LTS: Tôn Vân Anh, sáng lập viên nhóm Cầu Vồng ở Warsaw, Ba Lan, phỏng
vấn GS Đoàn Viết Hoạt nhân dịp GS đến Warsaw để vận động dân chủ hóa
Việt Nam. Bài này thực hiện cuối năm 2005 và lưu ở trang
http://www.doanviethoat.org/Data/NewsVN/2006_Jan_TVA_pv_TudoTrLaoTu.htm,
được nhóm thân hữu của GS Đoàn Viết Hoạt gửi tới VB.
Tôn
Vân Anh: Những đau thương mà gia đình ông phải gánh chịu là biểu tượng
rất đặc trưng cho lịch sử cận đại Việt Nam. Dòng họ của ông đã đứng lên
đối chọi với mọi hình thức nô lệ, từ đối đầu thực dân tới chống chọi
cường thù nội bang. Riêng ông thì là người sáng lập và tham gia trực
tiếp vào phong trào đấu tranh đòi độc lập, đồng thời là nhà phân tích
gia về các hiện tượng chính trị, xã hội. Theo cách đánh giá của ông thì
có thể đặt dấu bằng giữa nô tù của ngoại bang và nô tù nội bang hay
không? Giữa hai hình thái độc tài đó có gì giống và khác nhau? Chúng có
những ảnh hưởng như thế nào vào đời sống xã hội?
- Gs. Đoàn Viết
Hoạt: Tôi không muốn dùng cụm từ "đòi độc lập" đối với trường hợp Việt
Nam hiện nay. Từ này nên dành cho tình trạng dân tộc bị đô hộ bởi ngoại
bang. Ngày nay, chúng ta đòi tự do dân chủ và tôn trọng nhân quyền, đối
diện với kẻ thù nội bang là chính quyền độc tài không tiếp thu tiếng
nói của người dân. Nhưng nếu nói về tình trạng nô tù và tình trạng độc
tài thì chúng ta có thể so sánh được, và tất nhiên có cái khác mà cũng
có cái giống giữa độc tài và nô tù ngoại bang và nội bang. Cái giống
nhau là tình trạng thiếu tự do, tuy nhu cầu tự do này phần nào được
thỏa mãn trong các nhóm cộng đồng được hình thành một cách tự nhiên.
Người
dân hiện được tự do làm ăn sinh sống hơn cách đây 15 năm khi còn chế độ
kinh tế chỉ huy hoàn toàn quốc doanh. Nhưng dưới chế độ thực dân ngoại
bang Pháp người dân cũng đã có quyền tự do kinh doanh rồi, mà nhà nước
thực dân lúc đó giữ độc quyền kinh doanh còn ít hơn nhà nước cộng sản
bây giờ. Còn về sự tự do văn hóa tư tưởng thì hai bên không khác nhau
bao nhiêu. Mọi tư tưởng chống đối lại, thậm chí chỉ cần khác biệt với
nhà nước thực dân lúc đó, và nhà nước cộng sản hiện nay, đều bị cấm
tuyệt, và những ai phổ biến các tư tưởng đó đều bị cầm tù. Tính chất
độc tài giống nhau đến độ người ta hầu như có thể sử dụng lại những bài
viết đả kích thực dân Pháp vào đầu thế kỷ 20 của Nguyễn Ái Quốc cho chế
độ CS bây giờ, đầu thế kỷ 21, mà chỉ cần đổi từ ngữ 'thực dân' bằng từ
ngữ 'cộng sản'.
Cũng không có tự do báo chí, không có tự do
hội họp. Mà nếu so sánh kỹ hơn một chút, chúng ta thấy chế độ thuộc địa
ở Nam kỳ có khi lại còn tự do hơn, vì có nhiều đảng phái chính trị được
hoạt động, và các chính trị gia (như Phan chu Trinh, Phan Văn Hùm…),
trong một thời gian khá dài, đựợc đi diễn thuyết tự do trước công
chúng, kể cả viết báo phê phán các chính sách của Pháp ở Việt nam.
