'Tuệ Sỹ Đạo Sư’ Và Các Phương Trời Viễn Mộng
Theo Việt Báo - Nguyên Giác Phan Tấn Hải - 07-04-2006
Bìa sách “Tuệ Sỹ Đạo Sư.”
Đó là một cuốn sách sẽ còn được nhớ tới nhiều thập niên sau. Trong đó,
nhiều bài văn, bài thơ vẫn sẽ còn được trích dẫn ngay cả nhiều thế kỷ
sau. Để ghi lại một thời hậu thống nhất đầy máu lửa kinh hòang của dân
tộc Việt Nam, bằng các dòng văn và dòng thơ của một thiền sư không chịu
khuất phục trứơc cường quyền - bằng chính tâm hồn cực kỳ thơ mộng của
Thượng Tọa Tuệ Sỹ, một thiên tài thi ca và học thuật của Phật Giáo Việt
Nam.
Tuyển
tập 'Tuệ Sỹ Đạo Sư' biên tập bởi Thựơng Tọa Nguyên Siêu, được in và
phát hành bởi Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang, sẽ ra mắt tại hải
ngọai vào tuần này, những ngày giữa tháng 4-2006, giữa lúc vị thiền sư
thi sĩ Tuệ Sỹ vẫn còn bị quản thúc tại quê nhà.
Thực sự, Thầy Tuệ Sỹ không phải là một thi sĩ theo nghĩa đời thường. Hãy đọc lại bài thơ "Cúng Dường" của Thầy:
Phụng thử ngục tù phạn
Cúng dường Tối Thắng Tôn
Thế gian trường huyết hận
Bỉnh bát lệ vô ngôn.
Đây
thực sự không phải là thơ. Các dòng chữ trên đã vượt qua những gì ngôn
ngữ loài người có thể chuyên chở. Đó chính là hoa từ cõi trời thả mưa
vào ngục tối, để một nhà sư nhặt chữ lên và cúng dường Phật. Đó không
phải là chữ, mà chính là nứơc mắt, là nỗi đau đớn của cơ thể khi cầm
chén cơm lên và là nỗi thương xót khi thấy thế gian đầy máu hận, và rồi
vị sư này thốt lời cảm ân đức của Đấng Thế Tôn… Bài thơ Cúng Dường chữ
Hán này mang sức mạnh bất tử của các dòng kệ trong những nghi thức tụng
kinh.
Bản dịch:
Đây bát cơm tù con kính dâng
Cúng dường Đức Phật đấng Tôn Thân
Thế gian chìm đắm trong máu lửa
Lệ nhỏ không lời, lòng xót thương.
(Tuệ Sỹ Đạo Sư, trang 91)
Thầy
Tuệ Sỹ vừa tròn sinh nhật thứ 63 trong những ngày đầu tháng 4-2006.
Nhưng những gì mà đời người hữu hạn, Thầy đã cầm bút lên và đã trở
thành vô hạn. Những phương trời mộng vô hạn đó, không một song sắt nhà
tù nào giữ nổi. Các cõi thơ vô hạn đó, không một kềm tỏa nào làm thế
tục hóa nổi.
