Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền
(Phần I)
Năm 1986, khi nhận Giải Hòa Bình Nobel, nhà văn Elie Wiesel đã minh thị cam kết:
“Tôi
thề sẽ không bao giờ im tiếng nếu ở đâu và khi nào con người còn bị đau
khổ và đày đọa. Chúng ta phải nhập cuộc. Trung lập chỉ có lợi cho kẻ
đàn áp. Im lặng là khuyến khích kẻ áp bức. Do đó chúng ta phải can
thiệp. Khi đời sống con người bị đe dọa, phẩm giá con người bị chà đạp,
các biên thùy quốc gia không còn quan trọng nữa. Nơi nào con người bị
hành hạ vì lý do tôn giáo, chính trị hay chủng tộc, nơi đó lập tức trở
thành trung tâm của vũ trụ.”
Từ 3 thập niên Việt
Ðặc biệt là, sau cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Ðông Âu và Liên Xô,
từ
năm 1991 (với vụ án Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế) đến năm 2004 (với vụ án Mục
Sư Nguyễn Hồng Quang) có ít nhất 22 tù nhân chính trị và tù nhân tôn
giáo đã bị bắt giữ, truy tố và kết án về những tội danh giả tạo hay
cưỡng ép như phản nghịch, gián điệp, phá hoại chính sách đoàn kết quốc
gia, tuyên truyền chống nhà nước, lợi dụng quyền tự do dân chủ v.v..
Không tháng nào không thấy những vụ đàn áp khủng bố, hăm dọa sách
nhiễu, điều tra giam giữ hay kết án oan ức các công dân lương thiện có
lòng với đất nước và có dũng cảm đứng lên đòi Tự Do, Công Lý, Dân Chủ
và Nhân Quyền.
Ðể
phản ứng lại, các Chính Phủ và Quốc Hội các nước dân chủ tiên tiến, Các
Hội Bảo Vệ Nhân Quyền trên thế giới, các Nghiệp Ðoàn Ký Giả Không Biên
Cương và các Tổ Chức Văn Bút Quốc Tế đồng thanh cảnh giác nhà cầm quyền
Hà Nội về những vi phạm nhân quyền, đồng thời phản kháng và đòi nhà cầm
quyền phải tôn trọng nhân quyền bằng cách trả tự do cho các tù nhân
lương tâm.
Nếu
nhân quyền có tính toàn cầu, bất khả phân, liên lập và liên quan với
nhau thì sự can thiệp và nhập cuộc của nhân loại văn minh cũng có tính
toàn cầu, thường xuyên, tức thời và đồng bộ.
Ngày nay, theo quan niệm nhà văn Elie Wiesel, Việt Nam đã làm thức tỉnh lương tâm nhân loại và trở thành trung tâm của vũ trụ.
Trình
bày về những vấn đề nhân quyền tại Việt Nam nhằm đề xướng, phát huy,
tôn trọng và thực thi quyền con người tại Việt Nam. Ðồng thời để góp
phần vào việc tìm kiếm các phương thức nhằm loại trừ hữu hiệu những vi
phạm nhân quyền trên thế giới.
Trong
chiều hướng đó, soạn thảo và công bố bản Tường Trình Liên Hiệp Quốc về
vấn đề Nhân Quyền tại Việt Nam không phải chỉ để dành riêng cho người
Việt, mà còn để thúc đẩy các dân tộc và các quốc gia đang trên đường
phát triển tại Á Phi và Châu Mỹ La Tinh hội nhập vào trào lưu dân chủ
hóa và toàn cầu hóa.
Có
như vậy nhân quyền mới được thực sự tôn trọng và thực thi đem lại tự do
hạnh phúc cho con người, hòa giải thân thiện cho các quốc gia, thông
cảm bao dung cho các dân tộc, tiến tới một Thế Giới Ðại Hòa trong tinh
thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị.
Ðây là giấc mơ ngàn đời của nhân loại theo đó người trong bốn biển đều là anh chị em.
Muốn
xây dựng tự do dân chủ cho Việt Nam đường lối hữu hiệu nhất là đấu
tranh cho nhân quyền. Vì nhân quyền là mục tiêu chung của những người
Việt Nam yêu nước, là mẫu số chung để kết hợp lòng người.