Ảnh
hưởng của tình trạng độc tài và nô tù này như nhau: làm cho Việt Nam
kém phát triển. Kể từ hơn một trăm năm nay, cho đến đầu thế kỷ 21 này,
Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chậm tiến. Theo các chuyên gia
quốc tế, Việt Nam phải phát triển với tốc độ hai con số (trên 10%) mỗi
năm thì 15-20 năm (sau nhiều thế hệ) nữa mới hy vọng tiến bằng những
nước trong khu vực. Kéo dài tình trạng độc tài chính trị và độc đoán tư
tưởng như hiện nay thì 20 năm nữa nước ta vẫn là một nước chậm tiến,
theo đuôi các nước khác trong khu vực như hiện nay.
TVA: Để có
thể có được lòng bất khuất như ông, cần có thật nhiều hi vọng. Từ đâu
mà ông khai thác niềm hi vọng đó? Sau bao nhiêu năm bị chà đạp nhân
phẩm, ông có tin rằng người Việt sẽ còn đủ khả năng để đứng lên tranh
đấu cho tự do và kiến thiết một quốc gia mới cho mình?
- GS
ĐVH: Tôi không phải chỉ hy vọng. Tôi có 2 niềm tin vững chắc. Một là
dân tộc Việt không tầm thường, và không chịu bị khuất phục trước bất cứ
cường quyền nào, dù ngoại bang hay nội bang. Dân tộc chúng ta đã, đang
và sẽ thoát ra khỏi tình trạng bị đè nén để vươn dậy xây dựng một đời
sống xứng đáng với con người và với người Việt. Truyền thống văn hóa
Việt Nam gắn liền với các giá trị nhân bản sẵn có của con người, với
những giá trị cộng đồng dân tộc. Lịch sử chống ngoại bang đã chứng minh
điều đó. Hay kể cả cuộc đấu tranh hiện nay của dân ta chống lại lý
tưởng độc tài Mác-Lênin đã mang nhiều hình thái đa dạng, được tham gia
bởi nhiều thành phần dân chúng khác nhau, trong và ngoài nước, trong và
ngoài đảng cộng sản, đang chứng minh điều đó. Hai là chế độ cộng sản đi
ngược lại qui luật phát triển tự nhiên và khách quan của xã hội loài
ngưởi và không phù hợp với văn hóa và bản sắc dân tộc Việt. Do đó đã bị
đào thải khỏi tiến trình phát triển của nhân loại và đang bị đào thải
tại Việt Nam. Vấn đề chỉ còn là thời gian và phương thức bị đào thải,
thay thế và cái giá phải trả là bao mà thôi.
Từ hai niềm tin đó
tôi cho rằng không có chế độ tàn bạo và độc tài nào có thể triệt hạ
được nhân phẩm của con người, nếu chính mỗi người không tự triệt hạ
nhân phẩm của mình. Tần thủy Hoàng, Hitler, Staline, Mao Trạch Đông… đã
từng triệt hạ phẩm giá hàng triệu con người, thậm chí, tiêu diệt hàng
trăm triệu sinh linh. Nhưng cuối cùng rồi loài người vẫn còn đó, dân
tộc Nga, dân tộc Hán, dân tộc Do Thái, với một đời sống đầy nhân phẩm,
vẫn còn đó và lại đang mạnh tiến về phía trước. Con người là Người và
làm Người được chính vì mỗi con người luôn là Người ngay khi chưa có đủ
điều kiện, hay bị triệt tiêu mất các điều kiện, để làm Người. Mà vì
luôn là Người nên mỗi người cũng như mỗi tập thể người luôn tìm mọi
cách để làm Người. Không bạo lực, bạo quyền nào có thể ngăn cản hoặc
tiêu diệt được ý chí và giá trị sống đó, dù có thể làm chậm lại. Dân
tộc Việt chúng ta cũng như thế.
TVA: Ông đã ghi nhớ những hình
ảnh như thế nào của 20 năm tù tội? Những hình ảnh đó có dễ trở về với
ông hay không? Ông có cho rằng câu nói của Gandhi "Tôi tự do nhất là
khi nằm trong tù" là câu nói thách đố và gây tranh cãi hay là câu nói
nhằm miêu tả một thực tế có thể xảy ra?
