(Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền)
(Tiếp theo)
Ngoài Quyền Dân Tộc Tự Quyết, Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng 26 Nhân Quyền Cơ Bản chia thành 4 loại như sau:
- Những quyền dân sự cho bản thân con người. (hay Quyền Tự Do Nhân Thân)
- Những quyền dân sự của con người trong đời sống xã hội. (hay Quyền An Cư)
- Những quyền kinh tế xã hội và văn hóa. (hay Quyền Lạc Nghiệp)
- Những quyền tự do tinh thần và tự do chính trị. (hay Quyền Tự Do Dân Chủ)
Tự do nhân thân thuộc về thân. Tự do tinh thần và tự do chính trị thuộc về tâm.
Cùng với những quyền an cư và lạc nghiệp, mục tiêu tối hậu của nhân quyền là tạo điều kiện cho con người được thân tâm an lạc.
QUYỀN TỰ DO NHÂN THÂN
Ðể
kết nối 8 Quyền Tự Do Nhân Thân chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng:
Con người có nhân quyền từ khi mới sinh. Cha mẹ sinh ra ta và cho ta
Quyền Sống. Tòa Án Hình Sự Quốc Tế trừng phạt những tội chống nhân loại
như thủ tiêu cá nhân và tàn sát tập thể.
Muốn
sống cho ra sống phải có tự do thân thể và an ninh thân thể. Có tự do
thân thể thì Không Bị Nô Lệ hay Nô Dịch (như nô lệ tình dục). Có an
ninh thân thể thì Không Bị Tra Tấn Hành Hạ. Có an ninh thân thể thì
Không Bị Giam Giữ Ðộc Ðoán.
Nếu
bị bắt giam và bị truy tố ra tòa thì Ðược Xét Xử Công Bằng. Nếu sự xét
xử không công bằng và bị tuyên phạt oan ức thì Ðược Tòa Án Bảo Vệ bằng
cách buộc nhà nước phải bồi thường thiệt hại. Tòa Án bảo vệ con người
căn cứ vào luật pháp. Luật Pháp cũng Bảo Vệ Con Người. Luật Pháp không
công nhận các tội giả tạo như “tuyên truyền chống nhà nước” hay “lợi
dụng quyền tự do dân chủ.”
Luật
pháp bảo vệ con người một cách đồng đều không phân biệt kỳ thị. Mọi
người đều có tư cách pháp nhân để được Quyền Bình Ðẳng Trước Pháp Luật.
Ðó là 8 quyền dân sự cho bản thân con người mệnh danh là Quyền Tự Do Nhân Thân.
QUYỀN AN CƯ
Ðể kết nối 6 Quyền An Cư chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng:
Quyền An Cư trước hết là quyền tự do cư trú và đi lại. Chính sách quản chế hành chánh phải bị bãi bỏ.
Muốn có một đời sống an cư trong xã hội, đời tư và danh dự của con người phải được tôn trọng. Ðó là quyền riêng tư.
Quyền riêng tư áp dụng cho bản thân và gia đình vì con người có quyền kết hôn và lập gia đình.
Gia
đình là một đơn vị của xã hội. Con người sống trong quốc gia xã hội và
được quốc gia ban cho quyền quốc tịch để trở thành công dân.
Nếu bị quốc gia đàn áp sống không nổi, con người có quyền rời bỏ quốc gia để đi tỵ nạn tại các quốc gia khác.
Muốn bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống an lạc, con người phải có quyền tư hữu.
Ðó là 6 quyền dân sự của con người trong đời sống xã hội mệnh danh là Quyền An Cư.
QUYỀN LẠC NGHIỆP
Ðể kết nối 8 Quyền Lạc Nghiệp là những quyền kinh tế xã hội và văn hóa, chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng:
1. Muốn lạc nghiệp phải có cơ hội hành nghề và được quyền làm việc.
2.