Điều nổi bật trong 346 trang của "Tuệ Sỹ Đạo Sư"
hiển lộ rõ là không có một chút giận dữ, căm thù nào vương vấn trong
ngòi bút của Thầy Tuệ Sỹ. Ngay cả khi dặn dò cho thế hệ đi sau, lời của
Thầy Tuệ Sỹ cũng vượt hẳn những tranh chấp thế gian, dù rằng Thầy vẫn
còn đang trong vòng lao lý thế gian, để gìn giữ một hướng đi xuất thế
gian. Bài "Thư Gửi Các Tăng Sinh Thừa Thiên, Huế" (trang 154) viết ngày
28-10-2003, Thầy Tuệ Sỹ gửi từ Quảng Hương Già Lam, Sài Gòn, đã viết:
"Các con thương quý,
…
Thế
hệ của thầy, những thanh niên trang lứa được nuôi dưỡng để dựa vào
chiến trường của cuộc chiến tranh ý thức hệ, được giáo dục để biết hận
thù giai cấp. Nhưng may thay, giòng suối Từ vẫn âm thầm tuôn chảy, để
xoa dịu những đau thương mất mát; để hàn gắn những đổ vỡ điêu tàn của
dân tộc. Các con lớn lên trong thời đại thanh bình, nhưng các con lại
bị ném vào giữa một xã hội mất hướng. Quê hương và đạo pháp là những mỹ
từ thân thương nhưng đã trở thành sáo rỗng. Các bậc cao tăng thạc đức,
một thời đã đánh thức lương tâm nhân loại trước cuộc chiến hung tiền,
đã giữ vững con thuyền đạo pháp trong lòng dân tộc; nay chỉ còn lại
bóng mờ, và quên lãng.
Thế hệ các con được giáo dục để quên đi
quá khứ. Nhiều người trong các con không biết đến Giáo hội Phật giáo
Việt nam Thống nhất là gì; đã làm gì và cống hiến những gì cho sự
nghiệp văn hóa, giáo dục, hòa bình dân tộc, trong những giai đoạn hiểm
nghèo của lịch sử dân tộc và đạo pháp của đất nước. Một quá khứ chỉ mới
như ngày hôm qua mà di sản vẫn còn đó nhưng đã bị chối bỏ một cách vội
vàng….
Người xuất gia, khi cất bước ra đi, là hướng đến phương
trời cao rộng; tâm tính và hình hài không theo thế tục, không buông
mình chìu theo một giá trị hư dối của thế gian, không cúi đầu khuất
phục trước mọi cường quyền bạo lực. Một chút phù danh, một chút thế
lợi, một chút an nhàn tự tại; đấy chỉ là những giá trị nhỏ bé, tầm
thường và giả ngụy, mà ngay có người đời nhiều kẻ còn vất bỏ không tiếc
nuối để giữ tròn danh tiết. Chớ khoa trương bảo vệ Chánh pháp, mà thực
tế chỉ là ôm giữ chùa tháp làm chỗ ẩn núp cho Ma vương, là nơi tụ hội
của cặn bã xã hội. Chớ hô hào truyền pháp giảng kinh, thực chất là mượn
lời Phật để xu nịnh vua quan, cầu xin một chút ân huệ dư thừa của thế
tục, mua danh bán chức. Xưa kia, khi vua chúa bắt sư tăng cúi đầu nhận
tước lộc của triều đình để làm tôi tớ cho vương hầu, chư Tổ đã sẵn sàng
đặt đầu mình trước gươm bén, giữ vững khí tiết của người xuất gia, bước
theo dấu chân vô úy, vô cầu, của các bậc Thánh Để tử, được gói gọn
trong thanh quy: Sa môn bất kính vương giả.
Nhận nhịn đời
nhưng không để cho quyền lực đen tối của đời sai sử. Tùy thuận thế
gian, nhưng không tự đánh chìm trong dòng xoáy ô trược của thế gian.
Các con hãy tự rèn luyện cho mình một tín tâm bất hoại ; một đức tính
dũng mãnh vô úy ; nỗ lực tự huân tập trí tuệ bằng văn, tư, tu để nhìn
rõ sự tướng chân ngụy, để thấy và biết rõ mình đang ở đâu, đang đi về
đâu; không nhắm mắt phóng càn theo cỗ xe lộng lẫy bên ngoài nhưng rệu
rã bên trong, đang lao xuống dốc dài không định hướng.
Mỗi thế
hệ có vấn đề riêng của nó, do những biến thiên của xã hội chung quanh,
do những biến cố dao động mang tính thời đại. Thế hệ của thầy thừa
hưởng được nhiều từ Thầy Tổ, nhưng chưa hề báo đáp ân đức giáo dưỡng
cao dày trong muôn một. Chỉ mới tròn ba mươi tuổi, đã phải khép lại
cổng chùa, xách cuốc lên rừng, xuống biển, cũng mưu sinh lao nhọc như
mọi người. Rồi lại vào tù, ra khám, lênh đênh theo vận nước thăng trầm.