- GS ĐVH: Nếu tôi nhớ
không lầm thì câu nói của Gandhi đại ý là: trong chế độ độc tài thì nhà
tù là nơi tự do nhất. Trong thời gian ở tù tôi cảm nhận được chân lý
này, nhất là khi tôi bị cô lập hoàn toàn trong 4 năm tại trại giam
Thanh Cẩm, Thanh Hóa, thậm chí không một tù nhân nào được phép tiếp xúc
với tôi. Ngoài xã hội là nhà tù lớn, phòng giam chỉ là một nhà tù nhỏ.
Ngoài nhà tù lớn tôi bị theo dõi, rình rập suốt ngày đêm, không hề được
tự do và không bao giờ cảm thấy yên tâm. Trong phòng giam một mình tôi
chỉ có mình tôi đối diện với chính tôi, không bị ai quấy nhiễu, rình
rập, đe dọa.
Và chính lúc này tôi nhận thức được rằng tự do
không phải chỉ là không bị đàn áp, bị đe doạ bởi người khác, bởi cường
lực. Tự do chân chính là tự chủ. Tự do chân chính là tự do với chính
mình, do chính mình, không do ai và vì ai. Đó chẳng phải là thứ tự do
tuyệt đối hay sao?
Ngoài xã hội tôi không phải chỉ bị đàn áp,
tôi cũng luôn bị động, sống, hoạt động, đi lại chỉ như là một phản ứng
có điều kiện, mà điều kiện sống dưới chế độ cộng sản ở Việt Nam sau năm
1975 lại hết sức nghèo nàn, hạn chế. Trong phòng giam, dù chật hẹp về
không gian vật thể, dù điều kiện sống vật chất bị hạn chế hơn rất
nhiều, nhưng cái "không gian tinh thần" lại gần như vô hạn, vì không có
ai, không có gì có thể giới hạn cái "không gian tinh thần" này của tôi.
Việc nhận ra, và sử dụng nó là hoàn toàn tùy tôi, tôi không bị
tùy thuộc vào điều gì, vào ai cả. Sự tự do tinh thần gần như là tuyệt
đối, có thể nói là vô giới hạn. Càng bị cô lập lâu tôi càng nhận ra
được cái vô giới hạn của sự tự do tinh thần này. Trước đây tôi chưa
thật sự nhận ra được sự hiện hữu vốn luôn sẵn có của sự tự do tinh thần
gần như tuyệt đối này có thể vì tôi luôn bị ám ảnh bởi sự mất tự do vật
thể, và luôn muốn tranh đòi lại sự tự do vật thể đó. Nay trong hoàn
cảnh bị giam giữ một mình, sự tranh đòi tự do vật thể này không còn nữa
nên sự tự do tinh thần tự nhiên nổi bật lên mạnh mẽ và rõ rệt.
Chính
khi người ta mất tự do vật thể mà tự do tinh thần trở nên tuyệt đối,
không ai, không gì có thể tước đoạt được. Theo tôi đây là đặc tính, là
sức mạnh đặc biệt của con người so với con vật - sức mạnh luôn làm thất
bại mọi bạo lực và bạo quyền muốn tiêu diệt nhân phẩm của một cá nhân
hay một dân tộc.
TVA: Dư luận đã được biết, rằng thân nhân ông
đã phải bằng mọi cách thuyết phục để Đoàn Viết Hoạt ra khỏi tù cùng với
điều kiện phải rời bỏ tổ quốc. Vậy nên ông mới đúng là đối tượng cho
câu hỏi: ông đánh giá như thế nào về hiện tượng những người có tư duy
dân chủ ở trong nước tình nguyện bỏ nước ra đi? Điều này có lợi, hay là
bất lợi cho một Việt Nam của tương lai?
- GS ĐVH: Như tôi đã
trình bầy nhiều lần từ khi ra hải ngoại, cộng đồng hải ngoại phải được
nhìn nhận không phải chỉ như là một cộng đồng tị nạn cộng sản, dù cộng
đồng này hình thành chính thức từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975 với làn
sóng di tản và vượt biên tìm tự do chưa tùng có trong lịch sử dân tộc.
Có một tính chất khác của cộng đồng người Việt trên toàn thế giới mà
chúng ta cũng cần phải lưu ý, nhất là vào những năm đầu tiên của thiên
niên kỷ mới. Đó là tính chất "quốc tế" của cộng đồng này.
