Cho đến nay, người Việt tha hương chúng ta ở hải ngoại thường tổ chức
những buổi lễ mang nhiều dân tộc tính như Lễ Tổ Tiên vào dịp Tết nguyên
Đán, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ Quốc Khánh v.v...nhằm mục đích duy trì
phong tục cổ truyền của người Việt tại nhiều địa phương ở các quốc gia
đang định cư.
Trong
khuôn khổ bài này, người viết (qua sự hiểu biết rất hạn hẹp của mình,
chắc chắn không tránh khỏi sơ sót mong quí bậc trưởng thượng, quí vị
thức giả bổ túc cho) xin được giới hạn, chỉ giới thiệu ngày Lễ Giỗ Tổ
Hùng Vương và nói về ý nghĩa ngày lễ này đến quí đồng hương, một ngày
lễ mà hầu hết chúng ta đều nghe nhắc đến sau Tết Nguyên Đán, sau khi
Tết vẫy tay giả từ chúng ta và hẹn đến Xuân sau.
Đối với người
Việt tha hương nói chung thì tất cả các ngày Lễ Dân Tộc ở nước ngoài
còn quan trọng hơn khi còn ở quê nhà, lí do là vì qua những buỗi lễ này
chúng ta có dịp nối liền quá khứ với hiện tại nhưng không quên tương
lai. Trong những ngày đại lễ như Lễ Tổ Tiên vào dịp Tết hay Giỗ Tổ Hùng
Vương, gia đình, bạn bè, thân bằng quyến thuộc mới có cơ hội nhắc nhở
con cháu, đồng hương nhớ về cội nguồn, ôn lại lịch sử và tưởng nhớ đến
công ơn của các bậc tiền nhân, của ông bà tổ tiên khi giải thích cho
con cháu biết tại sao phải lễ lạy trước bàn thờ đèn hương nghi ngút.
Bởi lẽ, nếu không tạo được những dịp như vậy tại hải ngoại nói riêng
thì ... có lẽ chỉ trong vòng hai hay ba thập niên nữa, các thế hệ kế
tiếp chúng ta sẽ không màng nhắc đến và trong tương lai chắc chắn „ các
ngày lễ dân tộc „ sẽ bị lãng quên. Ngoài ra, qua các buổi lễ như Lễ Tổ
Tiên trong dịp Tết hay Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương v.v..., không những để
tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên thôi mà chúng ta còn tạo ra được cơ hội
cho giới trẻ (sinh ra và lớn lên ở xứ người, ít nhiều cũng đã hấp thụ
văn hóa người !) biết về niềm tự hào văn hóa của dân tộc Việt.
Như
chúng ta rõ, hàng năm cứ đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, người Việt tự do
khắp nơi trên thế giới, nếu hoàn cảnh cho phép, đều tổ chức Lễ Giỗ Tổ
Hùng Vương rất trọng thể, mục đích để tưởng nhớ đến Quốc Tổ và các bậc
Tiền Nhân đã có công dựng nước và giữ nước, theo đúng tinh thần và đạo
lý được đúc kết qua câu đối tại đền Hùng:
Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Đà,
Non nước vẫn quy về đất Tổ,
Văn minh đương buổi mới, con Hồng, cháu Lạc,
Giống nòi còn biết nhớ mồ Ông.
* Sự tích Hùng Vương:
Theo
truyền thuyết thì cháu ba đời của vua Thần Nông, vua Đế Minh đi tuần
thú phương Nam, đến dẫy núi Ngũ Lĩnh gặp một nàng Tiên (Vụ Tiên), lấy
Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục. Sau Lộc Tục nối ngôi lên làm vua vào năm 2879
trước Công Nguyên (tính cho đến nay 2004 cách nhau 4883 năm), xưng đế
hiệu là Kinh Dương Vương và lấy Quốc Hiệu là Xích Quỉ. Cổ sử Việt ghi
chép, Lộc Tục là vị vua đầu tiên của Việt Nam.
Nước Xích Quỉ,
Bắc giáp hồ Động Đình, phía Nam thì giáp với Hồ Tôn (tức Chiêm Thành
thưở xưa), còn Nam thì giáp biển Nam Hải và phía Tây thì giáp đất Ba
Thục (tức tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay).
Cũng theo Cổ sử
Việt ghi, một hôm Kinh Dương Vương (KDV) đi ngoạn cảnh ở hồ Động Đình
gặp được một người thiếu nữ đẹp tuyệt trần với tên Long Nữ, con gái của
Động Đình Quân.