Khi làm việc phải được trả lương tương xứng và công bằng. Ðể có bình
đẳng giao ước phải công nhận cho công nhân quyền tự do nghiệp đoàn và
quyền đình công.
3. Làm việc để có mức sống khả quan cho bản thân và gia đình.
4. Nếu không thể làm việc được, không thể tự lực mưu sinh được, thì được quyền an sinh xã hội.
Quyền
an sinh xã hội còn áp dụng cho các sản phụ, hài nhi và thiếu nhi trong
chính sách bảo trợ gia đình. Các gia đình có con nhỏ và có lợi tức yếu
kém được hưởng trợ cấp tài chánh và trợ cấp y tế.
Quyền y tế miễn phí được phổ cập cho tất cả mọi người trong các nước dân chủ xã hội Bắc Âu.
Giáo
dục tiểu học phải được cưỡng bách và miễn phí. Giáo dục trung học và
đại học cũng phải tiến dần đến miễn phí. Có giáo dục mới có văn hóa. Về
mặt kinh tế, tác quyền của văn nghệ sĩ và các sáng chế phát minh của
nhà khoa học phải được quốc gia bảo vệ. Về mặt tinh thần, tự do sáng
tác của văn nghệ sĩ và tự do nghiên cứu của nhà khoa học phải được quốc
gia tôn trọng.
Từ đó chúng ta bước sang những Quyền Tự Do Tinh Thần và Tự Do Chính Trị mệnh danh là Quyền Tự Do Dân Chủ.
QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ
Trước hết là những quyền tự do tinh thần như tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo. (quyền thứ nhất)
Kế tiếp là những quyền tự do chính trị như tự do tư tưởng và tự do phát biểu, tự do ngôn luận và báo chí. (quyền thứ hai)
Có
tư tưởng, có tin tức, ý kiến, phải có cơ hội trao đổi tư tưởng, trao
đổi tin tức, ý kiến bằng tự do hội họp, tự do lập hội và tự do lập
đảng. (quyền thứ ba)
Các
cá nhân và chính đảng có những chủ trương đường lối ích quốc lợi dân
phải có cơ hội thực thi chủ trương này bằng quyền tham gia chính quyền
và tự do tuyển cử (quyền thứ tư). Chế độ độc tài toàn trị phải bị bãi
bỏ.
Phụ
Ðính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền nhấn mạnh về nghĩa vụ của mọi người
phải “bảo vệ dân chủ, đề xướng và phát huy các xã hội dân chủ, các định
chế dân chủ và các thủ tục sinh hoạt dân chủ.”
Quyền
Tham Gia Chính Quyền (quyền thứ 26) kết nối với Quyền Dân Tộc Tự Quyết
để hoàn thành sợi dây chuyền xuyên suốt. Ðây là sợi dây chuyền kết bằng
26 viên ngọc trai chúng ta dành riêng để tặng đồng bào trong nước.
Về
mặt thực thi, trong 60 năm, chính quyền Cộng Sản đã thường xuyên và thô
bạo vi phạm tất cả 26 nhân quyền và những quyền tự do căn bản của con
người.
VI PHẠM QUYỀN TỰ DO NHÂN THÂN
1) Vi phạm quyền sống của con người bằng cách thủ tiêu cá nhân và tàn sát tập thể.
Thủ
tiêu những người quốc gia yêu nước như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm trong
Nhóm Tân Tả Phái; Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu trong các Nhóm Lập Hiến;
Ðức Huỳnh Phú Sổ (Hòa Hảo); Trương Tử Anh (Ðại Việt); Lý Ðông A (Duy
Dân); Khái Hưng (Quốc Dân Ðảng), v.v...
