điều kiện là phải giàu như Hoa Kỳ, mới có đủ tiền
đóng tàu thế hệ mới, vì mỗi chiếc tốn cả tỷ mỷ
+ LỰC LƯỢNG HẢI QUÂN TRUNG CỘNG:
Quân
đội nhân dân Trung Cộng, thành hình từ năm 1927 tại Nam Trương, qua sự
kết hợp từ những toán quân du kích của Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Đức Hoài
và Mao Trạch Đông. Đạo quân ô hơp này tới năm 1949 khi Mao chiếm được
Hoa Lục, mới được thống nhất thành quân đội cả nước.
Hồng quân
được chia thành chính quy, chủ lực quân khu và dân quân địa phương.
Trên thượng tầng có Bộ Tổng Tham Mưu gồm ba tổng cục tham mưu, chính
trị và hậu cần. Về chiến thuật, chiến lược thì theo chủ thuyết Mao hay
chiến tranh nhân dân, lấy nông thôn bao vây thành thị. Quân TC hiện
đông nhất thế giới, chỉ chính quy và chủ lực, đã có trên 4 triệu người.
Cả nước có bảy quân khu với nhiều quân đoàn, trong số này có quân đoàn
27 thuộc quân khu Bắc Kinh, rất nổi tiếng nhờ tàn sát hằng ngàn đồng
bào và sinh viên Trung Hoa, khi họ biểu tình tại quảng trường Thiên An
Môn-Bắc Kinh, đòi tự do dân chủ và quyền làm người vào ngày 4-6-1989,
do chính Đặng Tiểu Bình ban lệnh. Ngoài ra còn có bảy triệu Dân quân,
do tổng bí thư đảng kiêm chủ tịch quân ủy trung ương, làm tổng chỉ huy.
Về
Không quân, ngay từ cuối thế kỷ XX, Trung Cộng đã có 32 Sư đoàn chiến
đấu và 12 Sư đoàn oanh tạc. Nhiều SD/KQ được phối hợp thành Quân đoàn
KQ như QD4/KQ/Thượng Hải, QD5/KQ.Hàng Châu. Từ sau cuộc chiến Hoa-Việt
tại biên giới năm 1979, Trung Cộng nhờ Mỹ và các nước tây phương giúp
kỹ thuật, để chế tạo các phi cơ chiến đấu F8, Tây An A..có gắn hỏa tiễn
Không không, để thay thế các loại phi cơ kiểu Liên Xô Mig 15,17,19 có
rất nhiều nhưng lỗi thời.
Hải quân Trung Cộng hiện đông thứ 3
trên thế giới, gồm chính quy, chủ lực và dân quân. Cả nước có 3 Hạm
đội: Bắc Hải, Nam Hải và Đông Hải. Từ năm 1980 về sau, binh chủng Hải
quân được phát triển đều đặn, có khả năng vừa phòng thủ trong nước,
cũng như chiến đấu độc lập tại các khu vực ngoại biên. Theo các tài
liệu được phổ biến, cho thấy các chiến hạm của TC ngày nay, hầu hết đều
có trực thăng và hệ thống viễn thông với kỹ thuật cao, có nhiều Khu
trục hạm, hộ tống hạm chống vũ khí nguyên tử..Ngoài ra đang đóng loại
Khu trục hạm Luhai, có trọng tải từ 6000 tấn trở lên, được trang bị hỏa
tiễn tấn công tự dộng. TC cũng đang ráo riết chế tạo và sản xuất các
loại hỏa tiễn Tuy vậy tới nay, dù được tối tân hoá tàu thuyền và cải tổ
chiến thuật chiến lược, theo nhận xét chung của hầu hết các nhà quân sử
thế giới, thì Hải Quân TC vẫn còn thua xa Hải quân Mỹ, Nga Sô và Lực
Lượng Tự Vệ Biển của Nhật Bổn, trên Thái Bình Dương.