Vua Kinh Dương Vương kết duyên với Long Nữ, sinh
ra được người con trai đặt tên là Sùng Lâm. Sùng Lâm về sau ngối ngôi
cha lên làm vua, xưng hiệu là Lạc Long Quân (LLQ). LLQ lấy con gái của
vua Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra một bọc, cho là điềm bất thường, chứa 100
trứng, nở ra trăm người con trai. Sau đó hai vợ chồng không thể sống
chung với nhau được nên chia tay.
LLQ nói với vợ rằng:
‘Ta là giống Rồng đứng đầu Thủy Tộc, còn nàng là giống Tiên sống trên
đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con cái nhưng thủy hỏa tương
khắc, dòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được nên nay đành phải
chia ly. Ta dẫn 50 con về thủy phủ chia trị các xứ, còn nàng thì dẫn 50
đứa con về ở trên đất, chia nước mà trị!’
Về sau, người con
trưởng của LLQ nối ngôi cha và xưng là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn
Lang, kinh đô đặt tại Phong Châu, thuộc Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phú ngày
nay.
Như vậy qua sử liệu, gia tộc đầu tiên lãnh đạo dân tộc Việt
là họ Hồng Bàng, kế truyền ngôi cho nhau qua hai mươi đời vua từ Kinh
Dương Vương đến LLQ và 18 đời Hùng Vương kế tiếp từ năm 2879 kéo dài
cho đến 2621 thì bị nhà Thục cướp ngôi vua năm 258 trước Công Nguyên.
Dân chúng đã lập đền thờ để tưởng nhớ và đền thờ Hùng Vương hiện nay
vẫn còn ở núi Nghĩa Linh, còn gọi là núi Hùng Sơn hay Nghĩa Lương,
thuộc Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú. Và ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày 10
tháng 3 Âm Lịch, được truyền lại cho đến nay.
* Đặc tính người Việt:
Dựa theo sử liệu và như đã trình bày ở trên, người Việt chúng ta thuộc dòng giống Rồng Tiên!
Nói
đến Rồng thì giống Rồng tượng trưng cho dương tính, cho uy quyền, sức
mạnh long trời lở đất, ẩn hiện và biến hóa không lường. Còn Tiên thì
tượng trưng cho âm tính, cho cái vẽ đẹp ôn nhu hài hòa và nhân từ...
Con cái là kết hợp của hai giống Rồng-Tiên nên từ đó đã đúc tạo cho
người Việt có đầy đủ các đặc tính: khỏe đẹp, biết tình biết lý, dũng
cảm, khôn ngoan, biết đâu là quyền lợi nhưng không quên nghĩa vụ.
Qua
quá trình dựng nước và giữ nước, giòng giống Rồng-Tiên đã áp dụng thành
công một triết lý mang tính cách, truyền thống đặc biệt của dân tộc. Đó
là triết lý ‘Vuông Tròn“ qua sự tích và ý nghĩa của ‘Bánh Chưng, Bánh
Dầy“. Ý nghĩa của triết lý này được thể hiện rõ nét và nỗi bật trong
đời sống của dân tộc Việt Nam (VN) ta!
Nhân đây người viết cũng xin được nhắc sơ qua nguồn gốc của triết lý vuông tròn.
* Sự tích ‘Bánh Chưng, Bánh Dầy“:
Theo
truyền thuyết, sau khi vua Hùng phá được giặc Ân, muốn truyền ngôi lại
cho con, nhưng chưa biết chọn ai bèn cho triệu hai mươi vị quan lang và
công chúa lại mà phán rằng:
‘Ta muốn truyền ngôi lại cho kẻ
nào làm ta vừa ý, cuối năm nay đem trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên
vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi“.
Những
người con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp nơi. Duy chỉ có vị
công tử thứ 18 là Lang Liêu (LL) vì mẹ chàng trước đó bị vua Hùng ghẻ
lạnh, cảm thấy cô đơn buồn tủi mà chết nên không có ai giúp đỡ và chẳng
biết xoay trở ra sao. Một đêm kia LL ngủ nằm mơ được thần nhân chỉ bảo
cho cách làm bánh chưng bánh dầy và LL lấy gạo nếp làm bánh, một cái
hình vuông và một cái hình tròn, giữa có nhân và dùng lá bọc bên ngoài.
Khi vua cha hỏi đến ý nghĩa cái bánh thì Lang Liêu giải thích đúng theo
lời thần dặn rằng cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng cho trời
đất và dùng lá bọc ở ngoài, bên trong (nhân) là mỹ vị ngụ ý để nói lên
công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ! Vua cha rất hài lòng và sau đó
truyền ngôi lại cho Lang Liêu.