Tàn
sát tập thể vì lý do tôn giáo như sát hại các tín đồ Cao Ðài và Hòa Hảo
trong Chiến Tranh Ðông Dương; vì lý do đảng phái như sát hại các cán
binh Ðồng Minh Hội, Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, v.v... từ thập
niên 1940; vì lý do giai cấp như sát hại 200 ngàn trí thức và nông dân
tiểu tư sản trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất đầu thập niên 1950; vì
lý do chính kiến như sát hại 5 ngàn người quốc gia tại Huế trong dịp
Tết Mậu Thân (1968).
2)
Vi phạm quyền tự do thân thể như dung túng việc mua bán các phụ nữ và
thiếu nhi Việt Nam để làm nô lệ tình dục và hộ lý tập thể tại một số
quốc gia Ðông Nam Á.
3)
Vi phạm quyền an ninh thân thể bằng cách hành hạ tra tấn các bị can và
tù nhân, giam giữ độc đoán các tù nhân lương tâm như Phạm Hồng Sơn,
Nguyễn Vũ Bình, v.v... Ngoài ra Ðảng Cộng Sản còn giam giữ độc đoán
hàng trăm ngàn quân cán chính và trí thức văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa
trong các trại lao cải, bắt làm nô dịch, hành hạ thân xác, làm mất nhân
phẩm và làm phương hại đến khả năng thể chất và tinh thần của tù cải
tạo.
4)
Vi phạm quyền được xét xử công bằng do các thẩm phán không độc lập,
không vô tư, không am tường pháp luật và không tôn trọng quyền biện hộ
của bị can.
5)
Vi phạm quyền được tòa án và luật pháp bảo vệ. Thay vì để ban phát công
lý cho người dân và bảo vệ con người về sinh mạng, tự do, danh dự và
tài sản, tòa án luật pháp đã biến thành công cụ để đàn áp đối lập và
củng cố chế độ độc tài toàn trị.
6)
Vi phạm quyền bình đẳng trước pháp luật bằng kỳ thị tôn giáo, kỳ thị
giai cấp và phân biệt đối xử đối với các sắc dân thiểu số và các thành
phần xã hội có chính kiến khác biệt với đường lối chính sách của nhà
cầm quyền.
VI PHẠM QUYỀN AN CƯ
Hiện nay nhà cầm quyền Hà Nội đã vi phạm nghiêm trọng những quyền an cư của người dân như:
1)
Quyền tự do cư trú và đi lại bằng cách quản thúc tại gia các nhà tu
hành như Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Linh
Mục Nguyễn Văn Lý, Ðạo Trưởng Lê Quang Liêm, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang,
v.v... và các nhà đối kháng như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Ðan Quế, Trần
Khuê, Phạm Quế Dương, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, v. v...
2)
Họ không tôn trọng danh dự của người dân. Họ vận dụng báo chí và các
đài truyền thông để phỉ báng và nhục mạ các phần tử đối kháng mà không
cho trả lời hay đối thoại. Ngoài ra họ còn vi phạm thô bạo quyền riêng
tư bằng cách xâm phạm đời tư, lục soát nhà cửa, duyệt xét thư tín, nghe
lén điện thoại và tổ chức mạng lưới mật báo viên để theo dõi và trấn áp
tinh thần người dân.
3)
Do Nghị Ðịnh 31/CP năm 1997 họ đã ban hành Quy Chế Quản Chế Hành Chánh
để bắt giam phòng ngừa các phần tử đối kháng, cấm không được di chuyển,
không được hành nghề, không được tiếp xúc với quần chúng, không được
trả lời phỏng vấn, không được gia nhập hội đoàn và không được tham gia
chính quyền.
Sự
quản chế hành chánh đã vi phạm quyền của người dân được suy đoán là vô
tội, quyền không bị giam giữ độc đoán, quyền được tòa án xét xử công
bằng, quyền được luật pháp bảo vệ, quyền tự do cư trú và đi lại, quyền
riêng tư, quyền làm việc, quyền tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do
phát biểu, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do tuyển cử, và quyền tham
gia chính quyền.