+ QUÂN ĐỘI NHẬT BẢN NGÀY NAY:
Nhật
Bản được biển bao bọc nên việc phòng thủ rát thuận tiện và cẩn mật. Dù
hiểm họa bị LX tấn công đã không còn từ sau thập niên 90 nhưng tình
hình trong vùng vẫn không có gì thay đổi, với sự đe dọa thường trực của
Bắc Hàn, Nga và nhất là Trung Cộng. Bởi vậy Nhật không ngớt tăng cường
quân đội., tính tới năm 1998, chi phí dành cho Bộ Quốc Phòng xử dụng,
lên tới 50 tỷ USD, chỉ thua có Mỹ.
Gần đây qua sự bành trướng
công khai của TC, nên Nhật đã thay đổi chiến lược, chủ yếu là tấn công
chứ không còn giữ thế phòng thủ diện địa như trước. Đây là một quân đội
được đánh giá là hùng mạnh nhất thế giới
Theo tạp chí Quảng Giac
Kính số 7/1998 cho biết: về bộ binh, Nhật có 179.430 người, chia thành
5 quân đoàn, với 12 sư đoàn xung kích gồm bộ binh + cơ giới và hóa học.
1 thiết đoàn + 2 lữ đoàn hổn hợp + 1 lử đoàn dù + 1 lữ đoàn pháo binh +
2 lữ đoàn cao xạ + 4 lữ đoàn phòng không..Về không quân có 1 lữ đoàn
máy bay trực thăng + 5 trung đội trực thăng vũ trang. Từ năm 2000, quân
đội Nhật có thêm một lực lượng đặc nhiệm 15.000 người.
Trang bị
chủ yếu của Lục quân Nhật gồm 1128 xe tăng các loại, còn trực thăng hơn
500 chiếc. Về Hải quân, Nhật hiện có 45.752 người,đồn trú tại 5 căn cứ,
với 1 hạm đội phòng vệ (gồm khu trục,hộ tống, hàng không mẫu hạm).
Trọng tải các tàu lớn của Nhật lên tới 200.000 tấn. So sánh hải quân
trên thế giới ngày nay, hải quân Nhật chỉ thua Hoa Kỳ, nhưng tối tân và
có súc mạnh trên đại dương hơn hẳn Nga, Anh ,Pháp và bỏ xa Hải quân
Trung Cộng, chỉ tính bằng số lương mà phẩm chất rất tồi.
Từ sau
hai cuộc chiến vùng vịnh, rút kinh nghiệm Nhật đã tổ chức lại hải quân
và chia thành hai hạm đội: Hạm đội 1 tấn công,là lực lượng tác chiến cơ
động khắp các địa hình, từ dưới biển trên không, chiếm 2/3 tổng số tàu
chiến, 60% máy bay hải quân và 40% quân số. Hạm đội 2 có nhiệm vụ phòng
thủ, bảo vệ vùng duyên hải, đảo biển, chống tàu ngầm, diệt thủy lôi và
tu sửa tất cả các tàu bè chiến hạm.
Hải quân Nhật hiện nay có
163 tàu chiến các loại, trọng tải 330.000 tấn, 390 máy bay chiến đấu
các loại. Chiến hạm gồm 58 tàu khu trục và hộ tống, 19 tàu ngầm..Các
tàu đều mới, hạ thủy chưa tới 10 năm..Lực lượng không quân thuộc Bộ hải
quân, có 12.000 người, với 216 máy bay chiến đấu các loại, chia thành 7
đại đội, trong đó có 10 trung đội chuyên chống tàu ngầm, được trang bị
99 chiếc P-3C + 6 trung đội máy bay trực thăng chống tàu ngầm, được
trang bị 49 chiếc HSS-2B và 58 chiếc SH-60J, một trung đội trực thăng
diệt thủy lôi, được trang bị 10 chiếc MH-53E và một trung đội may bay
điện tử, được trang bị 2 chiếc EP-3C.
Tóm lại các chiến hạm Nhật
Bản ngày nay, đều được cải tiến về trang bị với điện tử, hỏa tiển tầm
xa, nâng tổng số lên 31 chiếc hoàn toàn mới, kể cả tàu ngầm, nếu so
sánh vượt trội hải quân Trung Cộng nhiều lần về phẩm chất.