* Ý nghĩa Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương:
Qua
bao thăng trầm của lịch sử, nhất là trước tham vọng của phương Bắc luôn
luôn tìm cách thôn tính, đô hộ và đồng hóa của họ, dân tộc ta vẫn tồn
tại! Chúng ta vẫn là người Việt, vẫn duy trì nền văn hóa Việt vốn mang
đầy tính đặc thù của dân tộc ta, một dân tộc bất khuất có truyền thống
dựng nước và giữ nước, chống ngoại xâm Tàu và Pháp.
Dưới thời
đại Hùng Vương nói chung, dân tộc ta rất tiến bộ, có tinh thần dân bản
và đoàn kết. Từ ngàn xưa, dân ta đã biết cách dẫn thủy nhập điền khai
thác ngành nông nghiệp, biết phá rừng đốn nương làm rẫy, biết gieo mạ
cấy lúa, biết dùng lúa gạo và khoai củ làm nông sản chính, đã biết dùng
bếp nấu rượu, biết lấy sớ vỏ cây dệt vải, may quần áo; biết lấy cỏ năn
để lác dệt làm chiếu nằm, biết nấu ăn bằng ống tre tươi, biết săn thú
rừng, đánh cá và cũng đã biết làm nhà sàn cao để tránh thú dữ, biết gỏ
vào cối đá làm hiệu khi có ai chết hay lúc gặp hiểm nguy để bà con,
hàng xóm láng giềng hay mà đến giúp. Ngoài ra, vua Hùng còn dạy cho
những người sinh sống bằng nghề biển cắt tóc ngắn, chỉ cách xâm mình
gọi “Văn Thân“ trông giống như giao long, để tiện bề bơi lội. Quốc Tổ
Hùng Vương còn dạy cho dân chúng, từ một nếp sống cổ sơ đã tiến bộ rất
nhanh, từ thời ký chỉ có „đồ đá đập“ đến ‘đồ đá mài“ và sau đến ‘đồ kim
khí“, dạy dân biết cách đúc đồng, đúc sắt để chế tạo ra đồ dùng, làm
dụng cụ sản xuất nông nghiệp, binh khí v.v... nên trong thời đại đó mới
có sự tích Phù Đổng Thiên Vương!
Về mối liên hệ hay nói rõ hơn
về sự tương quan giữa Vua và tôi (dân) trong thời kỳ Hùng Vương thì vua
chủ trương đặt chữ cho dân, vỗ về khuyến dụ dân khiến cho họ làm ăn yên
ổn dựa trên tiêu chuẩn „vua tốt dân nhờ, vua ác thì dân nỗi loạn, vua
mạnh thì bờ cỏi yên lành“, vững bền và nếu vua không được dân phục thì
nên nhường ngôi cho người khác.
Xa hơn nữa, mối liên hệ nói trên
còn thể hiện tình gần gũi, thương yêu nhau. Theo truyền thuyết thì vua
Lạc Long Quân là một ông vua có thần thuật trị được yêu quái và hết
lòng thương yêu, bảo bọc nhân dân. Khi có nguy cấp, dân kêu cứu với vua
‘Bố đi đàng nào mà không đến cứu chúng con!“ thì vua từ thủy phủ hiện
đến để giải quyết ngay tại chỗ các vấn đề cho dân. Như vậy chứng tỏ dân
ta vốn đã có truyền thống thương yêu đùm bọc nhau từ ngàn xưa rồi.
Lối sống ‘Bầu ơi, chung giàn“ quí trọng tình nghĩa đồng bào đã xuất phát từ thời Hùng Vương!
Ngày
nay, sau biến cố 30.4.1975, chúng ta, những người Việt tha hương, hiện
đang định cư khắp năm châu, được sống trong tự do, có đầy đủ tiện nghi
về vật chất nhưng chúng ta không quên bà con, thân nhân (vì thế đã
chuyển về VN hàng năm trên 3 tỉ Mỹ Kim để giúp đỡ, chưa kể đến những
cuộc lạc quyên gửi về VN giúp nạn nhân bão lụt v.v…trong hàng chục năm
qua!) và cũng không quên đồng hương, bạn bè ở quê nhà đang thao thức,
khắc khoải muốn có một cuộc sống như chúng ta ở hải ngoại đang sống nên
CĐNVTNCS đã và đang cùng với các đoàn thể tôn giáo như Tin Lành, Phật
Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo và Thiên chúa Giáo không nằm dưới sự chỉ đạo
của nhà nước CS, cùng với các chiến sĩ dân chủ ở quốc nội và hải ngoại
đứng lên tranh đấu đòi chính quyền CSVN phải tôn trọng nhân quyền, tự
do tôn giáo, trả tự do cho những vị lãnh đạo tinh thần đang bị bắt giam
và quản thúc tại Việt Nam! Người Việt nói chung, từ trong cũng như ở
nước ngoài luôn hằng mong ước và cầu nguyện cho đêm đen đọa đầy ở quê
nhà sớm trôi qua, để dân tộc ta, đất nước ta được sống trong ấm no,
hạnh phúc. Mong nước VN ta hùng mạnh, phú cường để người dân thụ hưởng
cái ánh sáng bình minh của tự do, dân chũ, một nền dân chủ như ở các
nước Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Thụy Điển, Úc v.v...
