Em thương anh như thương một ông trời bơ vơ...
(Bùi Giáng )
*
Auden: Gì nữa đây?
Ký
giả: Tôi tự hỏi, nhà thơ số một hiện đang còn sống được coi là người
bảo vệ sự vẹn toàn tiếng Anh của chúng ta, là ai theo ông?
Auden: Tại sao (không phải là) tôi, lẽ dĩ nhiên!
(Chuyện trò, Mùa Thu 1972).
*
Wilfrid
Sheed, trong một bài giới thiệu tuyển tập Nhà văn khi viết, Writers at
work của tạp chí The Paris Review, (Penguin Books, 4th series, 1979) đã
coi đây như một dịp "xin lỗi người đọc", về một định kiến của ông đối
với những bài phỏng vấn nhà văn/nhà thơ tạp chí này thường thực hiện.
Bởi vì có lần tác giả viết: những thông tin ở trong đó chẳng khác gì
chuyện ngồi lê đôi mách, làm xàm, bá láp về giới viết lách. Chuyện
những cây viết chì-số hai của Hemingway, hay Aldous Huxley mặc áo ngủ
loại nào, thì đâu có ăn nhậu gì tới văn chương? Nhưng rồi tác giả nhận
ra, trong những câu chuyện tầm phào như thế, chứa đựng "nguyên liệu số
một", materia prima, của văn chương.
Liệu chăng, chúng ta có thể vượt lên khỏi cõi đời thường, để hiểu được "một ông trời bơ vơ"?
Bởi vì Bùi Giáng, là cả một kho tàng những giai thoại, thường rất đỗi đáng yêu, nhiều khi rất ngậm ngùi...
Trong
một bài viết ở trong nước, "một thú vui tao nhã: thú đọc sách ở thành
phố Sài-gòn" (cho phép tôi được sửa, một tên gọi ở đây), tác giả Hồng
Minh-Hoàng Kim kể, khi tập thơ Lá (1988) của Văn Cao được xuất bản,
người yêu thơ náo nức chờ đợi, nhưng dù được nhà xuất bàn Tác Phẩm Mới
của Hội Nhà Văn in với số lượng lớn, vậy mà người viết không làm sao
không tìm thấy ở đâu cả. Ông/bà không giải thích lý do, nhưng than,
(ôi) nỗi thất vọng tràn trề.
Thế rồi một chiều Tr. phóng đến
tìm tôi, tay vung vẩy tập thơ. Đúng là tập Lá, bìa của họa sĩ Trần Ngọc
Quỳ đàng hoàng. Ở đâu? Văn Cao tặng tao, Tr. đáp, mặt vênh lên như tay
chơi chính hiệu. Không tin hả. Thì đây, ở đầu tập thơ vẫn còn nét chữ
Văn nguệch ngoạc, thứ chữ của một ông già bị nung đủ lửa. Mà lời đề
tặng rất tao nhã, rất thơ: Gửi anh, một chiếc lá đầu - Văn. Cuối cùng
Tr. mới thú nhận rằng nó nhặt ở... quầy sách cũ trên đường Điện Biên
Phủ, góc đầu Hai Bà Trưng!
Và đây là đoạn về ông trời bơ vơ giữa chợ sách:
Người
có nỗi chuân chuyên của người, sách có sự thăng trầm của sách. Tại khu
sách cũ Nơ Trang Long một chiều mưa, tôi gặp thi sĩ Bùi Giáng đang chăm
chú với một cuốn sách cũ. Cứ ngỡ bậc tiền bối như Bùi tiên sinh thì
không còn gì đáng cho ông đọc nữa, nhưng khi ông bỏ cuốn sách xuống đi
ra thì tôi lại thấy đó chính là cuốn Tư tưởng hiện đại của... ông. Giở
lam nham thấy nhiều trang còn nguyên vết mực tươi, chữ viết ngoằn
ngoèo. Thì ra ông tìm đến quầy sách cũ để tiếp tục sửa lại những điều
chưa vừa ý trong cuốn sách của mình!