+ QUÂN ĐỘI VIỆT NAM:
Trên
bán đảo Đông Dương, đối với Lào, CamBốt kể cả Thái Lan, thời nào VN
cũng đều đạt ưu thế quân sự. VN có dân số đông nhất trong vùng, hơn nửa
lúc nào cũng luôn sẵn sàng chống trả sự xâm lăng của Tàu, nên quân số
đông đảo, thường trực. Bởi vậy cả Trung Cộng còn phải nể nang, trừ phi
VC vì lý do chính trị đã nhượng bộ giặc Tàu.
Sau tháng 5-1975,
VN là nước có dân số đông thứ 13 trên thế giới, hiện nay theo thống kê
trên 80 triệu người. Về quân sự, quân đội VN xếp hàng thứ bốn, sau
Trung Cộng, Hoa Kỳ và Liên Sô, đông hơn nhiều lần, quân số của sáu nước
ASEAN (Thái, Nam Dương, Phi, Mã, Tân Gia Ba và Bruein) cộng lại. Do sự
đối nghịch của Kampuchia và Trung Cộng, nên dù mang tiếng có hòa bình
sau ngày 30-4-1975, Bắc Bộ Phủ vẫn duy trì và tăng cường quân số nhiều
hơn trước, nên chỉ riêng chính qui, đã có từ 700000-1.000.000 người.
Về
chiến lược, cả nước chia thành 7 quân khu: I, II, III, IV, V, VII và
IX. Ngoài ra còn có quân khu Thủ Đô Hà Nội), Đặc khu Quảng-Ninh và HCM
(Sài-Gòn). Quân Đội vẫn gồm ba binh chủng Hải, Lục và Không quân. Từ
sau tháng 4-1975, Lục quân được tổ chức thành bốn quân đoàn lưu động,
như các bỉnh chủng Dù, TQLC và BDQ tổng trừ bị của QLVNCH.
Các
quân đoàn mang số 1 (Quyết thắng), II (Hương Giang), III (Tây Nguyên)
và IV (Cửu Long). Từ năm 1979 về sau, do tình hình chiến sự, quân số đã
tăng lên tới tám quân đoàn. Mỗi quân đoàn có quân số chính qui gần
50.000 người, cộng thêm các đơn vị yểm trợ như thiết giáp, công binh,
pháo binh, truyền tin, quân y..Không kể chiến lợi phẩm thu được của
miền Nam (phần lớn đã bán cho Châu Phi), hiện có trên 1000 thiết giáp
T34,54,55,59,62 cộng với 500 xe PT76, nhiều súng đại bác đủ loại, mấy
ngàn súng phòng không, sử dụng hỏa tiễn Sam.
Ngoài lực lượng
chính qui Miền tức là quân khu, còn có chủ lực tỉnh như trung đoàn Bắc
Thái, Gia Định, Sông Bé, Vàm Cỏ..Về lực lượng Dân quân, có tỉnh đội,
huyện đội, xã đội..Lục quân còn có các đơn vị đặc biệt như Đặc Công, Lữ
Đoàn 305 Dù, quân đoàn 559 công binh, sư đoàn 673 cao xạ..
Sau
1975, Hải quân CS.VN có hơn 1000 tàu chiến đủ loại, lớn nhỏ, trong số
này có nhiều tàu của VNCH để lại. Hải phận chia thành năm vùng trách
nhiệm và các Bộ tư lệnh vùng đóng tại Hải Phòng, Vinh, Đà Nẳng, Vũng
Tàu và Rạch Giá. HQ gồm hai Hạm đội: Hàm Tử phụ trách biển bắc (Vịnh
Bắc Việt) và Bạch Đằng có trách nhiệm ở phía nam, tới vịnh Phú Quốc.
Riêng
Không quân có quân số chừng 20.000 người. Ngoài số phi cơ A37,F5, vân
tải, trực thăng..của VNCH bỏ lại, còn có các máy bay chiến đấu MIG 21,
23 - trực thăng võ trang do Liên Xô viện trợ. Tất cả chừng 1000 chiếc,
lập thành các không đoàn oanh tạc, chiến đấu, vận tải, huấn luyện.
BTL/Không quân đóng tại phi trường Bạch Mai (Hà Nội). Năm 1980, quân
đội VN có quân số hơn 2 triệu người, đứng hàng thứ 3 thế giới (Tàu,
Nga, VN, Mỹ).