Đi ngược lại dòng
lịch sữ, chúng ta có thể tự hào nói rằng chúng ta đã thừa hưởng phần
nào di sản của tiền nhân. Chúng ta có lối suy nghĩ và sống rất Việt Nam
như: thủy chung có trước có sau, có tình có lý, biết lúc nào cương và
lúc nào nhu, có vươn có cuộn và trung hiếu làm nền. Thành ra, giỗ Hùng
Vương không những mang ý nghĩa tôn vinh mà còn có ý nghĩa nhắc nhở,
thúc đẩy người Việt tị nạn nêu cao tinh thần Hùng Vương trong cuộc sống
ở hải ngoại, vì đồng bào ruột thịt trong nước, vì Tổ quốc VN mến yêu và
nhất là trong thời đại hiện tại bước sang thế kỷ 21, một thời đại đang
có những biến chuyển rất ư là thuận lợi cho trào lưu hòa bình, dân chủ,
hợp tác phát triển toàn cầu hãy nắm lấy thời cơ mạnh dạn đứng lên tranh
đấu đòi chính quyền CSVN phải tôn trọng dân chủ , nhân quyền, tự do tôn
giáo cho Việt Nam.
Chính vì vậy, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương hàm chứa
một ý nghĩa rất quan trọng, không những chúng ta đốt ngọn lữa Hùng
Vương bừng sáng lại và sống mãi trong tâm thức thôi mà chúng ta còn thể
hiện được tình cảm của mình bằng những hành động rất cụ thể, nói lên
tinh thần đoàn kết, hợp tác trong mọi sinh hoạt của các hội đoàn và
cộng đồng người Việt tự do.
Chúng ta có đoàn kết, bạn bè mới
kính nể, không những kẻ thù hay những nhóm, cá nhân có lề lối sinh hoạt
riêng rẻ mà người dân của quốc gia cho chúng ta tạm dung mới kiêng sợ,
mới đánh giá trị tập thể chúng ta cao hơn. Lúc đó tiếng nói của người
Việt lưu vong mới có nhiều giá trị hơn vì đó là tiếng nói của một tập
thể có sức mạnh thật sự và từ đó mới hy vọng sẽ góp phần quan trọng
trong việc củng cố, phát triển Cộng Đồng Người Việt Tự Do (CĐNVTD) ở
hải ngoại và xa hơn nữa, khi mà tiếng nói của cộng đồng chúng ta đã
mạnh thì mới vang dội xa hơn và sẽ đóng góp tích cực vào công cuộc đổi
mới quê hương Việt Nam.
Riêng tại Mỹ, người Việt tị nạn đã
cùng với người bản xứ cứu giúp nạn nhân vụ không tặc 11.9.2001 và gần
đây nhất qua cơn bão Katrina, CDNVTD nói chung, đặc biệt tại
Houston/Texas nói riêng đã sốt sắng giúp đở đồng hương lâm nạn di tản
về đây. Tinh thần lá lành đùm lá rách, hay nói theo tinh thần Hùng
Vương ‘bầu ơi, chung giàn“ của CĐNVTD dành cho đồng hương VN nói riêng
đã làm cho chính quyền địa phương tại Houston/Texas thán phục, kiêng nể
và đã ban khen CĐNVTNCS chúng ta.
Thêm một vinh dự khác để
NVTNCS đáng hãnh diện là gần đây cựu Tổng Thống Mỹ George H.W. Bush lên
tiếng ca ngợi cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Mỹ không những
đã tích cực đóng góp vào sự thịnh vượng của nước Mỹ mà còn chia sẻ khó
khăn của quốc gia này, qua việc cứu trợ nạn nhân trận bão Katrina vào
cuối tháng 8.2005.