Đây
là lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của dân tộc chúng ta có được
một cộng đồng Việt quốc tế -hơn ba triệu người Việt sống trên cả 5 châu
--Mỹ, Âu, Á, Phi và Úc châu, và tại những quốc gia tiến bộ nhất trên
hành tinh. Hơn ba triệu người này, tuy là nhỏ so với nhân số toàn thế
giới, và ngay cả với nhiều cộng đồng sắc tộc khác, nhưng lại khá đồng
nhất về tính chất và tương đồng về sinh hoạt. Cộng đồng này, dù nhiều
khác biệt, hình thành từ một nguyên nhân và với một động cơ giống nhau
–tị nạn cộng sản, dù với lý do chính trị trực tiếp (cộng đồng xuất phát
từ miền Nam) hay với lý do kinh tế (như cộng đồng ở Đông Âu, mà theo
tôi, cũng mang tính chất chính trị một cách gián tiếp). Không ai bảo ai
mà ở đâu cũng có các sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tôn giáo, các hội
đoàn ái hữu, chuyên nghiệp, bất vụ lợi; cũng có những cuộc vận động vì
nhân quyền, tự do, dân chủ cho Việt Nam. Chưa kể đến những sinh hoạt
hết sức phong phú, đa dạng và cũng hoàn toàn tự nguyện trong lãnh vực
văn học, nghệ thuật, âm nhạc, báo chí, truyền thanh, truyền hình. Những
tổ chức và sinh hoạt mang tính dân sự thuần túy và hoàn toàn tự nguyện
này không những gắn bó người Việt khắp thế giới lại với nhau, mà còn
giúp phát huy một cộng đồng Việt tộc (với những nét văn hóa Việt tính
đặc thù) trong một cộng đồng nhân loại đa văn hóa, đa chủng tộc đang
hình thành.
Toàn nhân loại đang bước vào thời đại toàn cầu,
với sự ra đời của một cộng đồng nhân loại trong đó tất cả các dân tộc
đều có quyền và cơ hội để chung hưởng văn minh tiến bộ đồng thời chia
sẻ trách nhiệm giải quyết những vấn đề toàn cầu. Trong bối cảnh đó, một
cộng đồng Việt tộc quốc tế cũng đang ra đời. Cộng đồng này đang và sẽ
trở thành một cửa ngõ ra thế giới trong thời kỳ phát triển quốc tế của
dân tộc Việt. Nhưng để đóng đúng được vai trò quốc tế này, cộng đồng
Việt trên toàn thế giới, và tại mỗi quốc gia định cư, cần nhanh chóng
trưởng thành lên, nhận ra và khắc phục được những khuyết điểm, phát huy
được tính đặc thù trong nếp sống vật thể và tinh thần Việt, để vừa mở
đường tiến hóa cho dân tộc hội nhập thế giới, vừa trở thành một bộ phận
tích cực của cộng đồng bản xứ và quốc tế, góp phần làm phong phú thêm
nếp sống và văn hóa nhân loại.
Đây là một thách thức to lớn
cho tiền đồ dân tộc trong thời đại mới. Nó không chỉ đòi hỏi cảm tính
yêu nước, yêu dân tộc, mà rất nhiều tỉnh táo, sáng suốt và phân tích
khoa học. Đây là trách nhiệm chính của các thế hệ Việt hải ngoại thứ 2
trở đi, thế hệ Việt quốc tế. Và của những tầng lớp lãnh đạo Việt Nam
thời kỳ hậu cộng sản.
TVA: Trong quá trình vận động để ông được
thả thì từ Ba Lan cuộc vận động đó đã thật sự mạnh mẽ, nhất là PEN Club
của Ba Lan. Kinh nghiệm của những nhà hoạt động dân chủ Việt Nam tại Ba
Lan cũng là những chứng minh tốt đẹp về nền dân chủ Ba Lan. Trí thức Ba
Lan và những người từng đấu tranh cho tự do của Ba Lan coi công cuộc
đấu tranh của chúng ta là công cuộc đấu tranh của chính họ và coi đó là
nghĩa vụ rất hiển nhiên của mình, người Việt Nam thì không cảm thấy bị
lạc lõng giữa lòng cuộc sống Ba Lan. Từ đâu Việt Nam và Ba Lan có được
sự gần gũi như vậy, gần gũi hơn so với Việt Nam và các nước tây âu
khác?