Từ
khi con người biết sống hợp quần trong xã hội để thành lập quốc gia,
giữa người dân và quốc gia có những nghĩa vụ hỗ tương phát sinh từ một
khế ước mặc nhiên mệnh danh là khế ước xã hội. Chiếu khế ước này người
dân có nghĩa vụ phải đóng thuế để nuôi dưỡng quốc gia, phải đi lính để
bảo vệ bờ cõi của quốc gia. Ðể đáp lại những hy sinh về sinh mạng và
tài sản của người dân, quốc gia cũng có nghĩa vụ phải bảo đảm cho người
dân những quyền cơ bản như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu
hạnh phúc. Ðó là những dân quyền xuất phát từ tư cách công dân.
Nhân
quyền bao quát hơn và có trước dân quyền. Nhân quyền xuất phát từ nhân
phẩm, từ giá trị bẩm sinh của con người. Ðây là những quyền của con
người như những quyền dân sự chính trị mà cũng là những nhu cầu của con
người như những quyền kinh tế xã hội và văn hóa. Những quyền này xuất
phát từ tư cách con người và tư cách công dân.
Các
nước tự do dân chủ đặt vấn đề nhân quyền toàn diện, gồm cả những quyền
kinh tế xã hội (cơm ăn áo mặc, y tế giáo dục) và những quyền dân sự
chính trị (tự do nhân thân, tự do tinh thần, tự do chính trị).
Kinh
nghiệm cho biết những vấn đề kinh tế xã hội chỉ có thể được giải quyết
thỏa đáng trong chế độ tự do dân chủ. Vì nếu không có một chính phủ dân
chủ thì những lợi ích kinh tế đạt được rồi cũng sẽ bị phe cầm quyền
tước đoạt bằng tham nhũng và lạm quyền.
Năm 1941, tại diễn đàn Quốc Hội Hoa Kỳ, Tổng Thống Franklin Roosevelt đề xướng 4 quyền tự do cơ bản:
1. Tự do ngôn luận.
2. Tự do tín ngưỡng.
3. Quyền được giải thoát khỏi sự túng thiếu.
4. Quyền được giải thoát khỏi sự sợ hãi, sợ hãi do nạn xâm lược bên ngoài và chuyên chế bên trong.
Lời
Mở Ðầu Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng nhắc lại 4 quyền cơ bản này:
“Việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người đều có quyền tự do ngôn
luận, tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hãi và sự khốn cùng,
được tuyên dương là nguyện vọng cao cả nhất của con người.”
Chiếu
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc các quốc gia hội viên cam kết cộng tác với
Liên Hiệp Quốc trong việc tôn trọng và thực thi nhân quyền trên toàn
cầu. (Ðiều 55-56)
Vì
nhân quyền có tính toàn cầu, bất khả phân, liên lập và liên quan với
nhau, quốc gia có trách nhiệm tiên khởi và có nghĩa vụ phải thực sự thi
hành đầy đủ và đồng đều nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất
cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, tôn giáo, chính kiến,
hay thành phần xã hội.
Với
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, vấn đề nhân quyền đã được quốc tế hóa. Từ
nay các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc không thể chủ trương rằng việc
họ thủ tiêu, tàn sát hay đàn áp các công dân của họ chỉ là vấn đề nội
bộ!
Ðể kỷ niệm ngày ban hành Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, ngày 10 tháng 12 mỗi năm được gọi là Ngày Quốc Tế Nhân Quyền.
Năm
1994, Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Nghị Quyết Chung lấy ngày 11
tháng 5 mỗi năm là Ngày Nhân Quyền cho Việt Nam. Nghị Quyết này đã được
Tổng Thống Hoa Kỳ phê chuẩn và ban hành để trở thành Luật Công Pháp
ngày 25-5-1994 (số 103. 258), với nội dung chủ yếu như sau:
“Quốc Hội Hoa Kỳ yêu cầu Chính Phủ Hà Nội:
1. Phóng thích tất cả các tù nhân chính trị.
2.
Bảo đảm cho nhân dân Việt Nam quyền bình đẳng trước pháp luật, không
phân biệt tín ngưỡng, chính kiến, hay đoàn thể trong quá khứ.
3. Phục hồi các nhân quyền cơ bản như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại và tự do lập hội.
4. Bãi bỏ chế độ độc đảng.
5.
Công bố một phương án và lịch trình tổ chức tổng tuyển cử tự do và công
bằng dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc để nhân dân Việt Nam được hành
sử quyền dân tộc tự quyết.