Sở học và sở tri cũng cùn mòn theo tuổi đời, năm tháng. Duy, chưa có
điều gì thất tiết để điếm nhục tông môn, uổng công Sư trưởng tài bồi.
Một chút niềm tin chưa hề thoái thất, chỉ mong cùng chia xẻ với thế hệ
kế thừa. Một thế hệ đang trưởng thành để khởi tô ngọn đèn Chánh pháp
giữa một đất nước thấm nhuần phong hóa…"
Bức thư trên ngay lập
tức đã mang tính bất tử, dù bị nhà nứơc CSVN ngăn cấm nhưng đã được lưu
giữ và phổ biến rộng rãi trong giới Tăng Ni Phật Tử. Không một cuốn
sách nào trong nứơc in lại lá thư gửi các tăng sinh trẻ đó, nhưng âm
vang của các dòng chữ đã in sâu vào tâm của bất kỳ Phật Tử nào một lần
được nghe qua. Đó là sức mạnh của chân lý, của Phật Pháp. Thầy Tuệ Sỹ,
người một thời mang án tử hình, đã và đang khắc chữ vào dòng lịch sử
dân tộc và Phật Giáo bằng chính cuộc đời Thầy. Từng việc làm, từng lời
nói, từng dòng chữ của Thầy đều không hề xa lìa hạnh Bồ Tát.
Thiên
tài thi sĩ triết gia Phạm Công Thiện năm 1994 đã viết về Thầy Tuệ Sỹ
trong bài nhan đề "Kỷ Niệm 50 Năm Sinh Nhật Tuệ Sỹ -- Buổi Chiều Nắng
Hạ Đọc Thơ Tuệ Sỹ," trích như sau:
"… vừa là thi sĩ vừa là thiền
sư đạo sĩ vừa là nhà hành động nhập thế với tinh thần "vô công dụng
hạnh" của bậc Bồ Tát, hành động tích cực mãnh liệt toàn triệt mà vẫn
giữ cảm thức viễn ly và viễn mộng. Vì không tham vọng ích kỷ mù quáng
cho nên mới nuôi dưỡng cảm thức viễn ly, vì không bị kẹt dính vào tham,
sân và si của thế tục cho nên mới hàm dưỡng viễn mộng."
(Tuệ Sỹ Đạo Sư, trang 120)
Thầy
Thích Nguyên Siêu trong bài viết "Thượng Tọa Tuệ Sỹ, Trí Siêu Những
Thiên Tài Lỗi Lạc" - bài này lưu ở web www.quangduc.com -- từ nhiều năm
trứơc đã ghi nhận về Thầy Tuệ Sỹ như sau:
"…Là vị giáo sư gương
mẫu, nồng cốt của Đại học Vạn Hạnh, mà cứ mỗi lần gặp nhau thăm hỏi,
những người đồng nghiệp đều gọi Thầy là "chú Sỹ" vì Thầy còn quá trẻ.