- GS ĐVH : Theo tôi sự gần gũi giữa Việt Nam và Ba Lan
là điều dễ hiểu. Trước hết vì Ba Lan trước đây cũng là một nước cộng
sản nên người Ba Lan chia sẻ dễ dàng với những khổ nạn mà người dân
Việt Nam đang phải chịu ở trong nước, cũng như ngay ở Ba Lan hiện nay,
dưới sự chi phối của Toà Đại sứ cộng sản. Từ đó, họ cũng hiểu và có
thiện cảm với cuộc đấu tranh cho tự do của chúng ta dễ dàng hơn người
dân ở những nước Tây Âu. Tuy nhiên, tôi cho rằng những người dân chủ và
cộng đồng người Việt ở Ba Lan cũng như ở Tây Âu chưa khai dụng đúng mức
được môi trường thuận lợi này, một môi trường đầy những đồng cảm.
TVA:
Cộng sản đã sụp đổ tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, thất bại
ngay tại nơi sản sinh ra nó là nước Nga. Không ai còn mông lung là tại
Cu-ba cộng sản cũng sẽ kết liễu đời mình cùng một lúc với Fidel Castro.
Tại sao cộng sản còn bám dai đến thế ở Á châu?
- GS ĐVH: Đây
là một đề tài cần nhiều phân tích cặn kẽ. Vì giới hạn của một bài phỏng
vấn, tôi chỉ nêu ra một vài gợi ý. Trước hết, những nước còn chế độ
cộng sản, ngoại trừ Cuba, đều ở Á Châu. Điều này tự nó đã cho ta một
giải thích. Trung quốc và Việt Nam chưa hề trải qua giai đoạn phát
triển dưới chế độ dân chủ, trừ Đài Loan và miền Nam Việt Nam. Trung Hoa
lục địa được hưởng chế độ dân chủ trong một thời gian quá ngắn (CM Tân
Hợi 1911), còn Việt Nam Cộng Hòa thì phải đối phó với cuộc chiến tàn
khốc trước khi hoàn toàn sụp đổ.
Do đó, VN và TQ chưa từng
trải qua dân chủ thực sự, còn mang nặng não trạng (mentalité) phong
kiến, tất nhiên tiến trình giải thể cộng sản phải chậm hơn ở Đông Âu.
Theo tôi, Việt Nam (cũng như Trung quốc) phải trải qua 2 giai đoạn là
tư nhân hóa kinh tế (giải thể chế độ kinh tế quốc doanh và chỉ huy), và
dân sự hóa xã hội (người dân độc lập với nhà nước trong các hoạt động
xã hội (tôn giáo, văn hóa, giáo dục, truyền thông…) mới tạo được điều
kiện văn hóa-xã hội cần thiết và thuận lợi cho việc dân chủ hóa thể chế
chính trị. Đẩy nhanh hai giai đoạn này là đẩy nhanh tiến trình dân chủ
hóa Việt Nam.
Do đó, từ nhiều năm nay, tôi đã đề ra Lộ Trình Dân
Chủ Hóa Toàn Diện cho Việt Nam, trong đó việc dân chủ hóa chính quyền
phải đi sau 2 việc tư nhân hóa kinh tế và dân sự hóa xã hội (tức là tự
do hóa các sinh hoạt xã hội của người dân, như văn hóa, giáo dục,
truyền thông...). Tới nay, 2005, Việt Nam đã trải qua giai đoạn 1, đã
vào giai đoạn 2 và đang bắt đầu vào giai đoạn 3, là giai đoạn thay đổi
chính trị, giai đoạn cuối cùng trong tiến trình chuyển hóa Việt Nam từ
độc tài chậm tiến sang dân chủ tiến bộ.