Lập
trường chung thủy của Nhân Dân và Quốc Hội Hoa Kỳ đem lại hứng khởi cho
Nhân Dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh đòi Tự Do, Công Lý, Dân Chủ và
Nhân Quyền.
LUẬT QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN
Nhân
quyền và những quyền tự do cơ bản được quy định trong Luật Quốc Tế Nhân
Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành sau Thế Chiến 2. Mục đích để đề cao
nhân phẩm, đem lại tự do hạnh phúc cho con người, hòa giải thân thiện
cho các quốc gia, thông cảm bao dung cho các dân tộc, tiến tới một Thế
Giới Ðại Hòa trong tinh thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị.
Luật
Quốc Tế Nhân Quyền bao gồm những điều khoản nhân quyền trong Hiến
Chương Liên Hiệp Quốc (1945), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) và
Phụ Ðính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998), Công Ước Quốc Tế về
những Quyền Dân Sự và Chính Trị (1966) và Công Ước Quốc Tế về những
Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa (1966). Ngoài ra còn có hơn 50 Công Ước
bổ túc và khai triển.
Luật
Quốc Tế Nhân Quyền là văn kiện pháp lý quan trọng nhất trong thời đại
chúng ta. Hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền là hai hiệp ước quốc tế quan
trọng nhất trong lịch sử loài người.
Bước
sang thiên niên kỷ mới, chúng ta kỳ vọng rằng, rồi đây bạo lực sẽ
nhường chỗ cho thuyết phục, chiến trường sẽ nhường chỗ cho hội trường
và chiến tranh thế giới sẽ bị thay thế bởi luật pháp quốc tế. Trong
niềm tin tưởng đó chúng ta công bố bản Tường Trình Liên Hiệp Quốc về
Vấn Ðề Nhân Quyền tại Việt Nam.
Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng Quyền Dân Tộc Tự Quyết và 26 Nhân Quyền cơ bản.
QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT
Quyền thiết yếu trong chế độ dân chủ là quyền dân tộc tự quyết.
Dân
tộc tự quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ chính
trị của quốc gia, và tự do lựa chọn các đại biểu của mình trong chính
quyền để thực thi chế độ đó.
Dân
tộc tự quyết gồm có quyền tự do tuyển cử và quyền tham gia chính quyền
để thiết lập chế độ dân chủ pháp trị. Lời Mở Ðầu Tuyên Ngôn Quốc Tế
Nhân Quyền cũng nhận định rằng: “Ðiều cốt yếu là nhân quyền phải được
một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải
nổi dậy chống áp bức và bạo quyền.”
CÁC NHÂN QUYỀN CƠ BẢN
Năm
1977, khi gia nhập Liên Hiệp Quốc, Việt Nam cam kết thi hành Hiến
Chương Liên Hiệp Quốc (1945) và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948).
Năm 1982 Việt Nam tham gia hai Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự
và Chính Trị và về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa, nên có nghĩa
vụ pháp lý phải tôn trọng các Công Ước này. Ðó là các hiệp ước quốc tế
đã được quốc hội phê chuẩn nên có giá trị pháp lý cao hơn luật pháp và
hiến pháp quốc gia.
Ngoài Quyền Dân Tộc Tự Quyết, Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng 26 Nhân Quyền Cơ Bản chia thành 4 loại như sau:
1) Những quyền dân sự cho bản thân con người (hay Quyền Tự Do Nhân Thân).
2) Những quyền dân sự của con người trong đời sống xã hội (hay Quyền An Cư).
3) Những quyền kinh tế xã hội và văn hóa (hay Quyền Lạc Nghiệp).
4) Những quyền tự do tinh thần và tự do chính trị (hay Quyền Tự Do Dân Chủ).
Tự do nhân thân thuộc về thân.
Tự do tinh thần và tự do chính trị thuộc về tâm.
Cùng với những quyền an cư và lạc nghiệp, mục tiêu tối hậu của nhân quyền là tạo điều kiện cho con người được thân tâm an lạc.
QUYỀN TỰ DO NHÂN THÂN
Ðể kết nối 8 Quyền Tự Do Nhân Thân chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng:
Con
người có nhân quyền từ khi mới sinh. Cha mẹ sinh ra ta và cho ta Quyền
Sống. Tòa Án Hình Sự Quốc Tế trừng phạt những tội chống nhân loại như
thủ tiêu cá nhân và tàn sát tập thể.