Và cái vinh dự rất lớn đối với người Việt
là một số vị đại diện đã được cựu Tổng Thống Mỹ tiếp xúc tại văn phòng
riêng của cựu TT Bush hôm 01.03.2006 vừa qua, vinh danh cộng đồng người
Việt tị nạn tại Houston chính là kết quả đi từ sự đoàn kết của chúng ta
nói trên, điều mà chắc chắn đã và sẽ làm cho người Mỹ và các cộng đồng
bạn kính nể cũng như có một cái nhìn khác về CĐNVTNCS chúng ta vậy!
Nếu
Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản (CĐNVTNCS) phối hợp làm được, tổ
chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm, ở Âu Châu (Đức, Bỉ, Pháp, Thụy Sĩ,
Anh …) nói riêng và tại các quốc gia khác trên thế giới nói chung, tại
những nơi có đông người Việt tị nạn CS định cư, chúng ta có thể biến
đổi cái rủi từ ngày tháng tư đen 75, cái rủi của những người xa xứ lưu
vong thành cái may và nối tiếp con đường của tiền nhân, của triều đại
Hùng Vương hầu từ đó tạo nên được một khung trời VN mới tại hải ngoại
qua những CĐNVTNCS mẫu mực, đoàn kết, phát triễn không ngừng, qua những
sinh hoạt phản ảnh hình thái văn hóa rất Việt Nam ngay trên mãnh đất
tạm dung này để chúng ta hiên ngang, ngạo nghễ sánh vai cùng các cộng
đồng của những sắc tộc khác.
Và cũng từ đó, CĐNVTNCS chúng ta,
vốn đã đào tạo rất nhiều nhân tài từ hơn hai thập niên qua, sẽ lớn mạnh
và dồi dào thêm về nhân sự, thành phần trí thức trên phương diện khoa
học kỹ thuật, tài chánh v.v... và đây sẽ là những nhân tố rất quan
trọng góp phần xây dựng một nước Việt Nam tự do, dân chủ, phú cường
trong tương lai, một điều mà có lẽ tất cả người Việt ai ai cũng hằng
mong đợi!
Đi từ ước mơ này, xin tất cả hãy tiếp tay nhau, cùng
góp sức để chúng ta đốt sáng lại ngọn lữa và đề cao tinh thần Hùng
Vương. Đối với chúng tôi, những người có tuổi, thuộc giới cao niên,
chúng tôi mãn nguyện lắm rồi vì ít ra chúng tôi còn được nhìn tận mắt
di sản Việt Nam tươi sáng. Còn riêng đối với thế hệ trẻ, qua đó anh chị
em trẻ sẽ hiểu thêm được lịch sữ và truyền thống dân tộc Việt để có thể
tự đào luyện cho chính mình một nếp sống dựa trên tinh thần Hùng Vương,
để mai sau giới trẻ sẽ tự hào, hãnh diện biết chừng nào khi đất giàu
dân mạnh, khi nhìn thấy con đường tương lai của chính mình, thế hệ hậu
duệ của dân tộc và đất nước VN sẽ thênh thang rạng rỡ!
Chính
vì vậy, người viết (với khả năng rất hạn hẹp của mình) thành khẩn kêu
gọi quí vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, quí vị lãnh đạo các hội
đoàn, tổ chức và đảng phái quốc gia, quí bậc trưởng thượng và đồng
hương tùy khả năng của mình, cổ xúy và càng tốt nếu cùng chung sức với
ban tổ chức đóng góp cho ngày Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, làm sống lại tinh
thần Hùng Vương của tiền nhân ở hải ngoại này hàng năm, nhằm mục đích
xây dựng Cộng Đồng Người Việt Tự Do chúng ta mạnh hơn, chặt chẻ hơn hầu
từ đó có thể đáp ứng được nhu cầu của CĐNVTD ở hải ngoại nói riêng và
những biến chuyển thời sự quốc tế liên quan đến Việt Nam, nói chung.
Có
được như thế thì chúng ta mới giương cao tinh thần Hùng Vương trên quê
hương thứ hai của mình. Và có được như vậy, người Việt lưu vong mới thể
hiện được cái ý nghĩa tuyệt vời ‘đoàn kết, bầu ơi chung giàn ‘ của ngày
Giỗ Tổ Hùng Vương, 10 tháng 3 Âm Lịch!
Lê Hoàng Thanh
(Mùa Xuân 2006, nhân ngày Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương)
* Tài liệu tham khảo: Khai quật kho tàng Cổ Sử Hùng Việt (BS Nguyễn xuân Quang).