Việt Nam đang có các
điều kiện thuận lợi để dân chủ hóa. Theo tôi hiện nay chúng ta cần tập
trung vào việc đẩy nhanh tiến trình tự do hóa xã hội để giúp tạo sức
mạnh độc lập cho người dân, đồng thời hỗ trợ cho việc công khai hóa,
độc lập hóa (tư nhân hóa) các hoạt động và tổ chức xã hội, nhất là
truyền thông. Thành quả của sự "lớn dậy của người dân" qua từng giai
đoạn như vậy chắc chắn sẽ nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi thể chế
độc tài đảng trị hiện nay, dân chủ hóa đất nước trên nền tảng hòa bình,
ổn định chân chính chứ không giả tạo như hiện nay. Tình hình thế giới,
khu vực và trong nước ngày càng thuận lợi cho việc đẩy nhanh tiến trình
này. Vấn đề là thành phần dân chủ chúng ta, hải ngoại và trong nước, có
khai dụng triệt để và hữu hiệu được thuận lợi này hay không.
TVA:
Ông viết, giảng dạy, tiếp xúc và nói chuyện rất nhiều kể từ khi ông ra
đi khỏi Việt Nam. Ông được coi là một trong những người đã có công
nhiều nhất để phục vụ cho nền tự do tương lai của Việt Nam. Nếu được
quay trở lại thời gian, ông muốn thay đổi điều gì trong đời mình? Nếu
hôm nay là năm 1975 và ông đồng thời có được hành trang của ông như
ngày hôm nay, ông sẽ vẫn ra khỏi Việt Nam?
- GS ĐVH: Trước hết
cần nhắc lại là tôi không bao giờ muốn ra khỏi Việt Nam. Tôi bị bắt
buộc phải rời Việt Nam như là một điều kiện để được tự do. Nếu được
quyền chọn lựa tôi luôn muốn sống ở Việt Nam để vận động cho dân chủ
ngay tại Việt Nam. Do đó, dù là 1975 hay ngay bây giờ lúc nào tôi cũng
muốn sống và làm việc ở Việt Nam. Một trong những điều chúng ta cần tập
trung đòi hỏi là quyền của mọi người Việt được tự do di chuyển và sinh
sống ở Việt Nam hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Quyền này đã được
quốc tế bảo đảm và người dân Việt Nam vẫn chưa được hưởng. Riêng ở Ba
Lan, cộng đồng người Việt hãy đòi chinh phủ Ba Lan cho họ được sinh
sống hợp pháp tại Ba Lan. Tôi tin rằng nhà nước Ba Lan sẽ bị trí thức
Ba Lan và những nhà tranh đấu dân chủ Ba Lan trước kia thuyết phục,
rằng đó là giải pháp thỏa đáng, vừa nhân đạo, vừa nhân bản.
TVA:
Ông có cho rằng VN sẽ có cơ hội lật đổ độc tài theo con đường của Ba
Lan hay không? Liệu việc nghiên cứu đường đi nước bước của Ba Lan và
các quốc gia Châu âu có hữu ích cho VN hay không?
- GS ĐVH: Chắc
chắn là rất hữu ích. Tiến trình dân chủ hóa và tự do hóa tại mỗi quốc
gia mỗi khác nhau nhưng chắc chắn tiến trình này ở Ba lan và Âu Châu
cho chúng ta nhiều kinh nghiệm, giúp chúng ta rút ngắn được tiến trình
dân chủ hoá VN, và tránh được những hậu quả do tiến trình này gây ra
sau khi đất nước có dân chủ. Như trường hợp đã và đang xẩy ra ở Nga, và
một số nước cựu cộng sản Đông Âu. Tuy nhiên, tôi cũng muốn lưu ý là
chúng ta nên theo dõi những cuộc nghiên cứu của giới học giả thế giới
về tiến trình "chuyển hóa" đã và đang xẩy ra tại những nước độc tài
thời kỳ "hậu Liên Xô", trong đó có Trung quốc. Tiến trình "chuyển hóa"
này rất khác với sự thay đổi sang dân chủ ở Đông Âu và Nga. Tìm hiểu
tiến trình chuyển hóa này sẽ giúp chúng ta định hướng, tìm được sách
lược và phương thức vận động dân chủ hóa Việt Nam một cách hiệu quả hơn
và nhanh hơn.
(6.12.2005)