4)
Hơn nữa Ðảng Cộng Sản đã viện dẫn chủ nghĩa quốc tế vô sản để phủ nhận
quyền tư hữu của người dân. Họ phát động đấu tranh giai cấp bằng cải
cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp
để tước đoạt tài sản của các giới tư sản thành thị và tiểu tư sản nông
thôn.
Bằng
sự tước đoạt tư hữu của người dân, phủ nhận kinh tế thị trường, cũng
như bằng dĩ công vi tư, tham nhũng và bất lực, phe lãnh đạo Cộng Sản đã
đưa dân tộc và đất nước đến lầm than đói khổ. Trong khi đó họ đã sang
đoạt tất cả tài sản quốc gia để làm giàu bất chánh và đã trở thành
những triệu phú và tỉ phú mỹ kim.
VI PHẠM QUYỀN LẠC NGHIỆP
Về
mặt kinh tế xã hội nhà cầm quyền Hà Nội đã tước đoạt quyền mưu cầu hạnh
phúc và không giữ lời cam kết đem lại cơm no áo ấm và công bằng xã hội
cho người dân. Họ đã áp dụng chính sách kinh tế quốc doanh để tập trung
và chiếm đoạt tất cả các tài sản quốc gia. Họ đã thất bại trong việc
đem lại cho người dân một mức sống khả quan, có công ăn việc làm, được
trả lương tương xứng và công bằng, được quyền an sinh xã hội, quyền bảo
trợ gia đình, v.v...
Việt
Nam ngày nay là một trong những nước nghèo đói nhất thế giới, kém cả
Congo. Lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam chỉ bằng 1/45 tại
Tân Gia Ba, 1/26 tại Ðài Loan, 1/25 tại Ðại Hàn, 1/8 tại Mã Lai, 1/5
tại Thái Lan, 1/2 tại Phi Luật Tân, 3/5 tại Nam Dương, và chỉ bằng 3/4
tại Congo. Theo Encyclopedia Britannica Book of The Year 2005, lợi tức
bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam năm 2003 là 480 mỹ kim so với 640
mỹ kim tại Congo.
Hơn
nữa những bất công và bất bình đẳng xã hội trầm trọng đã gây nên sự
chênh lệch giàu nghèo quá đáng khiến cho lợi tức thực sự của người dân
trung bình tại nông thôn chỉ bằng nửa con số lý thuyết 480 mỹ kim một
năm. Và Việt Nam ngày nay là một trong những nước nghèo đói nhất trên
thế giới, kém cả Congo và ngang Bắc Hàn (với 457 mỹ kim một năm).
Nhà
cầm quyền Hà Nội còn vi phạm quyền tự do nghiệp đoàn và chỉ thành lập
các công đoàn quốc doanh. Họ không cho phép công nhân hành sử quyền
đình công tại nhiều khu vực.
Ðặc
biệt họ đã vi phạm Công Ước Kinh Tế Xã Hội Văn Hóa Liên Hiệp Quốc mà họ
đã tham gia năm 1982. Theo Công Ước này nhà nước phải thành lập trong
vòng 2 năm một hệ thống giáo dục tiểu học cưỡng bách và miễn phí. Do
đó, kể từ năm 1984, nhà cầm quyền Hà Nội đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa
vụ tổ chức một nền giáo dục tiểu học cưỡng bách và miễn phí. “Tiên học
phí hậu học văn” là chính sách ngu dân gây nên nạn chậm tiến và lạc hậu
cho quốc gia dân tộc trong những thập kỷ và thế kỷ tới đây.
Nhà
cầm quyền Hà Nội còn vi phạm quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ. Họ
quan niệm những người làm văn học nghệ thuật chỉ là những “văn công”
phục vụ chính sách độc tài tư tưởng. Họ đã đàn áp và bắt giam các trí
thức văn nghệ sĩ trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chỉ vì có những bài viết
và ý nghĩ khác với chủ trương đường lối của Ðảng Cộng Sản.
(Còn tiếp)