Thầy
phụ trách dạy tại Đại học Vạn Hạnh chương trình Triết học Tây phương,
văn học Đông Phương, luận đề Phật giáo: triết học Tánh Không, Trung
Quán luận, A Tỳ Đạt Ma, đại cương Thiền Quán.... Mặc dầu ở vào lứa tuổi
đôi mươi, nhưng Thầy đã đóng góp một phần không nhỏ trong nền văn hóa,
giáo dục của nước nhà và Thầy đã xuất sắc hơn trong lãnh vực ngôn ngữ:
sinh ngữ và cổ ngữ. Thầy tự học, rèn luyện lấy chính mình vì vậy mọi
người ai cũng kính mến, thán phục và có nhiều bạn vong niên dưới mái
trường Đại học Vạn Hạnh…
… Vì tất cả các tác phẩm trước tác,
dịch thuật của chư Tổ, như là sách gối đầu giường của Thầy, còn Tam
Tạng kinh điển, bộ Đại Tạng, chẳng bộ nào mà Thầy không dở đọc. Người
viết đã học với Thầy, sau đó cùng Thầy làm việc dịch thuật Trung A Hàm,
Kinh Pháp Cú, tuyển tập Nikàya A Hàm.... qua những năm 75-77 tại Viện
Cao Đẳng Hải Đức Nha Trang và 80-84 tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam
cũng là nơi thư viện Vạn Hạnh (Võ Di Nguy, Phú Nhuận) mới thấy được khả
năng, trí nhớ trác tuyệt của Thầy. Kinh, luật, luận, Tam Tạng giáo
điển, hầu như Thầy nằm lòng tự kiếp nào. Có lẽ trong lòng sinh tử vô
tận, đã có bao đời Thầy đã là Thiền sư, Pháp sư, Luận sư, cho nên mỗi
khi hỏi đến những pháp số, ý kinh, nghĩa luận trong Đại Tạng, Thầy đều
dở đúng số trang, số quyển, số dòng. Phải làm việc chung với Thầy mới
biết được tính cần mẫn, ý chí kiên quyết, tự lập để xây dựng cho chính
mình của Thầy.
Hầu như bất cứ thời điểm nào Thầy cũng học,
cũng nghiên cứu, cũng nghiền ngẫm, cũng đọc kinh điển, thi văn, kinh
thi, kinh dịch, triết lý, thi ca; cũng tự học âm nhạc: dương cầm, vĩ
cầm; cũng tự tập viết chữ Nho: chữ Thảo của Vương Hy Chi ; đọc thơ của
Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha.... Thầy sống thanh bạch, đơn sơ, đêm ngày
miệt mài, trầm mình trong thế giới tâm linh, tư tưởng, triết học, thi
ca, ngôn ngữ, nên không còn thời giờ nghĩ đến cách ăn mặc, bề ngoài như
kẻ khác. Do vậy, trên người của Thầy, luôn luôn với bộ áo nhật bình 4
vạt úa mầu với thời gian, dài tới dưới đầu gối, khi dạy học cũng như
lúc ra ngoài. Dáng người tuy nhỏ nhắn, nhưng khối óc thì vĩ đại, thông
minh thiên phú…
…Trước ngày 30/4/1975, quân đội Việt Nam Cộng
Hòa đã rút lui, bỏ ngõ trên các tuyến đường quốc lộ I, chẳng có ai kiểm
soát, thành phố Nha Trang bỏ trống, các phi đội, khu trục Không quân ở
phi trường Nha Trang được lệnh bay vào phi trường Phan Rang để từ đó
mang bom ra dội Cầu Xóm Bóng, cắt đứt đường tiến quân của Bắc Việt. Thì
lại một lần nữa Thầy và anh em học Tăng làm nghề cứu thương, xuống bệnh
viện toàn khoa Nha Trang, những bệnh nhân nào hơi khỏe mạnh, hay đi
đứng được thì đã di tản, còn lại những bệnh nhân nặng thì vẫn nằm đó,
vì lúc đó không còn bác sĩ, y tá trực nữa, mạnh ai nấy lo liệu, bệnh
viện, trường ốc, cư xá, chợ búa như nhà không chủ. Trong cảnh nước mất
nhà tan này, Thầy lại lăn xả vào vùng lửa đạn để cứu giúp đồng bào, an
ủi bệnh nhân, thương binh, trẻ mồ côi lạc mất gia đình cha mẹ, để bồi
đắp tình thương trong cuộc đời khổ lụy này.