1) Muốn sống cho ra sống phải có tự do thân thể và an ninh thân thể.
2) Có tự do thân thể thì Không Bị Nô Lệ hay Nô Dịch (như nô lệ tình dục).
3) Có an ninh thân thể thì Không Bị Tra Tấn Hành Hạ.
4) Có an ninh thân thể thì Không Bị Giam Giữ Ðộc Ðoán.
5) Nếu bị bắt giam và bị truy tố ra tòa thì Ðược Xét Xử Công Bằng.
6)
Nếu sự xét xử không công bằng và bị tuyên phạt oan ức thì Ðược Tòa Án
Bảo Vệ bằng cách buộc nhà nước phải bồi thường thiệt hại.
7)
Tòa Án bảo vệ con người căn cứ vào luật pháp. Luật Pháp cũng Bảo Vệ Con
Người. Luật Pháp không công nhận các tội giả tạo như “tuyên truyền
chống nhà nước” hay “lợi dụng quyền tự do dân chủ”.
8)
Luật pháp bảo vệ con người một cách đồng đều không phân biệt kỳ thị.
Mọi người đều có tư cách pháp nhân để được Quyền Bình Ðẳng Trước Pháp
Luật.
Ðó là 8 quyền dân sự cho bản thân con người mệnh danh là Quyền Tự Do Nhân Thân.
QUYỀN AN CƯ
Ðể kết nối 6 Quyền An Cư chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng:
1) Quyền An Cư trước hết là quyền tự do cư trú và đi lại. Chính sách quản chế hành chánh phải bị bãi bỏ.
2) Muốn có một đời sống an cư trong xã hội, đời tư và danh dự của con người phải được tôn trọng. Ðó là quyền riêng tư.
3) Quyền riêng tư áp dụng cho bản thân và gia đình vì con người có quyền kết hôn và lập gia đình.
4)
Gia đình là một đơn vị của xã hội. Con người sống trong quốc gia xã hội
và được quốc gia ban cho quyền quốc tịch để trở thành công dân.
5. Nếu bị quốc gia đàn áp sống không nổi, con người có quyền rời bỏ quốc gia để đi tỵ nạn tại các quốc gia khác.
6. Muốn bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống an lạc, con người phải có quyền tư hữu.
Ðó là 6 quyền dân sự của con người trong đời sống xã hội mệnh danh là Quyền An Cư.
QUYỀN LẠC NGHIỆP
Ðể kết nối 8 Quyền Lạc Nghiệp là những quyền kinh tế xã hội và văn hóa, chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng:
1. Muốn lạc nghiệp phải có cơ hội hành nghề và được quyền làm việc.
2.
Khi làm việc phải được trả lương tương xứng và công bằng. Ðể có bình
đẳng giao ước phải công nhận cho công nhân quyền tự do nghiệp đoàn và
quyền đình công.
3. Làm việc để có mức sống khả quan cho bản thân và gia đình.
4. Nếu không thể làm việc được, không thể tự lực mưu sinh được, thì được quyền an sinh xã hội.
Quyền
an sinh xã hội còn áp dụng cho các sản phụ, hài nhi và thiếu nhi trong
chính sách bảo trợ gia đình. Các gia đình có con nhỏ và có lợi tức yếu
kém được hưởng trợ cấp tài chánh và trợ cấp y tế.
Quyền y tế miễn phí được phổ cập cho tất cả mọi người trong các nước dân chủ xã hội Bắc Âu.
Giáo dục tiểu học phải được cưỡng bách và miễn phí. Giáo dục trung học và đại học cũng phải tiến dần đến miễn phí.
Có
giáo dục mới có văn hóa. Về mặt kinh tế, tác quyền của văn nghệ sĩ và
các sáng chế phát minh của nhà khoa học phải được quốc gia bảo vệ. Về
mặt tinh thần, tự do sáng tác của văn nghệ sĩ và tự do nghiên cứu của
nhà khoa học phải được quốc gia tôn trọng.
Từ đó chúng ta bước sang những Quyền Tự Do Tinh Thần và Tự Do Chính Trị mệnh danh là Quyền Tự Do Dân Chủ.
(Còn tiếp)