Mới đây, qua báo chí cho biết VC đã mua của Nga
hằng tỷ quân trang dụng, trong đó có cả máy bay và tàu ngầm. Hởi ôi
quân đội nước ta đời nào cũng hùng mạnh nhưng dưới chế độ Xã Nghĩa, đã
trở thành công cụ phục vụ cho Đảng, bởi vậy đã nhắm mắt để TC bá quyền
chiếm dần lãnh thổ, biển đảo của tổ quốc, tàn sát đồng bào vô tội nhiều
lần, khi họ đang làm ăn ngay chính trên quê hương mình.
+ CUỘC CHẠY ĐUA VÕ TRANG TẠI ĐÔNG NAM Á:
Năm
1997, Thái Lan tiếp nhận chiếc hàng không mẫu hạm Chakri Naruebet do
Tây Ban Nha đóng và là nước đàu tiên tại Nam Á có loại chiến hạm này.
Tuy nhiên niềm mơ ước của Thái Lan đã trôi vào dĩ vãng, khi nuớc này bị
rơi vào cuộc khủng hảng kinh tế chưa tùng có vào năm đó, làm mất giá
đồng bath , chính phủ cạn tiền dự trữ, nếu không có Hoa Kỳ và Quỹ tiền
tệ quốc tế chi viện 17 USD, thì nước này đã xập tiệm. Từ đó chiếc hàng
không mẫu hạm trên, chỉ còn là một biểu tượng để câu khách du lịch, tại
căn cứ hải quân Sattahip cách Bangkok 250 km về phía nam.
Trong
khi đó hai nước Ấn Độ và Pakistan thi đua phát triển vũ khí nguyên tử .
Các nước Nam Hàn , Indonesia, Mã Lai, Singapore..thi nhau mua các loại
máy bay chiến đấu tối tân của Nga, Mỹ, Pháp như Phản lực Su-30,
Awacs,FA-18. Tóm lại khu vực Á Châu hiện nay là thánh địa của cuộc chạy
đua vũ trang, trước sự tác quái của Trung Cộng. Từ năm 1998, Đài Loan
cũng đã chế tạo được các loại hỏa tiển Sky Bow II, đất đối không có tầm
xa, được gắn trên các loại phản lực cơ chiến đấu do Mỹ sản xuất.
Tình
hình thế giới càng thêm xáo trộn căng thẳng, một mặt TC làm tăng giá
dâu thô khiến cho thị trường chứng khoán chao đảo. Mặt khác, sau hai
ngày họp kín, Nga và Trung Cộng lại loan báo là không thay đổi về lập
trường nguyên tử của Bắc Hàn và Ba Tư. Nói rỏ là hai nước này không
đồng ý LHQ dùng biện pháp mạnh, mà chỉ giải quyết bằng ngoại giao. Để
khích động thêm vấn đề quốc tế đang nóng bỏng, TC còn cho biết tháng
6-2006, Hoa Lục sẽ mời TT Ba Tư Ahmedinejah cùng 4 nước Trung Á, Nga
tới dự hội nghị thượng đỉnh tổ chức tại Thuợng Hải, với chủ đích là
dầu. Dù biết đây chỉ là ngón đòn giặc miệng cố hữu của Tàu-Nga, nhưng
Hội đồng Bảo An LHQ qua các nước Hoa Kỳ-Anh-Pháp và Đức, chịu hoản lại
việc thi hành Nghị Quyết trừng phạt kinh tế Iran, nếu nước này không
chịu tuân thủ theo các điều kiện mà Liên Âu và Hoa Kỳ đã đề nghị giải
quyết.
Dù trong chính quyền Mỹ hiện nay vẫn còn ít người cho
rằng TC sẽ không gây chiến, trước khi Thế Vận Hội 2008 tổ chức tại Bắc
Kinh khai diễn. Thật sự đó chỉ là ước đoán bề ngoài, vì mục tiêu mà Hoa
Lục đang theo đuổi là chiếm lĩnh kho năng lượng của thế giới, hiện đang
nổi cộn tại các nước Cộng hòa củ của LX ở Trung Á và quanh biển
Caspienne.Còn vấn đề bom nguyên tử của của Iran cũng phụ thuộc vào việc
nước này đang cùng với Nga, TC tranh giành nguồn năng lượng tại LX cũ,
sau khi họ dã thất bại tại Iraq và bán đảo Ả Rập.
Cuối cùng tổng
kết lại tất cả những lời bàn ra tán vào, tại bất cứ thủ đô nào chăng
nữa, thì các nhà quân sử trên thế giới vẫn không thay đổi lập trường'
Đó là cuộc chiến tranh lớn trong thế kỷ 21 nếu có xảy ra giữa Hoa
Ky-Trung Cộng, thì cũng phải xảy ra tại eo biển Đài Loan. Vì đây là
huyết mạch của mục tiêu TC mong muốn đạt tới, để hoàn thành giấc mộng
năng lương, qua con đường chuyển vận dầu trên biển Thái Bình Dương, mà
hiện nay bất cứ nước nào cũng mơ ước.
Đâu có phải tự nhiên mà
trước khi khai mạc Đại Hội X của Đảng VC, hai phía Mỹ và Trung Cộng đều
tới tắp thăm viếng Hà Nội. Những dấu hiệu tập trận của hai phía diễn ra
liên tục trên Biển Đông và sự Mỹ-Liên Âu hết lòng lôi kéo Ấn Độ vào
liênminh quân sự với mình, đã nói lên cuộc chiến trong tương lai gần ở
đâu và mục đích gì. Sau cùng Hoa Kỳ phản đối dữ dội dự án mà Ấn Độ,
Pakistan đang muốn liên minh với Ba Tư và Nga để đặt đường ống dẫn dầu
khí qua lãnh thổ của mình, cũng nói lên ý nghĩa, cho thấy sự cương
quyết của Hoa Kỳ, ít ra trong lúc này, đối với tham vọng và hiểm họa
của Bắc Kinh, đang vói trăm tay xuống cả thế giới để chiếm hết những gì
người Mỹ đã tốn công sức,tiền bạc và máu xương tạo dựng.
Hoa Kỳ
cho dù đang bị chỉ trích về đối ngoại qua cuộc chiến Iraq nhưng hầu hết
thế giới ngày nay vẫn còn mong đợi sự bảo vệ của lực lượng Mỹ, chống
lại ác mộng từ Nga-Tàu và sự cuồng tín của các lãnh tụ Hồi giáo Iran.
Cái ân hận chính của Tòa Bạch Ốc không phải là tới nay vẫn chưa bình
đinh xong Iraq, mà là đã vội vàng hạ bệ Saddam Hussein, một khắc tinh
có đủ nanh vuốt đối đầu với khủng bố Syria và Iran.
Đó cũng là
lý do người Mỹ nhắm mắt làm ngơ, để cho bọn chóp bu Bắc Bộ Phủ cứ ù lỳ
ngồi thêm ít lâu trên ngai vàng đẫm máu Hà Nội, để tiếp tục tự tung
tham nhũng, làm mất thể diện quốc gia, gây cảnh thê lương nghèo đói cho
dân tộc Việt. Nhưng Mỹ phải duy trì bộ máy quân sự khổng lồ thứ 2 tại
Đông Nam Á, ít ra trong giai đoạn này, cũng chỉ là mướn một tên lính
gát tiền đồn làm vật cản làn sóng đỏ ào ạt kéo về phương Nam, trong lúc
Hoa Kỳ chính thức nhảy vào trận tuyến.
Tất cả đều là lợi dụng
lẫn nhau, bài học của lịch sử muôn đời đâu có thay đổi. Có điều khi
chiến tranh xảy ra, nạn nhân đầu tiên vẫn là tuyệt đại dân chúng VN
nghèo đói. Đây là thảm trạng của một dân tộc anh hùng nhưng tới nay vẫn
còn là một kiếp đời nhược tiểu, biết tới bao giờ mới ngóc đầu lên nổi,
nếu nước ta cứ mãi sống trong kềm kệp gông tù của chế độ cộng sản, mà
ngay tại Trung Cộng cũng đã muốn vứt vào thùng rác, vì quá lạc hậu và
hoang đường.
Xóm Cồn
Tháng 5-2006
MƯỜNG GIANG