Trước tình thế mới
đầy rối ren, khủng hoảng, chưa biết phải xử trí như thế nào, ngay tối
hôm đó, anh em học Tăng gặp Thầy tại thư viện, quây quần bên nhau, mong
tìm phương pháp giải quyết, có anh em đề nghị Thầy nên di tản, chúng ta
không thể ở lại viện được nữa. Khi ấy, anh em cứ ngỡ là Thầy sẽ đồng ý,
chấp nhận cho anh em tự do đi, hay là đi cùng đi tập thể, nào ngờ Thầy
nhìn tất cả anh em, rồi nói bằng giọng cương quyết: "Tôi vẫn còn đây,
thì anh em cũng phải ở đây, quê hương và đất nước này còn cần đến anh
em nhiều hơn nữa. Chúng ta không thể trốn chạy khi dân tộc, đạo pháp
đang gặp cảnh điêu linh". Qua lời nói khẳng khái đó, ai nấy đều nhìn
nhau mà bàng hoàng. Trong cái bàng hoàng thầm kính phục tấm lòng sắc
son, hy sinh đời mình để chia xẻ nỗi tang thương vận nước. Một con tim
nóng hổi đang ấp ủ, che chở hàng triệu con tim đang thiếu máu.
Đây
là thời điểm đánh dấu sự quyết định dứt khoát của Thầy là phải ở lại
trên mảnh đất quê hương này. Dân tộc, đạo pháp còn cần sự có mặt của
Thầy. Ngày nào dân tộc còn lầm than, quê hương còn khốn khổ thì ngày đó
còn có những đôi tay, khối óc như Thầy để cày xới, gieo rắc hạt mầm yêu
thương, để vơi đi sự thù hận, để thấy trên quê hương còn có những bông
hoa tươi thắm tô điểm, thêm hương, khởi sắc giữa cánh đồng hoang, lau
sậy gầy guộc. Thầy là hiện thân của đóa hoa tình thương nguyện ở lại để
thọ nhận thương đau cùng với cái thương đau của dân tộc, nguyện dấn
thân vào nơi khốn cùng, của cơn phong ba bão tố để đưa con thuyền đạo
pháp đến bến bờ bình yên. Sự ở lại của Thầy mang nhiều ý nghĩa của một
tâm hồn đạo sĩ, thi sĩ, văn nhân, và tự tình con dân nước Việt. Là mấu
chốt, là yếu điểm vàng son của chặng đường lịch sử dân tộc và đạo pháp.
Thầy ở lại vì còn hàng triệu người ở lại…"
Đó là hạnh nguyện của bậc Bồ Tát: bước vào địa ngục với chúng sinh…
Nhạc sỹ Hoàng Quốc Bảo trong bài viết "Đêm Sâu Tuệ Sỹ" sau khi về Việt Nam tham vấn Thầy Tuệ Sỹ nhiều năm trứơc đã viết về Thầy:
"…Hóa
cho nên cái Bi của bậc đại Từ rộng lớn trùm khắp thiên hạ, tùy thuận
vào cái đau chung của thiên hạ, vẫn đau đáu, mà vẫn vô chấp, vô trước.
Trí huệ sâu rộng như biển, nên dưới lớp sóng gió loạn cuồng kia, nước
vẫn thanh tịnh thể tính. Vẫn vô quái ngại, viễn ly điên đảo mộng tưởng.
Thật như thế nên nhiều học Tăng để sống còn, tránh né được sự dần sàng
của chế độ, đã chẳng thốt nên thành lời ví cái ông thầy tu gầy ốm yếu
nọ không biết sợ quỷ thần, là Kim cang bất hoại rồi... đấy sao." (Tuệ
Sỹ Đạo Sư, trang 269)
Bây giờ thì nhạc sỹ Hoàng Quốc Bảo đã rời
bỏ luôn miền quan ngoại, đầu năm 2006 đã từ Mỹ về Lâm Đồng xuất gia làm
một nhà sư trong dòng Thiền Trúc Lâm. Có phải cũng là "tùy thuận vào
cái đau chung của thiên hạ" chăng?
Ân đức của Thầy Tuệ Sỹ đã
tưới nhuần các tâm hồn nghệ sỹ như thế. Và sau này, nhạc sỹ Trần Quan
Long cũng đã phổ thơ của Thầy thành các đĩa CD Tuệ Ca, trong đó người
viết nhiều bài thơ cúng dường Thầy là nhà thơ Diệu Trân.