Cá nhân người viết không
tin, chuyện "tìm, để" nhưng cảnh tượng ông trời bơ vơ thưởng thức một
buổi chiều mưa như thế, bằng những nét chữ còn tươi nét mực như vậy,
chắc chắn là có thực. Tôi bỗng liên tưởng tới đoạn Zhivago về già, đi
làm công cho một gia đình, gặp ông chủ nhỏ đang cắm cúi ghi chú lia lịa
trên những trang sách, giơ tay vẫy vẫy ra ý xua đuổi, đừng làm rộn...
nhân lúc vắng người, Zhivago tò mò lén coi: hóa ra là tác phẩm của
mình! Hai hình ảnh, về cùng nhà thơ, một mơ tưởng một cuốn sách đẹp
thật đẹp, cùng với nó là trách nhiệm của một người viết, và một (hình
như) hài lòng vì thấy tác phẩm sống dai hơn mình...
Trong bài
viết Bùi Giáng và nỗi lòng Tô Vũ (Thế Kỷ 21, Tháng 11, 1998), Phạm Xuân
Đài nhớ lại, kỷ niệm lần đầu ông đọc Bùi Giáng, "vào thập niên 50 trên
tờ Phổ Thông do ông Vũ Quốc Thúc chủ trương chủ trương, xuất bản tại
Hà-nội trước cuộc di cư năm 1954. [Đây cũng là một chi tiết thật hiếm
quí; đa số độc giả, theo tôi, chỉ biết ông lần đầu, qua tập Mưa Nguồn
]. Tuổi học sinh đọc là tôi mê bài ấy ngay, nỗi mê gần giống như khi
đọc Những Vì Sao, Les étoiles, của Alphonse Daudet, có lẽ với nhiều cảm
động hơn. Một bên là chàng chăn dê giữa rừng núi với tình yêu bầy dê
của mình, một bên là chàng chăn cừu với mối tình chớm nở với cô con gái
ông chủ. Tuổi thanh niên dễ "bắt" những rung động ấy lắm!...
Theo
Phạm Xuân Đài, bài thơ Nỗi Lòng Tô Vũ, kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn
dê ở núi đồi Trung Việt - Nam Ngãi Bình Phú gây thắc mắc cho nhiều
người. Ông đã từng gặp thi sĩ, nhưng quên nhờ giải thích: về thời gian,
không làm gì có chuyện Bùi Giáng đi chăn dê trong 15 năm, về không gian
thì cả vùng đồi núi Nam Ngãi Bình Phú là quá lớn đối với địa bàn chăn
dê thật của thi sĩ. Và ông đành tự giải thích, xin tóm tắt đại khái:
Thời gian và không gian, tuy có thật, nhưng được nới rộng ra. Mười lăm
năm, có lẽ là mượn từ Kiều. Không gian, gợi nên không gian Liên Khu Năm
thời kháng chiến chống Pháp. Thời gian ấy, không gian ấy sẽ hỗ trợ cho
không khí và nỗi lòng của chàng Tô Vũ mới, và làm cho mối tình của
chàng với bầy dê đượm một mầu sắc riêng...
Mượn mười lăm năm
luân lạc của Kiều để chỉ một thời gian ngắn hơn nhiều của đời mình, Bùi
Giáng "có lẽ đã tiên cảm nỗi bất trắc lớn lao của dân tộc trong vòng
vây không thoát được của chủ nghĩa CS... Nỗi lòng của Tô Vũ là nỗi lòng
của một kẻ đi đầy". Và Phạm Xuân Đài kết luận rõ ràng đoạn đời 15 năm
và đồi núi Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú là một lối nói thậm xưng để
thành một loại mật ngôn, nhằm chuyển tải một tâm sự. Ngay cả việc chăn
dê cũng chỉ là một cái cớ. Nội dung bài thơ chỉ thuần túy nói về việc
chăn dê và tình của tác giả với bầy dê, với hình ảnh ý tứ và ngôn từ
đẹp, nên thơ, độc đáo. Duy tựa đề và nhất là câu đề từ hơi lạ... nhưng
đó chính là một mấu chốt không thể giải của bài thơ Nỗi Lòng Tô Vũ.
Theo
tôi những nhận định của Phạm Xuân Đài về bài thơ Nỗi Lòng Tô Vũ: nội
dung bài thơ chỉ thuần túy... cho thấy rất nhiều, nếu không là tất cả
về nhà thơ, và điều này được khẳng định qua tập Mưa Nguồn, qua những
tác phẩm dịch thuật, qua cách ăn ngủ dầm dề với lục bát, cho dòng thơ
này làm bạn với chuồn chuồn châu chấu, mẫu thân, người đẹp... Mượn hình
ảnh rất đáng yêu, rất ngạo mạn, rất ngổ ngáo, rất "ngồ ngộ" của thi sĩ
Anh, Auden, tôi nghĩ, Bùi Giáng cũng muốn trả lời như vậy, khi được hỏi
ông muốn gì khi ăn ngủ đi đứng với thơ: ông muốn bảo vệ sự vẹn toàn của
tiếng Việt, thoát ra khỏi mọi quyền lực nhằm lạm dụng nó, trước khi nó
bị thương tổn nặng nề.
Hãy lấy một thí dụ, bây giờ những người tuổi trẻ ở trong nước, hỏi nhau trước khi đi thăm "em út": Mày có "đạn" không?
Ngay
cả những tiếng nói thật bình thường, những danh từ xưng hô như Bác,
Cháu, Anh Hai, Anh Ba.... nhiều khi người được gọi nghe thấy gai trên
mấy đầu ngón tay...
Thời gian, không gian, và một chàng Tô Vũ
chăn dê ở đây, là một vùng đất đã mất (lost domain), nơi tiếng Việt,
chàng Tô ẩn náu cùng với bầy dê, trước Kinh Hoàng Lớn sẽ tới.
Lost
domain, Vùng đất đã mất, là một trong những ẩn dụ lớn của văn chương.
Một huyền thoại của đời sống: Vườn Địa Đàng, Tuổi Thơ, Nàng Công Chúa
Xa Vời, hay dùng ngôn ngữ phân tâm học: người mẹ được thánh hóa, lý
tưởng hoá của tuổi thơ (chúng ta gặp mẫu thân Kim Cương ở đây).
Thi sĩ như một ông vua, ông trời, như một kẻ sẽ chẳng bao giờ kinh qua địa ngục, sẽ chẳng bao giờ là nạn nhân...
Anh
ta chẳng khác gì nhân vật thần thoại Gryphon [Nhân vật mình, chân sư
tử. đầu cánh, tai chim ưng, tượng trưng cho sức mạnh, nhanh nhện, và
cái nhìn sắc bén.được miêu tả trong Lò Luyện Ngục, Canto XXXI]. Không
ngừng là chính mình, anh ta biến thành cái bóng của chính anh ta; Paz
viết về thi sĩ. Về kinh nghiệm thi ca: chỉ là mặc khải phận người. [Thi
ca và Lịch sử , trong The Bow and the Lyre].
Với Bùi Giáng, một
phận người thật yêu thương, đôi khi thật ngậm ngùi. Và hình ảnh nhà thơ
nhập vào, là ca dao, Truyện Kiều, lục bát, trên tất cả, là tiếng Việt
với tất cả những thăng trầm của nó.
Nói về khùng điên, phải có tài của một thi sĩ.
[Bản dịch tiếng Anh: To speak of madness one must have the talent of a poet].
Michel Foucault
Xin vĩnh biệt nhà thơ.
NQT (tanvien.net)