Riêng
bản thân ngừơi viết bài này, tuy chưa từng gặp mặt nhưng trong lòng lúc
nào cũng nhìn Thượng Tọa Tuệ Sỹ như một vị Thầy của mình từ nhiều kiếp
lâu xa. Một lần, được một cư sĩ từ Na Uy giới thiệu vào học lớp Duy
Thức Học do Thầy Tuệ Sỹ giảng cho giới cư sĩ trên PalTalk. Khóa học
không kéo dài vì hòan cảnh, nhưng các bài giảng còn lưu ở mạng
http://phatviet.com/ vẫn là một kỷ niệm lớn. Đó là một hình ảnh cảm
động: người xa từ hải ngọai, nơi tự do không chi kềm tỏa, ngồi bên máy
vi tính lắng nghe một vị sư từ giữa vòng vây công an giảng dạy Phật
Pháp. Một chữ cũng là Thầy, nửa chữ cũng là Thầy; huống gì là các bài
giảng Duy Thức cực kỳ vi diệu. Tuy người viết chưa đủ cơ duyên để học
đầy đủ về bộ Thành Duy Thức Luận, nhưng lòng cực kỳ vui mừng vì kiếp
này đã gieo được duyên lành cùng một vị Đạo Sư, một bậc Đại Thiện Tri
Thức -- Ngừơi không hề rời bỏ địa ngục, khi còn một chúng sinh nơi đó.
Nơi đây, xin chép lại vài dòng kinh để cúng dừơng Thầy Tuệ Sỹ và khắp pháp giới chúng sinh:
"Trí bất đắc hữu vô
Nhi hưng đại bi tâm…"
Và
trong cõi đó, có những vị đã bứơc vào cuộc đời ngũ trược ác thế không
phải vì nghiệp, mà vì tâm nguyện không lìa bỏ chúng sinh. Nơi đó, Thầy
Tuệ Sỹ là một trong các vị Bồ Tát như thế. Người như thế, việc như thế,
hạnh như thế.
Nguyên Giác Phan Tấn Hải
(LTS. Buổi sinh
hoạt "Nhạc trong thơ Tuệ Sỹ" sẽ tổ chức tại phòng sinh hoạt chùa Bảo
Quang, 713 N. Newhope St, Santa Ana, CA 92703. Điện thoại: (714)
554-1287. Vào 2 giờ chiều thứ bẩy 15-4-2006. Trong buổi này, tuyển tập
"Tuệ Sỹ Đạo Sư" sẽ được phát hành, cũng như các CD nhạc của nhạc sỹ
Trần Quan Long phổ nhạc từ thơ của Thiền-sư Tuệ Sỹ. Buổi sinh hoạt sẽ
được sự hiện diện của quý Chư Tôn Đức Tăng Ni trụ trì một số tự viện
tại Orange County, San Diego, San Jose v…v…
Trong chương trình
này, Thượng Tọa Thích Nguyên Siêu, trụ trì chùa Phật Đà sẽ nói chuyện
về con đường trung đạo mà Thiền-sư Tuệ Sỹ đã và đang đi; Thượng Tọa
Thích Quảng Thanh, trụ trì chùa Bảo Quang sẽ chia sẻ tâm tình về những
kỷ niệm từng có với Thiền-sư Tuệ Sỹ.
Chương trình cũng có sự
đóng góp của các thân hữu văn nghệ sỹ và các nhạc sỹ Nam Hưng, Trần
Quan Long, cùng phối hợp để trình bày những ca khúc viết từ thi phẩm
Giấc Mơ Trường Sơn của Thiền-sư Tuệ Sỹ, sẽ được trực tiếp truyền thanh
và truyền hình qua mạng lưới toàn cầu trên diễn đàn Paltalk, Room "Thơ
nhạc Thích Tuệ Sỹ." Điều hợp chương trình là 2 MC Diệu Trân và Bảo
Long.)
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: